Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/DS-ST

Ngày 24 - 6 - 2025

V/v tranh chấp: hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Thành Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Xuân Giới và bà Trần Thị Kim Nhung.

Thư ký phiên tòa: bà Vũ Tú Uyên, là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17 và 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 307/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2025/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 95/2025/QĐST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2 (tên viết tắt bằng tiếng Anh: V1); địa chỉ trụ sở: số A đường T, phường C, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: bà Hoàng Thị Thanh V, chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP C2 - Chi nhánh Q và ông Vũ Đức T, chức vụ: Phó Phòng Tổng hợp Ngân hàng TMCP C2 - Chi nhánh Q; địa chỉ: đường B tháng D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh là những người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền số: 605/UQ-CNQNH-TH ngày 29/08/2024 của Giám đốc Ngân hàng TMCP C2 - Chi nhánh Q); bà V, ông T có mặt khi xét xử; bà V vắng mặt khi tuyên án;

  1. Bị đơn: ông Phạm Văn C, sinh năm 1974; nơi thường trú: thôn C, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt lần thứ hai không có lý do;
  2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1996; nơi thường trú: thôn C, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt lần thứ hai không có lý do;
    2. Chị Nguyễn Hà Minh P, sinh năm 2000; nơi thường trú: tổ C, khu E, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, lời khai của nguyên đơn tại phiên tòa, quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng, văn bản giữa các đương sự cơ bản như sau:

Ngày 13/01/2022, ông Phạm Văn C ký kết Hợp đồng cho vay số 06/2022-HĐCV/NHCT30033 với Ngân hàng TMCP C2 - Chi nhánh Q (sau đây viết tắt là Ngân hàng) để vay số tiền 1.500.000.000 đồng. Trong đó có các nội dung cơ bản như sau: mục đích vay để thanh toán nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thôn C, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; thời hạn vay: 240 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân khoản nợ đầu tiên; lãi suất cho vay trong hạn, tại thời điểm cho vay ưu đãi là 9%/năm áp dụng lãi suất điều chỉnh, thay đổi 01 tháng/ lần vào ngày 22 hàng tháng, lãi suất các kỳ tiếp theo được điều chỉnh theo thông báo lãi suất của N tại thời điểm xác định lãi suất cho vay, tuân thủ theo quy định lãi suất của N1 tại từng thời kỳ điều chỉnh lãi suất; lãi suất quá hạn = 150% x lãi suất trong hạn (16,5%/năm); kỳ trả nợ gốc, lãi: vào ngày 25 hàng tháng cho đến khi trả hết nợ. Thực hiện Hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân số tiền 1.500.000.000 đồng cho ông Phạm Văn C theo Giấy nhận nợ số: 01 ngày 14/01/2022 do ông C ký.

Cùng ngày 13/01/2022, giữa Ngân hàng với ông Phạm Văn C ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 06/2022/HĐBĐ/NHCT30033 để bảo đảm cho khoản vay trên. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 30, tờ bản đồ số 41, diện tích 608,1m², tại thôn C, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số ĐD 215876 do Ủy ban nhân dân thị xã Q cấp ngày 21/12/2021 cho ông Phạm Văn C, được Văn phòng C3 tỉnh Quảng Ninh chứng nhận và được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 14/01/2022.

Ngày 29/3/2022, giữa Ngân hàng với anh Phạm Văn T1 (con đẻ của ông C) và chị Nguyễn Hà Minh P (con dâu của ông C; vợ anh T1) tiếp tục ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản số 45/2022/HĐBĐ/NHCT30033, theo đó anh T1 và chị P đồng ý thế chấp chiếc xe ô tô 07 chỗ ngồi nhãn hiệu Ford, màu đen theo Giấy đăng ký xe ô tô số 14025596 ngày 25/03/2022, biển kiểm soát số: 14A-648.29 mang tên anh Phạm Văn T1 để tiếp tục bảo đảm cho khoản vay trên của ông C. Giấy tờ gốc liên quan đến xe ô tô do Ngân hàng quản lý, còn xe ô tô, bản sao giấy tờ xe và văn bản xác nhận tài sản thế chấp xe do anh T1 quản lý, sử dụng.

Ngày 21/4/2023, do ông C trả được phần lớn số tiền vay (500.000.000 đồng) cho Ngân hàng, nên Ngân hàng đồng ý cho ông C rút tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất ra, để lại tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô nêu trên để bảo đảm cho số tiền vay còn lại. Giữa Ngân hàng với ông C ký kết Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng cho vay số: 06/2023/HĐCV/NHCT30033/SĐ01 và giữa Ngân hàng với anh T1, chị P ký kết Văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp số 62/2023/HĐBĐ/NHCT30033/SĐ01 được Văn phòng C3 chứng nhận có cùng nội dung: thay thế tài sản thế chấp quyền sử dụng đất bằng chiếc xe ô tô nêu trên.

Từ khi nhận được tiền vay (tháng 1/2022) đến hết tháng 1/2024, ông C đã trả tiền gốc và tiền lãi đến hạn đầy đủ cho Ngân hàng. Kể từ ngày 25/02/2024 là đến kỳ hạn thanh toán cho đến nay, ông C đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc/lãi cho Ngân hàng, do đó toàn bộ dư nợ vay của ông C đã chuyển sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã có nhiều văn bản gửi cho ông C đề nghị thanh toán nợ và gửi cho anh T1, chị P đưa chiếc xe ô tô

3

cho Ngân hàng xử lý tài sản bảo đảm cho khoản vay, nhưng ông C, anh T1 và chị P không thực hiện. Ban đầu, Ngân hàng có yêu cầu Tòa án xem xét, thẩm định tài sản thế chấp (chiếc xe ô tô nêu trên) và đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định, nhưng sau khi biết anh T1 không hợp tác, Ngân hàng đã rút yêu cầu này và nhận lại tiền. Ngân hàng cũng không biết hiện tại chiếc xe ô tô đó ở đâu. Trước khi xét xử, Tòa án đã lấy lời khai ngày 15/01/2025, Ngân hàng đã đề nghị Tòa án không xem xét, thẩm định tài sản thế chấp. Tại phiên tòa, sau khi được hỏi, Ngân hàng cũng không yêu cầu. Từ sau khi ông C không trả nợ cho Ngân hàng đến nay, cán bộ Ngân hàng vẫn gọi điện, nhắn tin được cho ông C và anh T1, ông C và anh T1 có trả lời, hứa hẹn nhiều lần đến Ngân hàng và Tòa án để làm việc nhưng không thực hiện.

Sau khi sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Ngân hàng yêu cầu, đề nghị Tòa án giải quyết:

  1. Chấm dứt nội dung thỏa thuận về thời hạn cho vay và trả nợ của Hợp đồng cho vay số: 06/2022/HĐCV/NHCT30033 ngày 13/01/2022 và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng cho vay số: 06/2023/HĐCV/NHCT30033/SĐ01 ngày 21/4/2023 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP C2 - Chi nhánh Q với ông Phạm Văn C; công nhận Hợp đồng thế chấp tài sản số 45/2022/HĐBĐ/NHCT30033 ngày 29/03/2022 và Văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp số 62/2023/HĐBĐ/NHCT30033/SĐ01 ngày 21/04/2023 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP C2 - Chi nhánh Q với anh Phạm Văn T1 và chị Nguyễn Hà Minh P có hiệu lực pháp luật;
  2. Buộc ông Phạm Văn C có nghĩa vụ phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền 1.052.627.350 đồng, trong đó: nợ gốc là: 912.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 139.897.656 đồng; nợ lãi quá hạn: 729.694 đồng tính đến hết ngày 17/6/2025. Kể từ ngày 18/6/2025 cho đến khi thi hành án xong, ông Phạm Văn C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 06/2022-HĐCV/NHCT30033 ngày 13/01/2022 được ký kết giữa các bên;
  3. Trường hợp ông Phạm Văn C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ (không trả hoặc trả không đầy đủ) cho Ngân hàng, thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm (phát mại tài sản thế chấp) là 01 (một) xe ô tô 07 chỗ ngồi nhãn hiệu Ford, màu đen theo Giấy đăng ký xe ô tô số 14025596 đăng ký ngày 25/03/2022, nơi đăng ký: Công an tỉnh Q, biển kiển kiểm soát số: 14A-648.29, mang tên ông Phạm Văn T1, đã được ký kết theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 45/2022/HĐBĐ/NHCT30033 ngày 29/03/2022 và Văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp số 62/2023/HĐBĐ/NHCT30033/SĐ01 ngày 21/04/2023 được ký kết giữa Ngân hàng với anh Phạm Văn T1 và chị Nguyễn Hà Minh P để thu hồi nợ. Trường hợp tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì ông Phạm Văn C tiếp tục phải trả nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ theo Hợp đồng cho vay số 06/2022-HĐCV/NHCT30033 ngày 13/01/2022 được ký kết giữa các bên nêu trên;
  4. Đề nghị Tòa án tuyên: Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; ông Phạm Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
  5. Đề nghị Tòa án tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời: cấm xuất cảnh đối với ông Phạm Văn C, anh Phạm Văn T1 để đảm bảo thi hành án; đề nghị hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời: cấm xuất cảnh đối với chị Nguyễn Hà Minh P.

4

Ngày 19/11/2024, chị Nguyễn Hà Minh P và anh Phạm Văn T1 ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của đương sự số: 70/2020/QÐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, trong đó có nội dung: “Về tài sản chung: chị Nguyễn Hà Minh P và anh Phạm Văn T1 không có tài sản chung; Về nợ chung: chị Nguyễn Hà Minh P và anh Phạm Văn T1 không có nợ chung”.

Tại Bản tự khai ngày 12/11/2024, chị Nguyễn Hà Minh P khai: năm 2022, chị và anh T1 đăng ký kết hôn; chị và anh T1 có ký vào Hợp đồng thế chấp và văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp chiếc xe ô tô nêu trên để đảm bảo cho khoản vay của ông C (bố chồng chị). Quá trình thực hiện Hợp đồng, chị không biết và không quản lý chiếc xe ô tô nêu trên mà do anh T1 quản lý, sử dụng. Năm 2024, chị và anh T1 ly hôn, chị chuyển về sinh sống tại: tổ C, khu E, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Nay Ngân hàng khởi kiện đòi tiền cho vay, quan điểm của chị: đồng ý để Ngân hàng bán, phát mại xe ô tô nêu trên để thu hồi nợ.

Quá trình giải quyết vụ án, ông C và anh T1 đã được Tòa án triệu tập rất nhiều lần, mặc dù ông C và anh T1 đều biết Tòa án đã thụ lý vụ kiện và nhận được giấy triệu tập, thông báo của Tòa án nhưng không đến trụ sở Tòa án để làm việc mà không có lý do. Anh T1 cũng không mang xe ô tô đến Tòa án để xem xét, thẩm định tài sản đã thế chấp.

Tại Văn bản ngày 29/12/2024 của Công an xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh trả lời Tòa án: hiện tại, ông C và anh T1 vẫn đang đăng ký hộ khẩu thường trú tại: thôn C, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Hiện nay, ông C vẫn đang sinh sống tại địa chỉ này, còn anh T1 đi làm ăn xa, đã lâu không về nhà. Mọi người và ông C cũng không rõ địa chỉ lưu trú hiện tại của anh T1. Cùng với văn bản này, Công an xã T cung cấp cho Tòa án bản Xác nhận thông tin về cư trú của đương sự.

Tòa án đã nhiều lần thông báo, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự được giao nộp, tiếp cận toàn bộ tài liệu, chứng cứ, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng không thành, do ông C, anh T1 và chị P không có mặt, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu, quan điểm của mình.

Tại phiên tòa ngày 17 và 24 tháng 6 năm 2025, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long phát biểu quan điểm:

Căn cứ Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để thu thập bổ sung chứng cứ. Cụ thể: (1) Tiến hành xem xét, thẩm định tài sản thế chấp (chiếc xe ô tô nêu trên); (2) Tiếp tục triệu tập, lấy lời khai của bị đơn về các nội dung liên quan đến vụ án.

Viện kiểm sát không có ý kiến gì về việc áp dụng, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

5

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền và phạm vi giải quyết vụ án: Tòa án thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn kiện đòi tài sản (tiền nợ xuất phát từ hợp đồng cho vay) giữa tổ chức tín dụng với khách hàng là cá nhân không có đăng ký kinh doanh là tranh chấp hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long quy định tại Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu đối với số tiền phải trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm của nguyên đơn là không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu và có liên quan chặt chẽ đến quan hệ pháp luật tranh chấp phải giải quyết đã thụ lý ban đầu, được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về việc bảo đảm thực hiện các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng: Tòa án thông báo, triệu tập đầy đủ, hợp lệ văn bản cho các đương sự, đã tiến hành thu thập, công khai các tài liệu, chứng cứ và hòa giải trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án một cách công khai, minh bạch. Quá trình tố tụng, những người tham gia tố tụng đã được đảm bảo thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật.

[1.3] Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: đây là phiên tòa lần thứ hai được mở lại sau khi đã hoãn. Tòa án đã có nhiều văn bản triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết mà vẫn trốn tránh không đến giải quyết vụ án mà không có lý do. Tòa án đã thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là đảm bảo thực hiện đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1.1] Về hiệu lực của các hợp đồng, văn bản đã ký kết giữa các bên: ông C, anh T1, chị P với đại diện hợp pháp của Ngân hàng ký kết Hợp đồng cho vay và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng cho vay, Hợp đồng thế chấp tài sản và Văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên khi có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự, một cách tự nguyện, hình thức và nội dung các văn bản không trái pháp luật, đạo đức xã hội, đã được Văn phòng công chứng chứng nhận, đến nay không có ai phản đối, nên đương sự cũng không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, các hợp đồng, văn bản đã ký kết giữa các bên phù hợp với lời khai của đại diện Ngân hàng, chị P, thỏa thuận của các bên và quy định tại các điều 116, 117, 118, 119, khoản 2 Điều 292, các điều 293, 295, 317, 318, 319 và 463 của Bộ luật Dân sự, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có hiệu lực pháp luật từ thời điểm giao kết hợp đồng, văn bản, được Hội đồng xét xử công nhận.

[2.1.2] Về số tiền nợ, nghĩa vụ trả nợ và xử lý tài sản bảo đảm: Ngân hàng xác định số tiền nợ gốc, lãi tính đến ngày 17/6/2025 nêu trên là chính xác, phù hợp với nội dung thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng đã ký kết và quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do ông C vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo kỳ hạn đã cam kết trong Hợp đồng nên Ngân hàng có quyền khởi kiện yêu cầu chấm dứt thời hạn cho vay, chuyển toàn bộ tiền nợ gốc sang nợ quá hạn,

6

buộc ông C phải thanh toán cho Ngân hàng là phù hợp với quy định tại: các khoản 1 và 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 1 Điều 275, các điều 278, 280, 351, 352, 353, 357, 463 và 466 của Bộ luật Dân sự. Anh T1 và chị P đã ký Hợp đồng thế chấp xe ô tô mang tên anh T1 và Văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp nêu trên trong thời kỳ hôn nhân để đảm bảo cho khoản vay của ông C. Trường hợp ông C không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là phù hợp với thỏa thuận của các bên, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, (sửa đổi, bổ sung năm 2017), khoản 2 Điều 292, Điều 295, khoản 1 Điều 299, các điều 317, 318, 319, 320, 322, 323 của Bộ luật Dân sự. Trường hợp các bên có tranh chấp về tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.

[2.1.3] Về quy định của pháp luật:

Điều 216 Bộ luật Dân sự năm 2015định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.

Điều 217 Bộ luật Dân sự năm 2015quy định:

“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”.

Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015quy định:

“1. Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.

Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ...”.

Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015quy định:

“1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả...”.

Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015quy định:

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn;...

7

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả;……”.

Điều 91 Luậttổ chức tín dụng năm 2010 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011), sửa đổi, bổ sung năm 2017 (có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 01 năm 2018) quy định: “...

2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.”.

Điều 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011), sửa đổi, bổ sung năm 2017 (có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 01 năm 2018) quy định:

“1. Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng.

2. Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ, tài sản bảo đảm tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm và quy định của pháp luật. Việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, mua bán nợ của tổ chức tín dụng thực hiện theo quy định của Ngân hàng N2...”.

Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng ngày 18 tháng 01 năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2024), sửa đổi, bổ sung ngày 29 tháng 6 năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 8 năm 2024) quy định:

“1. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng N3, văn phòng đại diện nước ngoài đã thành lập và hoạt động theo Giấy phép do Ngân hàng N2 cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành không phải đề nghị cấp lại Giấy phép theo quy định của Luật này. Trường hợp sửa đổi, bổ sung Giấy phép phải thực hiện theo quy định của Luật này.

2. Hợp đồng, giao dịch khác, thỏa thuận được ký kết trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng N3 và khách hàng được tiếp tục thực hiện theo hợp đồng, giao dịch khác, thỏa thuận đã ký kết cho đến hết thời hạn của hợp đồng, giao dịch khác, thỏa thuận. Việc sửa đổi, bổ sung, gia hạn hợp đồng, giao dịch khác, thỏa thuận chỉ được thực hiện nếu nội dung sửa đổi, bổ sung, gia hạn phù hợp với quy định của Luật này, trừ trường hợp cơ cấu lại thời hạn trả nợ của hợp đồng, giao dịch khác, thỏa thuận cấp tín dụng thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân hàng...”.

Điều 37 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014:

“Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm; ...”

Điều 60 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014định:

8

“1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết”.

[2.1.4] Kết luận: Từ những phân tích và những quy định của pháp luật đã viện dẫn nêu trên, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.2] Về đề nghị của Viện kiểm sát tạm ngừng phiên tòa để thu thập tài liệu, chứng cứ: xét thấy quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ra các thông báo, giấy triệu tập và tống đạt hợp lệ cho tất cả các đương sự. Ông C đã trực tiếp nhận được các văn bản của Tòa án và nhận văn bản thay con đẻ của mình (anh T1), cam kết thông báo cho anh T1, anh T1 biết việc Tòa án thụ lý vụ án và triệu tập, nhưng cả ông C và anh T1 đều cố ý trốn tránh, không đến Tòa án để làm việc, không mang xe ô tô đã thế chấp đến cho Tòa án xem xét, thẩm định. Nguyên đơn cũng không yêu cầu Tòa án xem xét, thẩm định, không chấp nhận nộp chi phí xem xét, thẩm định. Chính vì vậy, Ngân hàng mới yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp cấm xuất cảnh đối với họ. Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2 là tổ chức tín dụng có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh tiền tệ, được quyền lựa chọn và tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình theo quy định của pháp luật. Cho dù không thu hồi được tài sản thế chấp thì người có nghĩa vụ vẫn phải chịu trách nhiệm với bên có quyền. Mặt khác, cũng với các vụ án có tình tiết tương tự đã xét xử về việc chủ sở hữu tài sản thế chấp không đến Tòa án để làm việc, không mang xe ô tô đã thế chấp cho Tòa án xem xét, thẩm định, đại diện Viện kiểm sát không đề nghị tạm ngừng phiên tòa, tiếp tục triệu tập đương sự và xem xét, thẩm định tài sản thế chấp, mà đều đề nghị Tòa án xét xử vụ án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (như Bản án số: 05/2022/KDTM-ST ngày 03-6-2022, Bản án số: 77/2024/KDTM-ST ngày 18-12-2024, Bản án số: 22/2025/DS-ST ngày 03-6-2025... của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long). Do đó, đề nghị này của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trong vụ án này không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tòa án xét thấy không cần thiết phải tạm ngừng phiên tòa để thu thập bổ sung chứng cứ khi Tòa án đã thực hiện các biện pháp này nhưng không có kết quả. Việc anh T1 không đến Tòa án, không đưa tài sản thế chấp để Tòa án xem xét, thẩm định không ảnh hưởng đến việc giải quyết đúng đắn vụ án. Tòa án vẫn tiến hành xét xử và tuyên xử lý tài sản bảo đảm nếu ông C vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo đúng hướng dẫn tại mục 11 Phần III Công văn số: 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023 của Tòa án nhân dân tối cao và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về án phí:

Do yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và điểm d tiểu mục 1.3 mục 1 tiết II Phần A. Danh mục án phí kèm theo Nghị quyết này. Cụ thể số tiền mà bị đơn phải chịu là: [36.000.000 đồng + 3% x (1.052.627.350 đồng – 800.000.000 đồng)] = 43.578.820,5 đồng, làm tròn số là 43.578.821 đồng.

9

[4] Về việc áp dụng, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời: đến nay, không có căn cứ để hủy bỏ việc C1 xuất cảnh đối với ông C và anh T1, nên cần tiếp tục duy trì áp dụng biện pháp này để đảm bảo thi hành án. Đối với chị P là người không quản lý, sử dụng tài sản thế chấp và đã ly hôn anh T1, Ngân hàng cũng đề nghị hủy bỏ áp dụng biện pháp này đối với chị P, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại các điểm a và e khoản 1 Điều 138 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Về quyền kháng cáo bản án: các đương sự có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, các điểm a và e khoản 1 Điều 138, Điều 150, khoản 2 Điều 212, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và Điều 483 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 37 và Điều 60 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; các điều 116, 117, 118, 119, khoản 1 Điều 275, các điều 278 và 280, khoản 2 Điều 292, các điều 293 và 295, khoản 1 Điều 299, các điều 303, 317, 318, 319, 320, 322, 323, 351, 352, 353, 357, 463 và 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 90, khoản 2 Điều 91, các khoản 1 và 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017; các khoản 1 và 2 Điều 210 Luật Các tổ chức tín dụng ngày 18 tháng 01 năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2024), sửa đổi, bổ sung ngày 29 tháng 6 năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 8 năm 2024); Điều 7, các khoản 2, 3 và 4 Điều 8, khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 3, điểm b khoản 1 và khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; điểm b khoản 2 Điều 2, Điều 26 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2018, 2020, 2022 và 2024):

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C2 về việc kiện đòi tài sản (tiền cho vay theo hợp đồng cho vay) và xử lý tài sản bảo đảm. Tuyên xử:

  1. Chấm dứt nội dung thỏa thuận về thời hạn cho vay và trả nợ của Hợp đồng cho vay số: 06/2022/HĐCV/NHCT30033 ngày 13 tháng 01 năm 2022 và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng cho vay số: 06/2023/HĐCV/NHCT30033/SĐ01 ngày 21 tháng 4 năm 2023 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP C2 - Chi nhánh Q với ông Phạm Văn C; công nhận Hợp đồng thế chấp tài sản số 45/2022/HĐBĐ/NHCT30033 ngày 29/03/2022 và Văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp số 62/2023/HĐBĐ/NHCT30033/SĐ01 ngày 21/04/2023 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP C2 - Chi nhánh Q với anh Phạm Văn T1 và chị Nguyễn Hà Minh P có hiệu lực pháp luật.
  2. Buộc ông Phạm Văn C có nghĩa vụ phải trả cho Ngân hàng TMCP C2 tổng số tiền 1.052.627.350đ (một tỷ, không trăm năm mươi hai triệu, sáu trăm hai mươi bẩy nghìn, ba trăm năm mươi đồng), trong đó: nợ gốc là: 912.000.000đ (chín trăm mười hai triệu); nợ lãi trong hạn: 139.897.656đ (một trăm ba mươi chín triệu, tám trăm chín mươi bẩy nghìn, sáu trăm năm mươi sáu đồng); nợ lãi quá hạn: 729.694đ (bẩy trăm hai mươi chín nghìn, sáu trăm chín mươi bốn đồng) tính đến hết ngày 17 tháng 6 năm 2025.

10

Kể từ ngày 18 tháng 6 năm 2025 cho đến khi thi hành án xong, ông Phạm Văn C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 06/2022-HĐCV/NHCT30033 ngày 13 tháng 01 năm 2022 được ký kết giữa các bên.

  1. Trường hợp ông Phạm Văn C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ (không trả hoặc trả không đầy đủ) cho Ngân hàng TMCP C2, thì Ngân hàng TMCP C2 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm (phát mại tài sản thế chấp) là 01 (một) xe ô tô 07 chỗ ngồi nhãn hiệu Ford, màu đen theo Giấy đăng ký xe ô tô số 14025596 đăng ký ngày 25/03/2022. Nơi đăng ký: Công an tỉnh Q, biển kiểm soát số: 14A-648.29, mang tên ông Phạm Văn T1, đã được ký kết theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 45/2022/HĐBĐ/NHCT30033 ngày 29/03/2022 và Văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp số 62/2023/HĐBĐ/NHCT30033/SĐ01 ngày 21/04/2023 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP C2 - Chi nhánh Q với anh Phạm Văn T1 và chị Nguyễn Hà Minh P để thu hồi nợ.

Trường hợp tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì ông Phạm Văn C tiếp tục phải trả nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng TMCP C2 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ theo Hợp đồng cho vay số 06/2022-HĐCV/NHCT30033 ngày 13 tháng 01 năm 2022 được ký kết giữa các bên nêu trên.

  1. Về án phí:

Ngân hàng TMCP C2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP C2 20.515.484đ (hai mươi triệu, năm trăm mười lăm nghìn, bốn trăm tám mươi bốn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001215 ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

Ông Phạm Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 43.578.821đ (bốn mươi ba triệu, năm trăm bẩy mươi tám nghìn, tám trăm hai mươi mốt đồng).

  1. Về áp dụng, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời:

Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời: Cấm xuất cảnh tại Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2025/QĐ-BPKCTT đối với ông Phạm Văn C và số 03/2025/QĐ-BPKCTT đối với anh Phạm Văn T1, đều ban hành cùng ngày 04 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh để đảm bảo thi hành án.

Hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Cấm xuất cảnh đối với chị Nguyễn Hà Minh P theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 04/2025/QĐ-BPKCTT ngày 04 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

Phần quyết định về việc áp dụng, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời trong bản án này được thi hành ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị. Việc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện theo quy định tại Chương VIII của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo bản án: Ngân hàng TMCP C2 có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án; ông Phạm Văn C, anh Phạm Văn T1 và chị Nguyễn Hà Minh P có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm

11

ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

  1. Về việc thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TP. Hạ Long;
  • - THADS TP. Hạ Long;
  • - VKSND T. Quảng Ninh;
  • - TAND T. Quảng Ninh;
  • - Lưu HS; TA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/DS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 32/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2 đòi à Hoàng Thị Thanh V tiền vay
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger