|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 32/2025/DS-ST
Ngày: 24-3-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Hồng Thảo Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Lài;
Ông Thái Văn Lộc;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Mẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 582/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXX-ST ngày 06 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B; địa chỉ trụ sở: Tòa nhà H, số D N, phường E, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: Số E L, phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Quang T – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình A – Chức vụ: Giám đốc TTQL&THN.
Người được uỷ quyền lại:
Bà Ngô Thị Thảo L, sinh năm 1996; địa chỉ liên hệ: số E L, Phường G, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo giấy ủy quyền số 274/25/BVBank/UQ-QL&THN ngày 07-3-2025); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Ông Lý Thành T1, sinh năm 1984; địa chỉ liên hệ: Số C, đường C, khu phố A, phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (Theo giấy ủy quyền số 274/25/BVBank/UQ-QL&THN ngày 07-3-2025); vắng mặt.
Ông Trần Ngọc P, sinh năm 1987; địa chỉ liên hệ: số E L, Phường G, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo giấy ủy quyền số 274/25/BVBank/UQ-QL&THN ngày 07-3-2025); vắng mặt.
2. Bị đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1980; nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03-10-2024 và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (sau đây viết tắt là Ngân hàng) cho bà Lê Thị H vay vốn theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 0172100059400 ngày 23/9/2021, số tiền cho vay là 2.400.000.000 đồng, mục đích để mua vườn cây lấy gỗ tạp và củi, ngày hết hạn hợp đồng là ngày 22/09/2023; lãi suất trong hạn 12,5%/năm, lãi suất điều chỉnh 03 tháng/lần, lần cuối cùng điều chỉnh 14,8%/năm; lãi suất quá hạn 22,2 %/năm trên dư nợ gốc quá hạn; lãi suất chậm trả 10%/năm trên lãi trong hạn chưa trả; phương thức trả lãi định kỳ vào ngày 15 dương lịch hàng tháng, trả gốc vào cuối kỳ.
Thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, Ngân hàng đã giải ngân cho bà H theo Giấy nhận nợ số 0172100059400002 ngày 22/09/2022 với tổng số tiền là 2.400.000.000 đồng vào tài khoản của bà Lê Thị H mở tại Ngân hàng .
Khi vay bà Lê Thị H thế chấp quyền sử dụng đất, nhà, công trình xây dựng khác, các tài sản khác gắn liền với đất tại:
Thửa đất số 214, tờ bản đồ số 39, đất tại ấp B, xã B, Huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 499695, số vào số cấp GCN: CS02397 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 15/12/2017 cho bà Lê Thị H. Tài sản đã được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Tây Ninh ngày 22-9-2020.
Thửa đất số 74, tờ bản đồ số 39, địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 944686, số vào số cấp GCN: CS 01481 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 16/06/2015 cấp cho bà Lê Thị H. Tài sản đã được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Tây Ninh ngày 22-9-2020.
Thửa đất số 75, tờ bản đồ số 39, địa chỉ: ấp B, Xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 183894, số vào số cấp GCN: CH01882 do UBND huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 22/04/2016 cấp cho bà Lê Thị H. Tài sản đã được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Tây Ninh 22-9-2020.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Lê Thị H đã trả được 154.662.594 đồng (lãi trong hạn), tiền phạt 190 đồng, trả lãi đến ngày 16/4/2023 thì ngưng cho đến nay; tiền gốc chưa trả là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn theo hợp đồng và giấy nhận nợ đã ký.
Nay Ngân hàng yêu cầu bà Lê Thị H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng nợ tạm tính đến ngày 24/03/2025 là 3.418.376.970 đồng (trong đó: gốc 2.400.000.000 đồng, lãi là 1.018.376.970 đồng).
Ngân hàng yêu cầu bà H phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà bà H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
Nếu bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng.
Trường hợp xử lý tài sản thế chấp không đủ để thu hồi nợ thì bà Lê Thị H phải tiếp tục thanh toán nợ cho Ngân hàng.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 26-12-2024, bị đơn – bà Lê Thị H trình bày:
Bà có ký các hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ, các hợp đồng thế chấp tài sản với Ngân hàng để vay số tiền 2.400.000.000 đồng, nhận nợ ngày 22-9-2022, mục đích vay để bổ sung vốn. Quá trình vay, bà trả được khoảng 01 năm tiền lãi, cụ thể chính xác bao nhiêu tháng bà không nhớ, bà chưa trả được số tiền gốc nào cho ngân hàng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả bà trả tiền vay gốc và tiền lãi, yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của bà thì bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, do bà đang chấp hành án nên đề nghị được vắng mặt trong các buổi làm việc của Toà án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Lê Thị H trả nợ cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 24/3/2025 là 3.418.376.970 đồng và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của ngân hàng; Bà H phải chịu tiền lãi chậm thanh toán kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng; chịu án phí dân sự sơ thẩm; chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị H trả tiền vay, tiền lãi theo các hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ đã ký kết; bị đơn có nơi cư trú tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh nên quan hệ tranh chấp được xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét hợp đồng tín dụng số 0172100059400 ngày 23/9/2021 và giấy nhận nợ ngày 22-9-2022 giữa Ngân hàng và bà H, hạn mức tín dụng là 2.400.000.000 đồng, mục đích vay vốn để mua vườn cây lấy gỗ tạp và củi với tư cách cá nhân của bà Lê Thị H, ngày giải ngân 22/9/2022, ngày đến hạn 22/09/2023; lãi suất trong hạn là 12,5%/năm (cố định 3 tháng đầu), lãi suất điều chỉnh 03 tháng/lần, lần cuối cùng điều chỉnh lãi suất là 14,8%/năm; lãi suất quá hạn là 22,2%/năm trên dư nợ gốc quá hạn; lãi suất chậm trả là 10%/năm trên dư lãi chậm trả tương ứng thời gian chậm trả; lãi định kỳ trả vào ngày 15 dương lịch hàng tháng, trả gốc vào cuối kỳ.
Thực hiện Hợp đồng tín dụng nêu trên, Ngân hàng đã giải ngân cho bà Lê Thị H theo Giấy nhận nợ số 0172100059400002 ngày 22/09/2022 với tổng số tiền là 2.400.000.000 đồng chuyển khoản vào tài khoản của bà Lê Thị H mở tại Ngân hàng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Lê Thị H đã trả được số tiền 154.662.594 đồng (lãi trong hạn), tiền phạt 190 đồng, trả lãi đến ngày 16/4/2023 thì ngưng trả lãi cho đến nay; chưa trả tiền gốc khi đã đến hạn (ngày 22/9/2023) là vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đã thoả thuận tại giấy nhận nợ và Hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân hàng.
Quá trình giải quyết vụ án, bà H cũng thống nhất với ngân hàng về hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ, hợp đồng thế chấp đã ký với ngân hàng. Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và bị đơn được ký kết trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các điều kiện về nội dung và hình thức của hợp đồng nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên.
Do bà H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh; các loại lãi do các bên thỏa thuận phù hợp quy định pháp luật nên yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc bị đơn trả tiền vay gốc là 2.400.000.000 đồng (hai tỷ bốn trăm triệu đồng) và tiền lãi tạm tính đến hết ngày 24/03/2025 là 1.018.376.970 đồng là có căn cứ.
[2.2] Để đảm bảo cho các khoản vay trên, bà H đã thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng đất, nhà, công trình xây dựng khác, các tài sản khác gắn liền với đất tại:
Phần đất diện tích 440,7 m², thửa đất số 214, tờ bản đồ số 39, đất tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 499695, số vào số cấp GCN: CS02397 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 15/12/2017, xác nhận cập nhật biến động đứng tên bà Lê Thị H ngày 14/9/2018. Tài sản đã được đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T, chi nhánh huyện C ngày 22-9-2020.
Phần đất diện tích 346,2 m², thửa đất số 74, tờ bản đồ số 39, đất tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 944686, số vào số cấp GCN: CS 01481 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 16/06/2015, xác nhận cập nhật biến động đứng tên bà Lê Thị H ngày 28/8/2017. Tài sản đã được đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T, chi nhánh huyện C ngày 22-9-2020.
Phần đất diện tích 348,5 m², thửa đất số 75, tờ bản đồ số 39, đất tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 183894, số vào số cấp GCN: CH01882 do Ủy ban nhân dân huyện C, Tỉnh Tây Ninh cấp ngày 22-4-2016, xác nhận cập nhật biến động đứng tên bà Lê Thị H ngày 28/8/2017. Tài sản đã được đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T, chi nhánh huyện C ngày 22-9-2020.
Xét hợp đồng thế chấp giữa các bên đảm bảo quy định về hình thức, nội dung và đã đăng ký thế chấp đúng quy định nên trường hợp bị đơn không thanh toán các khoản nợ theo hợp đồng nói trên thì các tài sản thế chấp được xử lý theo quy định tại Điều 299 và Điều 303 của Bộ luật dân sự năm 2015.
[3] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Số tiền 2.000.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu; do Ngân hàng đã nộp tạm ứng nên bà Lê Thị H phải hoàn trả lại cho Ngân hàng số tiền này.
[5] Về án phí: Theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B đối với bà Lê Thị H về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Buộc bà Lê Thị H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B số tiền 3.418.376.970 đồng (ba tỷ bốn trăm mười tám triệu ba trăm bảy mươi sáu nghìn chín trăm bảy mươi đồng) (Trong đó, tiền gốc là 2.400.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến hết ngày 24-3-2025 là 1.018.376.970 đồng).
Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp trong hợp đồng tín dụng; hợp đồng thoả thuận sửa đổi bổ sung hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ giữa các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà bà H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
Ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực nếu bà Lê Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền xử lý hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp của bà H là quyền sử dụng đất, nhà, công trình xây dựng khác, các tài sản khác gắn liền với đất:
Phần đất diện tích 440,7 m², thửa đất số 214, tờ bản đồ số 39, đất tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 499695, số vào số cấp GCN: CS02397 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 15/12/2017, xác nhận cập nhật biến động đứng tên bà Lê Thị H ngày 14/9/2018. Tài sản đã được đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T, chi nhánh huyện C ngày 22-9-2020.
Phần đất diện tích 346,2 m², thửa đất số 74, tờ bản đồ số 39, đất tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 944686, số vào số cấp GCN: CS 01481 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 16/06/2015, xác nhận cập nhật biến động đứng tên bà Lê Thị H ngày 28/8/2017. Tài sản đã được đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T, chi nhánh huyện C ngày 22-9-2020.
Phần đất diện tích 348,5 m², thửa đất số 75, tờ bản đồ số 39, đất tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 183894, số vào số cấp GCN: CH01882 do Ủy ban nhân dân huyện C, Tỉnh Tây Ninh cấp ngày 22-4-2016, xác nhận cập nhật biến động đứng tên bà Lê Thị H ngày 28/8/2017. Tài sản đã được đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T, chi nhánh huyện C ngày 22-9-2020.
Trường hợp xử lý tài sản thế chấp không đủ để thu hồi nợ thì bà Lê Thị H phải tiếp tục thanh toán nợ cho Ngân hàng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Lê Thị H phải chịu số tiền 100.367.539 đồng (một trăm triệu ba trăm sáu mươi bảy nghìn năm trăm ba mươi chín đồng).
Ngân hàng Thương mại Cổ phần B không phải chịu án phí. Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 47.480.715 đồng (bốn mươi bảy triệu bốn trăm tám mươi nghìn bảy trăm mười lăm đồng) theo biên lai thu số 00010105 ngày 01-11-2024.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bà Lê Thị H có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
- Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Hồng Thảo Nguyên |
Bản án số 32/2025/DS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 32/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B tranh chấp hợp đồng tín dụng với bà Lê Thị H
