Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------

Bản án số: 32/2025/DS-ST

Ngày 10 tháng 6 năm 2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đích
  • Ông Nguyễn Kim Thành

-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng: Bà Phạm Thị Thuỳ Dương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2025/TLST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2025 về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 65/2025/QĐST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Công ty T. Địa chỉ: Tầng A, Tháp B, Khu thương mại dịch vụ kết hợp nhà cao tầng tại lô đất 1 - 13 thuộc Khu chức năng số 1 - số A, đường T, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Chun Young I - Chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Thảo N, sinh năm: 1997, địa chỉ: H N, phường H, quận H, Thành phố Đà Nẵng (Theo Giấy ủy quyền số 048/2024/GUQ-TGĐ của Tổng Giám đốc Công ty T, Giấy uỷ quyền số 53/2024/UQ-KK-SVFC ngày 12/12/2024 của Giám đốc khối thu hồi nợ Công ty T và Giấy ủy quyền số 52/UQ.24 ngày 24/12/2024 của Giám đốc Công ty L). Có mặt.
  • - Bị đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm: 1984, địa chỉ: Số H N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đại diện Công ty T trình bày:

Vào ngày 01/3/2019, ông Trần Văn H có ký với Công ty TNHH MTV T1 (đến ngày 02/7/2019 đổi tên thành Công ty T theo sự phê duyệt của Ngân hàng N1 và Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H) Hợp đồng cho vay số [...] để vay số tiền 100.000.000 đồng; mục đích mua đồ dùng, trang thiết bị gia đình; hình thức vay tín chấp; lãi suất trong hạn áp dụng 31.5%/năm và được Công ty quyết định điều chỉnh phù hợp với quy định Ngân hàng N1 về lãi suất cho vay; lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; lãi suất chậm trả trên lãi quá hạn 10%/năm; số kỳ thanh toán chia làm 48 kỳ vào ngày 10 hàng tháng; số tiền thanh toán mỗi kỳ là 3.626.829 đồng; kỳ đầu tiên vào ngày 10/3/2019; kỳ cuối cùng thanh toán 3.626.819 đồng vào ngày 10/02/2023.

Căn cứ theo các quy định của Hợp đồng, ông Trần Văn H có nghĩa vụ phải thanh toán đúng tiến độ theo lịch trả nợ và lịch trả nợ điều chỉnh và các thông báo nhắc nợ mà Công ty gửi tùy từng thời điểm. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện Hợp đồng, bắt đầu từ tháng 6 năm 2020 ông Trần Văn H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Mặc dù Công ty đã nhiều lần liên hệ và tạo điều kiện cho ông H thanh toán nhưng ông H vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán. Tại phiên tòa Công ty yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Văn H trả cho Công ty số tiền tính đến ngày 10/6/2025 là 266.268.825 đồng, trong đó: nợ gốc 79.348.845 đồng, nợ lãi trong hạn 40.335.582 đồng, lãi chậm trả lãi quá hạn 16.340.417 đồng, lãi chậm trả gốc quá hạn 130.243.981 đồng. Ông Trần Văn H có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày 11/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

- Bị đơn ông Trần Văn H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tuy nhiên ông vẫn vắng mặt, không có ý kiến phản hồi.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã tuân theo đúng pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại khoản 5 Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.

Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm mở phiên tòa, người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình chuẩn bị xét xử và tại các phiên toà là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ đối với bị đơn theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của Công ty T là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty, buộc ông Trần Văn H phải thanh toán cho Công ty số tiền tính đến ngày 10/6/2025 là 266.268.825 đồng, trong đó: nợ gốc 79.348.845 đồng, nợ lãi trong hạn 40.335.582 đồng, lãi chậm trả lãi quá hạn 16.340.417 đồng, lãi chậm trả gốc quá hạn 130.243.981 đồng. Ông Trần Văn H có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

  • [1.1]. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • [1.2]. Ông Trần Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử vắng bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung vụ án:

  • [2.1]. Căn cứ Hợp đồng cho vay số [...] ngày 01/3/2019, Bản điều khoản cơ bản, cam kết nhận khoản vay và yêu cầu giải ngân, lịch trả nợ, lịch sử thanh toán, lời khai của đại diện nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì đủ cơ sở xác định ông Trần Văn H có vay của Công ty TNHH MTV T1 nay đổi tên là Công ty T số tiền 100.000.000 đồng, mục đích mua đồ dùng, trang thiết bị gia đình, loại hình vay tín chấp không có tài sản bảo đảm, lãi suất trong hạn áp dụng 31.5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả trên lãi quá hạn 10%/năm, số kỳ thanh toán chia làm 48 kỳ vào ngày 10 hàng tháng, số tiền thanh toán mỗi kỳ là 3.626.829 đồng, kỳ đầu tiên vào ngày 10/3/2019, kỳ cuối cùng thanh toán số tiền 3.626.819 đồng vào ngày 10/02/2023. Xét thấy rằng việc ký kết hợp đồng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên được điều chỉnh theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật liên quan.
  • [2.2]. Ông Trần Văn H đã được Công ty giải ngân số tiền 100.000.000 đồng vào ngày 01/3/2019. Từ khi vay cho đến nay, ông Trần Văn H đã thanh toán được 15 kỳ với số tiền 54.641.141 đồng, trong đó trả gốc 20.651.155 đồng, trả lãi 33.989.986 đồng. Kể từ tháng 6 năm 2020 ông Trần Văn H bắt đầu vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Việc ông Trần Văn H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng hạn vi phạm cam kết thanh toán tại phần 2 trong Hợp đồng cho vay, Điều 4 của Bản điều khoản cơ bản của hợp đồng cho vay do đó hết thời hạn cho vay Công ty đã khởi kiện yêu cầu thanh toán nợ là có căn cứ theo quy định tại Hợp đồng và Luật các tổ chức tín dụng.
  • [2.3]. Tại phiên tòa, Công ty T yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Văn H phải thanh toán toàn bộ số tiền tính đến ngày 10/6/2025 là 266.268.825 đồng, trong đó: nợ gốc 79.348.845 đồng, nợ lãi trong hạn 40.335.582 đồng, lãi chậm trả lãi quá hạn 16.340.417 đồng, lãi chậm trả gốc quá hạn 130.243.981 đồng. Ông Trần Văn H có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày 11/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn Công ty T là có căn cứ theo quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng, Điều 7, Điều 8, Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí tranh chấp dân sự có giá ngạch trên số tiền phải trả là 266.268.825 đồng x 5% = 13.313.441 đồng, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

[5]. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng;
  • - Điều 280 Bộ luật Dân sự;
  • - Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Công ty T đối với ông Trần Văn H.

1. Buộc ông Trần Văn H phải thanh toán cho Công ty T số tiền 266.268.825 đồng (Hai trăm sáu mươi sáu triệu, hai trăm sáu mươi tám nghìn, tám trăm hai mươi lăm đồng). Trong đó:

  • Nợ gốc: 79.348.845 đồng;
  • Nợ lãi trong hạn: 40.335.582 đồng;
  • Lãi chậm trả lãi quá hạn: 16.340.417 đồng;
  • Lãi chậm trả gốc quá hạn: 130.243.981 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số [...] ngày 01/3/2019. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Công ty cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Công ty cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Công ty cho vay.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Trần Văn H phải chịu 13.313.441 đồng (Mười ba triệu, ba trăm mười ba nghìn, bốn trăm bốn mươi mốt đồng).

Công ty T không chịu án phí, hoàn trả cho Công ty T số tiền tạm ứng án phí 6.127.694 đồng (Sáu triệu, một trăm hai mươi bảy nghìn, sáu trăm chín mươi bốn đồng) Công ty T đã nộp theo biên lai thu số 0007783 ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

3. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà;
  • - Chi cục THADS quận Sơn Trà;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thúy Hằng

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/DS-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 32/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Công ty S và ông H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger