TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/DS-ST | |
Ngày: 23/5/2025. | |
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng Vương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Đình Tiến;
- Bà Lê Thị Diệu Tuyến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Mỹ Trà – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 tháng 4 và ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 3199/2024/DSST ngày 22 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 03 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2025/QĐST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S1);
Địa chỉ trụ sở: Số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Quang Trung H, sinh năm: 1984 – Địa chỉ: Lầu C, số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Là đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn theo Giấy ủy quyền số 1990/2024/UQ-TT.XLN ngày 20/8/2024 – (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Bà Trương Bửu N, sinh năm: 1983 –(có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số A đường C, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn – Đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP S trình bày:
Bà Trương Bửu N đã ký kết hợp đồng tín dụng để vay vốn tại Ngân hàng TMCP S Thẻ tín dụng số thẻ: 436438-6057, hạn mức: 82.000.000 đồng vào ngày 18/11/2020. Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/11/2020. Quá trình kích hoạt sử dụng thẻ đến nay bà N đã thanh toán số tiền 1.138.465.875 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) rồi ngưng. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà N vẫn không thanh toán trả nợ. Do bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 06/01/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ 436438-6057 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23, 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 23/5/2025, bà N còn nợ tổng cộng là 150.358.723 đồng (bao gồm dư nợ gốc là 92.502.043 đồng và lãi quá hạn là 57.856.680 đồng của thẻ tín dụng số 436438-6057). Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu bà N có trách nhiệm thanh toán. Tuy nhiên, bà N vẫn không thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết:
- Tuyên buộc bà Trương Bửu N phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/5/2025 là 150.358.723 đồng (bao gồm dư nợ gốc là 92.502.043 đồng và lãi quá hạn là 57.856.680 đồng), trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Tuyên buộc bà Trương Bửu N có trách nhiệm tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
* Bị đơn là bà Trương Bửu N đã được Tòa án thực hiện tống đạt hợp các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo giao nộp chứng cứ, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng bà N đều vắng mặt. Đồng thời, bà Trương Bửu N có gửi qua đường Bưu điện với tiêu đề: “Đơn xin vắng mặt tất cả các phiên xử; Đơn xin xác nhận hoàn cảnh khó khăn”, với nội dung: Bà Trương Bửu N xác nhận có ký kết khoản vay với Nguyên đơn, đúng như Nguyên đơn đã trình bày. Thời gian đầu khi sử dụng thẻ tín dụng bà thanh toán đầy đủ. Tuy nhiên, về sau do hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn nên không thể thanh toán nợ đúng hạn nên xin ngân hàng xem xét giảm tất cả các khoản lãi, phạt, phí và xin kéo dài thời gian để thanh toán nợ gốc. Đồng thời, bà N có đơn xin xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn, xin Toà án xem xét miễn giảm án phí mà bà phải chịu. Tuy nhiên, không được Nguyên đơn đồng ý.
Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên họp, phiên hoà giải và phiên tòa.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu ý kiến như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm, Nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về nội dung: Căn cứ Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng (Hợp đồng tín dụng số 436438-6057) được giao kết ngày 18/11/2020; Bảng kê chi tiết dư nợ chưa thanh toán của khách hàng bà Trương Bửu N do Ngân hàng Thương mại Cổ phần S sao kê, xác định số tiền tính đến ngày 23/5/2025, bà N còn nợ tổng cộng 150.358.723 đồng (bao gồm dư nợ gốc là 92.502.043 đồng và lãi quá hạn là 57.856.680 đồng) là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Bà N có đơn trình bày ý kiến, xin miễn tất cả các khoản phí, lãi, lãi phạt nhưng không được Nguyên đơn chấp nhận nên không có cở sở xem xét. Đồng thời, bà N có đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn và xin miễn giảm phần án dân sự mà bà phải chịu nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở các chứng cứ hiện có, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có đơn khởi kiện bà Trương Bửu N yêu cầu thanh toán số tiền còn nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng sử dụng thẻ tín dụng số thẻ: 436438-6057 nên đủ cơ sở xác định đây là tranh chấp hợp đồng dân sự. Bị đơn là bà Trương Bửu N cư trú tại Quận A. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2]. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự quyết định xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn là có căn cứ.
[3]. Căn cứ kết quả xác minh Công an phường C, Quận A xác nhận “Trương Bửu N có đăng ký thường trú và thực tế cư ngụ tại địa chỉ: 1 C, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh” nên có căn cứ xác định bà N thực tế cư trú tại Quận A.
[4]. Căn cứ vào các Đơn do bà Trương Bửu N gửi cho Toà án như: Đơn thư trả lời; Đơn xin vắng mặt; Đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn của Bị đơn bà Trương Bửu N có nơi cư trú tại Quận A và đã nhận được tất cả văn bản tố tụng của Toà án. Tuy nhiên, theo trình bày của bà N thì vì nhiều lý do nên bà xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, xét xử. Đồng thời, Bà N có đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn nên xin Nguyên đơn xem xét giảm tất cả khoản phí, lãi phạt và xin có thời gian để thanh toán nợ gốc cho ngân hàng và đề nghị Toà án xem xét miễn giảm án phí dân sự mà bà N phải chịu, nhưng không được Nguyên đơn đồng ý.
[5]. Về nội dung khởi kiện, Hội đồng xét xử xét thấy:
Nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu bà Trương Bửu N thanh toán số nợ gốc và tiền lãi phát sinh từ Hợp đồng tín dụng sử dụng thẻ tín dụng số thẻ: 436438-6057 tạm tính đến ngày xét xử (23/5/2025) bao gồm:
- Nợ gốc: 92.502.043 đồng.
- Nợ lãi: 57.856.680 đồng
Tổng cộng: 150.358.723 đồng.
[6]. Xét thấy: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có đơn khởi kiện bà Trương Bửu N yêu cầu thanh toán số tiền còn nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng sử dụng thẻ tín dụng số thẻ: 436438-6057. Việc ký kết hợp đồng đã được hai bên tuân thủ đúng pháp luật về hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, Bị đơn đã không thanh toán số tiền nợ là 150.358.723 đồng. Trong đó: gốc là 92.502.043 đồng lãi là 57.856.723 đồng và tiền lãi tiếp tục phát sinh cho đến khi thanh toán xong.
[7]. Căn cứ Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số (thẻ tín dụng số 436438-6057) được giao kết ngày 18/11/2020; bảng kê chi tiết dư nợ chưa thanh toán của khách hàng bà Trương Bửu N do Ngân hàng Thương mại Cổ phần S sao kê, xác định số tiền nợ gốc Bị đơn còn nợ Nguyên đơn là 92.502.043 đồng.
Về lãi suất: Căn cứ Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số thẻ tín dụng số 436438-6057 được giao kết ngày 18/11/2020, lãi suất cho vay theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng tại mục 22 và 24 của hợp đồng và Nguyên đơn được quyền điều chỉnh lãi suất trong từng thời kỳ, lãi suất tại thời điểm xét xử là là 2,48%/ tháng, lãi suất quá hạn là 2,48%/ tháng x 150% = 3,72%/ tháng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án Bảng chi tiết tính lãi là có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn thanh toán lãi tính đến ngày xét xử là 57.856.680 đồng.
[8]. Từ những nhận định trên căn cứ các Điều 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn thanh toán số tiền còn nợ gồm: Nợ gốc: 92.502.043 đồng, nợ lãi: 57.856.680 đồng. Tổng cộng: 150.358.723 đồng và tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ.
[9]. Về thời hạn thanh toán:
Xét, Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn thanh toán một lần số tiền nợ gốc và lãi ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Căn cứ nội dung thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 23/05/2025. Căn cứ Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, xét yêu cầu của Nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Xét, Bị đơn có xin xem xét miễn giảm lãi, phí và xin kéo dài thời gian thanh toán nợ nhưng không được Nguyên đơn đồng ý nên không có cơ sở xem xét.
[10]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của Nguyên đơn được chấp nhận nên Bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch tính trên số tiền phải trả cho Nguyên đơn.
Bị đơn bà Trương Bửu N có đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn và xin xem xét miễn giảm án phí. Đồng thời, căn cứ vào nội dung xác nhận của T khu phố 7 xác nhận “Cô Trương Bửu N địa chỉ: 1 C, hoàn cảnh gia đình khó khăn xin Ủy ban nhân dân phường C xét giúp đỡ” và được Ủy ban nhân dân phường C xác nhận ngày 11/4/2025 nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 13 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thương vụ Quốc hội xét miễn giảm án phí cho Bị đơn bà Trương Bửu N được giảm 50% tiền án phí phải chịu.
[11]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92, 96, Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; các Điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí; Luật phí, lệ phí; Luật Thi hành án Dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:
Buộc Bị đơn bà Trương Bửu N phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tiền nợ gốc và tiền lãi tính đến ngày xét xử của Hợp đồng tín dụng số thẻ tín dụng: 436438-6057 ngày 18/11/2020. Tổng cộng là 150.358.723 đồng (Một trăm năm mươi triệu, ba trăm năm mươi tám nghìn, bảy trăm hai mươi ba đồng), trong đó: Nợ gốc là 92.502.043 đồng, nợ lãi: 57.856.680 đồng.
Thời hạn thanh toán: Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Các bên thi hành tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 24/5/2025, bà Trương Bửu N phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo mức lãi suất quá hạn quy định tại bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S cho đến khi bà N trả dứt nợ. Trường hợp, trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Án phí dân sự sơ thẩm:
3.1 Bà Trương Bửu N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.517.936 đồng (Bảy triệu, năm trăm mười bảy nghìn, chín trăm ba mươi sáu đồng). Bà N có đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn và xin miễn giảm án phí nên được giảm 50% án phí, bà N còn phải nộp 3.758.968 đồng (Ba triệu, bảy trăm năm mươi tám nghìn, chín trăm sáu mươi tám đồng).
3.2 Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.952.533 đồng theo biên lai thu tiền số BLTU/24P/0046194 ngày 22/10/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Nơi nhận:
TAND QUẬN 1 WU4230525.TL.QDBA 10699 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Minh Hoàng Vương |
Bản án số 32/2025/DS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 32/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán dư nợ tín dụng
