|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2025/DS-ST Ngày 26-3-2025 “V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Phạm Lan Chi
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hồ Quốc Văn
Ông Trần Phi Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phượng Kiều là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Đào Thị Mỹ Linh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 199/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024, về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Kim T; Sinh năm: 1974 (Có mặt);
- Bị đơn: 1/ Bà Nguyễn Kim T1; Sinh năm: 1980 (Xin vắng mặt).
- 2/ Ông Nguyễn Văn L; Sinh năm: 1977 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau;
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 03/10/2024 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Kim T trình bày:
Vào ngày 12/02/2022 âm lịch, vợ chồng bà Nguyễn Kim T1 và ông Nguyễn Văn L có nhờ bà vay tiền. Do chỗ bà con nên bà T có vay dùm bà T1 và ông L 260.000.000 đồng. Đến ngày 27/02/2022 âm lịch vay thêm 100.000.000 đồng. Tổng hai lần vay là 360.000.000 đồng. Bà T1 và ông L cam kết đến ngày 27/3/2022 âm lịch sẽ trả đủ gốc và lãi, hai bên có làm giấy giao kèo và bà T1 ký tên nhưng bà T1 và ông L không thực hiện đúng thỏa thuận.
Nay bà T yêu cầu Tòa án buộc bà T1 và ông L trả cho bà 545.256.000 đồng gồm số tiền vốn 360.000.000 đồng và 185.256.000 đồng tiền lãi (tính từ ngày 27/02/2022 âm lịch đến ngày 27/8/2022 âm lịch bằng 1,66%/tháng x 35 tháng) và yêu cầu tiếp tục thanh toán theo lãi suất 1,66% cho đến khi kêt thúc vụ án.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự vào ngày 16/12/2024, bị đơn bà Nguyễn Kim T1 trình bày:
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà T thì bà T1 thừa nhận có nợ bà T số tiền 360.000.000 đồng. Bà và ông L có ký nhận tại bản cam kết ngày 26/5/2022. Sau khi làm bản cam kết trên thì bà T1 có trả cho bà T một lần bằng số tiền 95.000.000 đồng nên chỉ còn nợ lại 265.000.000 đồng. Nay trước yêu cầu của bà T thì bà T1 không đồng ý do bà đã đóng lãi nhiều hơn số tiền vốn bà còn nợ lại nên yêu cầu đối trừ, không có điều kiện trả nợ. Đồng thời bà T1 yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt bà cho đến khi kết thúc vụ án.
Đối với ông Nguyễn Văn L đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong vụ án nhưng ông L không có ý kiến và vắng mặt tại phiên tòa không lý do.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bảo lưu quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, yêu cầu Tòa án buộc bà T1 và ông L trả cho số tiền vốn 360.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 30/6/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 1,66%/tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đã tuân thủ đúng theo quy định.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Buộc bị đơn bà Nguyễn Kim T1 và ông Nguyễn Văn L có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà Trần Kim T tổng số tiền vốn và lãi 360.000.000 đồng + 197.200.000 đồng = 557.200.000 đồng.
Án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: bà Trần Kim T khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Kim T1 và ông Nguyễn Văn L thanh toán nợ vay. Đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản; bà T1 và ông L có nơi cư trú tại ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với bà T1 và ông L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong vụ án, được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng bà T1 có yêu cầu xét xử vắng mặt, còn ông L vắng mặt tại phiên toà không lý do, vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T1 và ông L theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Việc vay tiền giữa bà T với vợ chồng bà T1 và ông L là thực tế có xảy ra được bị đơn thừa nhận tại bản cam kết ngày 26/5/2022, biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 16/12/2024 đối với bà Nguyễn Kim T1, do bị đơn không trả nợ theo thỏa thuận nên bà T khởi kiện yêu cầu bà T1 và ông L thanh toán nợ vay.
[3] Đối với số tiền đã vay: Các đương sự thống nhất thừa nhận số tiền vốn bà T1 và ông L vay của bà T là 360.000.000 đồng. Bà T1 cho rằng quá trình thực hiện hợp đồng vay có trả cho bà T số tiền 95.000.000 đồng và đóng lãi nhiều lần nên yêu cầu đối trừ trực tiếp vào số tiền còn nợ. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà T không thừa nhận, bà T1 không chứng minh được thực tế có việc đã trả một phần nợ vốn cũng như việc có đóng lãi nhiều lần cho bà T. Vì vậy không có cở sở chấp nhận yêu cầu đối trừ của bà T1. Xét đây là nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nên cần buộc bà T1 và ông L cùng có nghĩa vụ thanh toán cho bà T số tiền vốn 360.000.000 đồng là phù hợp.
[4] Đối với lãi suất cho vay: Tại bản cam kết và trình bày của các bên thì việc cho vay có thỏa thuận lãi suất. Xét mức lãi suất bà T yêu cầu là phù hợp theo quy
định tại khoản 1 Điều 468 và thời gian tính lãi từ ngày 30/6/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm là có căn cứ nên được chấp nhận. Như vậy số tiền lãi sẽ được tính bằng 360.000.000 đồng x 20%/năm x 32 tháng 26 ngày = 197.200.000 đồng.
Tổng số tiền vốn và lãi 360.000.000 đồng + 197.200.000 đồng = 557.200.000 đồng. Buộc bà T1 và ông L cùng có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà T số tiền 557.200.000 đồng.
[5] Về án phí dân sự có giá ngạch: bà T không phải chịu án phí, số tiền tạm ứng án phí đã nộp được nhận lại, bà T1 và ông L phải chịu án phí trên số tiền bị buộc phải thanh toán cho nguyên đơn.
[6] Các vấn đề khác: Trường hợp bà T1 và ông L chậm trả số tiền trên thì phải chịu lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định.
[7] Xét đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Kim T về việc yêu cầu bà Nguyễn Kim T1 và ông Nguyễn Văn L thanh toán nợ vay.
- Về lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án: Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của bà T cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền thì hàng tháng các đương sự có nghĩa vụ còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự
- Về án phí dân sự có giá ngạch: Bà bà Nguyễn Kim T1 và ông Nguyễn Văn L phải chịu số tiền 26.288.000 đồng.
Buộc bà Nguyễn Kim T1 và ông Nguyễn Văn L có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà Trần Kim T tổng số tiền 557.200.000 đồng. Trong đó tiền vốn 360.000.000 đồng, tiền lãi tính từ ngày 30/6/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 26/3/2025 bằng số tiền 197.200.000 đồng.
Bà Trần Kim T không phải chịu án phí. Ngày 03/10/2024, bà T có dự nộp tạm ứng án phí số tiền 13.383.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0016463 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được nhận lại.
- Bà T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bà T1 và ông L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Phạm Lan Chi |
Bản án số 32/2025/DS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 32/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vay tiền
