TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/DS-ST Ngày: 07-3-2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Phát
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Kim Lệ
- Bà Đinh Kim Hoàng
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Chi – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 219/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST – DS ngày 10 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C28
- Địa chỉ trụ sở chính: A, phường C, quận H, thành phố Hà Nội
- Địa chỉ liên lạc: G N, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thanh T 1990
- (Văn bản ủy quyền ngày 02/10/2024) (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C 1992
- Địa chỉ theo hợp đồng: 8 B, Phường I, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh
- Địa chỉ hiện nay: 1 đường số H, tổ A, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần T1C1sinh năm 1980
- Địa chỉ: G V, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 18/12/2023) (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Trần Tấn H 1973
- - Bà Nguyễn Thị L 1981
- - Ông Trần Vũ D 2004
- - Bà Trần Thị MD1sinh năm 2002
- - Bà Trần Thị MH1sinh ngày 01/11/2006;
- - Ông Trần Tấn G 1975
- - Bà Lê Kim V 1977
- - Ông Trần Lê H1T1sinh năm 2002
- - Trẻ Trần Lê BT2sinh ngày 20/3/2008
- Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Tấn G1(cha) và bà Lê Kim V1(mẹ)
- - Bà Trần M1T3sinh năm 1969
- - Ông Nguyễn B1T4sinh năm 1968
- - Ông Nguyễn Q T2năm 1995
- - Bà Nguyễn Thị M2T6sinh năm 1999
- - Bà Nguyễn Thị M2T7sinh năm 2001
- - Bà Trần Kim N 1979
- - Ông Trương Q1 M3năm 1977
- - Ông Trương Quang P 2005
- - Bà Trương T3V1sinh năm 2005
- - Ông Trần T9 B2năm 1982
- - Bà Lê Thị M4D2sinh năm 1985
- - Trẻ Trần Lê Bảo Yngày 30/12/2007
- - Trẻ Trần Lê Như Ý, sinh ngày 30/9/2012 2012
- Đại diện theo pháp luật của trẻ Yvà trẻ Ý: Ông Trần Tấn B(cha) và bà Lê Thị Mỹ D1(mẹ)
- - Bà Trần T4T8sinh năm 1985
- - Ông Trần Văn D3sinh năm 1985 (chồng bà T1
- - T13(không rõ năm sinh)
- - Trần Thu T2(không rõ năm sinh)
- - Trần Thu T3(không rõ năm sinh)
- Đại diện theo pháp luật của trẻ T14(mẹ) và ông Trần Văn D2(cha)
- - Ông Trương Hoàng P1sinh năm 1990
- - Bà Nguyễn Thị N1sinh năm 1987
- - Ông Dương Văn T12sinh năm 1985
- - Trẻ Dương Văn T13sinh ngày 14/4/2009
- - Trẻ Dương Văn C2sinh ngày 12/10/2015
- Đại diện theo pháp luật của trẻ T13và trẻ C28(mẹ) và ông Dương Văn T4(cha)
- Cùng địa chỉ: thửa đất 346, tờ bản đồ số 8, địa chỉ: ấp K, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, ông Đỗ Thanh T5 theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCC28 C27bày:
V2và ông Nguyễn Văn C1 sinh quan hệ tín dụng với Ngân hàng TMCP C28(sau đây gọi là “V2Chi nhánh D4, TP .theo các Hợp đồng sau:
- Hợp đồng cho vay số 22.099.009/2022-HĐCV/NHCT908-NGUYENVANCHIEN ngày 08/4/2022 (gọi tắt là “HĐCV”), cụ thể:
- + Số tiền cho vay: 25.000.000.000 đồng;
- + Thời hạn cho vay: 240 tháng tính từ ngày giải ngân;
- + Mục đích sử dụng tiền vay: thanh toán nguồn nguồn vốn đã đáp ứng trước để chi trả chi phí nhận quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 346, Tờ bản đồ số 8, Địa chỉ Ấp khu tượng, xã C, Thành phố P, tỉnh Kiên Giang
- + Lãi suất tại thời điểm cho vay: 10.3%/năm.
- - Thực hiện các hợp đồng nêu trên, V2Chi nhánh 4 đã giải ngân khoản vay theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 08/04/2022 của ông Nguyễn Văn C2
- Hợp đồng kiêm giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 05/05/2022 giữa V2– Chi nhánh D4và ông Nguyễn Văn C3:
- + Hạn mức thẻ tín dụng: 100.000.000 VNĐ (bằng chữ: năm trăm triệu đồng)
- + Loại thẻ Mastercard; ngày đến hạn thanh toán ngày 26 hàng tháng.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 346, tờ bản đồ số 6, địa chỉ: ấp K, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giangtheo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV664035, số vào sổ cấp GCN: CH07150 do UBND thành phố P ngày 14/04/2021 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Pchuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn C4. Tài sản bảo đảm đã được thế chấp hợp pháp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 22.099.009/2022/ HĐBĐ/NHCT908 ngày 08/04/2022, đã được công chứng tại Phòng C4tỉnh Kiên Giang theo số 05375, quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/ HĐGD và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh V2theo số thứ tự 476, Quyển số 02 ngày 08/04/2022.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Văn C5 toán cho V2tổng số tiền là 2.109.510.857 đồng (Trong đó, nợ gốc: 270.000.000 đồng, nợ lãi: 1.839.510.857 đồng).
Khoản nợ bắt đầu quá hạn từ ngày 27/01/2023, ông Nguyễn Văn C6 hiện trả nợ theo như cam kết trong Hợp đồng tín dụng, các Giấy nhận nợ. V2đã gửi nhiều thông báo, công văn yêu cầu trả nợ nhưng ông Nguyễn Văn C6 hiện.
Tính đến thời điểm ngày 07/3/2025, ông Nguyễn Văn C7 nợ V2tổng số tiền là 33.521.721.499 đồng. Trong đó, nợ gốc khoản vay là 24.730.000.000 đồng, lãi trong hạn: 7.641.592.245 đồng, lãi quá hạn: 181.579.685 đồng, phạt chậm trả lãi: 829.339.269 đồng và nợ gốc khoản thẻ là: 97.582.787 đồng, nợ lãi: 41.627.513 đồng, tổng cộng: 139.210.300 đồng.
Ngân hàng TMCP C28 nghị Toà án nhân dân Quận 4 giải quyết yêu cầu như sau:
- Buộc ông Nguyễn Văn C8 khoản nợ cho Ngân hàng TMCP C3V2với số tiền tạm tính đến ngày 07/3/2025 tổng số tiền là 33.521.721.499 đồng. Trong đó, nợ gốc khoản vay là 24.730.000.000 đồng, lãi trong hạn: 7.641.592.245 đồng, lãi quá hạn: 181.579.685 đồng, phạt chậm trả lãi: 829.339.269 đồng và nợ gốc khoản thẻ là: 97.582.787 đồng, nợ lãi: 41.627.513 đồng, tổng cộng: 139.210.300 đồng. Yêu cầu trả sau khi án có hiệu lực.
Ngoài ra, ông Nguyễn Văn C9 trả các khoản lãi (trong hạn, quá hạn), lãi phạt và các chi phí khác (nếu có) phát sinh từ ngày 08/3/2025 cho đến khi Ngân hàng TMCC27C3thu hồi hết nợ, theo lãi suất quy định tại Hợp đồng cho vay số Hợp đồng cho vay số 22.099.009/2022-HĐCV/NHCT908-NGUYENVANCHIEN ngày 08/4/2022; Hợp đồng kiêm giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 05/5/2022 và các văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng (nếu có).
- Trường hợp ông Nguyễn Văn C6 hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng TMCC27C3có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án kê biên, phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 346, tờ bản đồ số 8, địa chỉ: ấp K, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giangtheo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV664035, số vào sổ cấp GCN: CH07150 do UBND thành phố P ngày 14/4/2021 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Pchuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn C10 để thu hồi khoản nợ theo quy định của pháp luật. Nếu giá trị (số tiền) thu được từ xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nghĩa vụ trả nợ khoản vay thì ông Nguyễn Văn C11 có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng TMCC27C3cho đến khi tất toán khoản nợ.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn - ông Nguyễn Văn C2 là ông Trần T6 trình bày:
V2và ông Nguyễn Văn C1 sinh quan hệ tín dụng với Ngân hàng TMCP C28(sau đây gọi là “V2Chi nhánh D4, TP .theo các Hợp đồng sau:
Hợp đồng cho vay số 22.099.009/2022-HĐCV/NHCT908-NGUYENVANCHIEN ngày 08/04/2022 (gọi tắt là “HĐCV”), cụ thể:
- + Số tiền cho vay: 25.000.000.000 đồng;
- + Thời hạn cho vay: 240 tháng tính từ ngày giải ngân;
- + Mục đích sử dụng tiền vay: thanh toán nguồn nguồn vốn đã đáp ứng trước để chi trả chi phí nhận quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 346, Tờ bản đồ số 8, Địa chỉ Ấp khu tượng, xã C, Thành phố P, tỉnh Kiên Giang
- + Lãi suất tại thời điểm cho vay: 10.3%/năm.
- - Thực hiện các hợp đồng nêu trên, V2Chi nhánh 4 đã giải ngân khoản vay theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 08/04/2022 của ông Nguyễn Văn C2
Hợp đồng kiêm giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 05/05/2022 giữa V2– Chi nhánh D4và ông Nguyễn Văn C3:
- + Hạn mức thẻ tín dụng: 100.000.000 VNĐ (bằng chữ: năm trăm triệu đồng)
- + Loại thẻ Mastercard; ngày đến hạn thanh toán ngày 26 hàng tháng.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 346, tờ bản đồ số 6, địa chỉ: ấp K, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giangtheo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV664035, số vào sổ cấp GCN: CH07150 do UBND thành phố P ngày 14/04/2021 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Pchuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn C4. Tài sản bảo đảm đã được thế chấp hợp pháp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 22.099.009/2022/HĐBĐ/NHCT908 ngày 08/04/2022, đã được công chứng tại Phòng C4tỉnh Kiên Giang theo số 05375, quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh V2theo số thứ tự 476, Quyển số 02 ngày 08/04/2022.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Văn C2 đã thanh toán cho V2tổng số tiền là 2.109.510.857 đồng (Trong đó, nợ gốc: 270.000.000 đồng, nợ lãi: 1.839.510.857 đồng).
Khoản nợ bắt đầu quá hạn từ ngày 27/01/2023, do kinh tế khó khăn nên ông Nguyễn Văn C6 hiện trả nợ theo như cam kết trong Hợp đồng tín dụng
Tính đến thời điểm ngày 19/12/2023, ông Nguyễn Văn C12 V2tổng số tiền là 28.410.114.817 đồng (Bằng chữ: Hai mươi tám triệu bốn trăm mười triệu một trăm mười bốn ngàn tám trăm mười bảy đồng). Trong đó, nợ gốc khoản vay là 24.730.000.000 đồng, lãi trong hạn: 3.385.807.042 đồng, lãi quá hạn: 34.504.889 đồng, phạt chậm trả lãi: 153.653.097 đồng và nợ gốc khoản thẻ là: 97.582.787 đồng, nợ lãi và phí khoản thẻ: 8.567.002 đồng. Ông xin ngân hàng xem xét giảm phần nào tiền lãi cho ông C
Ông C10trả số tiền nợ trong thời hạn 03 tháng sau khi án có hiệu lực.
Trường hợp ông Nguyễn Văn C6 hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng TMCC27C3có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án kê biên, phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 346, tờ bản đồ số 6, địa chỉ: ấp K, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giangtheo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV664035, số vào sổ cấp GCN: CH07150 do UBND thành phố P ngày 14/04/2021 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Pchuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn C10 để thu hồi khoản nợ theo quy định của pháp luật.
Nếu giá trị (số tiền) thu được từ xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nghĩa vụ trả nợ khoản vay thì ông Nguyễn Văn C14 có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng TMCC27C3cho đến khi tất toán khoản nợ.
Theo Bản tự khai và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Tấn B trình bày: Vào khoảng tháng 3/2022 ông có nhu cầu vay vốn để kinh doanh nên có nhờ môi giới là ông Đoàn Văn T7: Đ, T, T, Qtìm khách cầm thửa đất của ông giá 15 tỷ đồng. Sau đó, ông T14gửi giấy tờ đất của ông cho một người mô giới nhà đất tên H2T15Sau đó, ông T14và bà T15có kết nối cho ông gặp người đầu tiên tên L1(SĐT: 0906.858.xxx) tại công ty của T14ở ấp B, xã C, TP ., tỉnh Kiên GiangTại đây ông và bà L1 đã thỏa thuận lãi suất vay là 3%/tháng, công chứng chuyển nhượng treo thửa đất của ông cho bà L1và bà không được nộp vào văn phòng đăng ký đất đai để đánh biến động chuyển qua tên của bà L1không được vay ngân hàng. Cả ông và bà Llcùng thống nhất phương án trên nên vào ngày 17 tháng 3 năm 2022 ông và bà L1cùng nhau ra văn phòng công ty của ông T14để nhờ văn phòng C5công chứng hợp đồng chuyển nhượng giả cách giữa ông và ông Nguyễn Văn C2(ông C11bà L1chỉ định đứng tên trên hợp đồng chuyển nhượng).
Lúc ký hợp đồng chuyển nhượng với ông C14có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện ký và không bị ép buộc. Lúc ký bà L2với ông đây là ký hợp đồng chuyển nhượng giả tạo thôi chứ không phải chuyển nhượng thật, khi nào ông có tiền chuộc thì sẽ trả lại đất cho ông. Hai bên có ký giấy thỏa thuận trong thời gian 06 tháng bà L1sẽ không cập nhật sang tên cho ông C14sẽ về tìm lại và nộp cho tòa án sau.
Sau khi ký công chứng xong, bà L1chỉ định một người tên là Bùi Trần D3 vào tài khoản T17số tài khoản: 19036408269011 mang tên Trần Tấn B4tiền là 15.000.000.000 đồng. Sau đó ông đã chuyển lại ngay tiền lãi cho bà Lllà 450.000.000 đồng và ông chuyển cho ông T14tiền phí môi giới là 450.000.000 đồng.
Vào cuối tháng 3/2024 ông được biết bà L1đã nộp hồ sơ đất của ông vào Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Pđánh biến động sang tên của ông Nguyễn Văn C15 tin, ông điện thoại cho bà L1để hỏi tại sao bà L1không làm đúng với cam kết của bà là trong vòng 06 tháng không được sang tên thì ông được biết bà L1trả lời là khi nào ông có tiền thì bà L1sẽ sang tên lại cho ông và bà L1nói ông yên tâm sẽ không đi vay ngân hàng. Nhưng ông nhất quyết không đồng ý và yêu cầu bà L1không được sang tên thì bà L1cúp máy điện thoại.
Vào khoảng tháng 11/2022, ông điện thoại cho bà L1 để thương lượng chuộc sổ với số tiền 17 tỷ đồng thì bà L1trả lời số tiền cầm đất là 15 tỷ đồng không phải của một mình bà L1mà là cổ đông của nhiều người nên cho bà 2 đến 3 ngày thì bà sẽ trả lời cho ông. Nhưng qua vài ngày ông điện thoại thì bà L1không nghe máy, nhắn tin không trả lời và ông mất liên lạc với bà L1cho đến hôm nay.
Vào ngày 22/11/2024, ông mới hay tin Tòa án nhân dân Quận 4 xuống xem xét, thẩm định tại chỗ thửa đất nêu trên. Qua đó ông biết được bà L1đã mang tài sản của ông để vay ngân hàng. Bà L1đã vi phạm nghiêm trọng cam kết với ông.
Hiện tại trên thửa đất tranh chấp có những tài sản và những nhân khẩu đang cư trú như Biên bản xem xét, thẩm định của Tòa án. Trong quá trình sinh sống tại thửa đất trên ông không bỏ tiền ra tôn tạo, sửa chữa, xây dựng gì nên không yêu cầu về tiền xây dựng.
Ông yêu cầu ông C19lại thửa đất trên cho ông và ông đồng ý trả lại tiền cho ông C14sẽ cố gắng liên hệ với ông C13thương lượng, thỏa thuận cùng với ông C19nợ ngân hàng để chuộc lại thửa đất trên cho gia đình. Hiện tại thửa đất trên không có đang tranh chấp, khởi kiện tại Tòa án nào khác.
Tại Biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần T9 H3bày: Ông là con ruột của bà Dương Ánh T8(chết vào tháng 02 năm 2024) và ông Trần Văn H1(đã chết vào năm nào ông không nhớ vì đã lâu). Ông H2và bà T16có 06 người con chung: ông Trần Tấn Hông Trần Tấn G2 Mộng T3bà Trần Kim Nông Tbà T T12cả những người con chung đều lập gia đình, sinh con và cùng nhau xây dựng 05 căn nhà trên thửa đất 346, tờ bản đồ số 6, địa chỉ: ấp K, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giangđể cư trú mấy chục năm nay. Nhà tự xây, không có xin phép cơ quan có thẩm quyền. Đến năm 2021, bà T16đã để lại thừa kế toàn bộ khu đất này cho ông Trần T9 B5chủ sở hữu. Ông Bóđồng ý cho tất cả anh em trong gia đình sinh sống ở đây. Đến năm 2022, ông B7nhượng thửa đất trên cho ông Nguyễn Văn C16 tất cả mọi người trong gia đình đều không hay biết việc này. Đến khi ông C15nhà tìm ông B8đòi nợ thì ông B9chỉ vay tiền ông C14và mọi người không biết ông C16ai. Rồi khoảng năm 2023, Ngân hàng cùng chính quyền địa phương có xuống thửa đất trên để kiểm tra. Ông hỏi ra thì mới biết ông B10chuyển nhượng thửa đất này cho ông C171,5 tỷ đồng.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông không đồng ý vì chuyện vay nợ, chuyển nhượng giữa ông C18ông B11phức tạp, ông không hay biết gì hết. Do quá xa xôi, đi lại khó khăn và bận công việc nên ông xin được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của Tòa. Nếu buổi triệu tập nào ông đi được thì ông sẽ đi.
Bị đơn ông Nguyễn Văn C17 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (trừ ông B13ông H5mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Các đương sự vắng mặt cũng không gửi văn bản có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho Tòa án nên không thể thu thập ý kiến của ông.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần T9 B12mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần T9 H6đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Văn C17 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (trừ ông B13ông H5mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Việc Tòa án thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ lý và giải quyết vụ án đúng các quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn trả số nợ gốc và lãi theo các hợp đồng đã ký. Trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng TMCC27C3có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án kê biên, phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 346, tờ bản đồ số 6, địa chỉ: ấp K, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giangtheo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV664035, số vào sổ cấp GCN: CH07150 do UBND thành phố P ngày 14/04/2021 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Pchuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn C10 để thu hồi khoản nợ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng:
- - Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Xét nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ còn thiếu theo Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết, như vậy có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về tranh chấp “Hợp đồngtín dụng”. Bị đơn có nơi cư trú tại Quận D thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Thủ tục mở phiên tòa vắng mặt đương sự: Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (trừ ông B13ông H7được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần T9 H8 vắng mặt (có yêu cầu giải quyết vắng mặt). Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2]. Về nội dung:
- - Về yêu cầu ông Nguyễn Văn C18 bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và tiền phạt chậm trả lãi theo Hợp đồng cho vay số 22.099.009/2022-HĐCV/NHCT908-NGUYENVANCHIEN ngày 08/4/2022 và Hợp đồng kiêm giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 05/5/2022.
Hội đồng xét xử nhận thấy, căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định ngày 08/4/2022, ông Nguyễn Văn C2 có ký Hợp đồng cho vay số 22.099.009/2022-HĐCV/NHCT908-NGUYENVANCHIEN để vay số tiền 25.000.000.000 đồng; Thời hạn cho vay: 240 tháng tính từ ngày giải ngân; Mục đích sử dụng tiền vay: thanh toán nguồn vốn đã đáp ứng trước để chi trả chi phí nhận quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 346, Tờ bản đồ số 8, Địa chỉ Ấp khu tượng, xã C, Thành phố P, tỉnh Kiên GiangLãi suất tại thời điểm cho vay: 10.3%/năm. Thực hiện các hợp đồng nêu trên, V2Chi nhánh 4 đã giải ngân khoản vay theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 08/4/2022 của ông Nguyễn Văn C2
Ngoài ra, 05/5/2022, ông Nguyễn Văn C19 Hợp đồng kiêm giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng, cụ thể: Hạn mức thẻ tín dụng: 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. Loại thẻ Mastercard; ngày đến hạn thanh toán: ngày 26 hàng tháng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Văn C5 toán cho V2tổng số tiền là 2.109.510.857 đồng (Trong đó, nợ gốc: 270.000.000 đồng, nợ lãi: 1.839.510.857 đồng).
Khoản nợ bắt đầu quá hạn từ ngày 27/01/2023, ông Nguyễn Văn C6 hiện trả nợ theo như cam kết trong Hợp đồng tín dụng, các Giấy nhận nợ. V2đã gửi nhiều thông báo, công văn yêu cầu trả nợ nhưng ông Nguyễn Văn C6 hiện.
Tính đến thời điểm ngày 07/3/2025, ông Nguyễn Văn C7 nợ V2tổng số tiền là 33.521.721.499 đồng. Trong đó, nợ gốc khoản vay là 24.730.000.000 đồng, lãi trong hạn: 7.641.592.245 đồng, lãi quá hạn: 181.579.685 đồng, phạt chậm trả lãi: 829.339.269 đồng và nợ gốc khoản thẻ là: 97.582.787 đồng, nợ lãi: 41.627.513 đồng, tổng cộng: 139.210.300 đồng.
Xét việc thỏa thuận giữa các bên là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 91, điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng mà các bên đã ký kết. Cho nên, Ngân hàng yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn thiếu là có cơ sở.
Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Hợp đồng cho vay số 22.099.009/2022-HĐCV/NHCT908-NGUYENVANCHIEN ngày 08/4/2022, Hợp đồng kiêm giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 05/5/2022, các Điều 90; 91; 95 và Điều 108 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, căn cứ vào các Điều 357, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Văn C2 có trách nhiệm trả cho nguyên đơn một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật toàn bộ số tiền còn phải thanh toán tạm tính đến hết ngày 07/3/2025 là 33.382.511.199 đồng (Bao gồm nợ gốc khoản vay là 24.730.000.000 đồng, lãi trong hạn: 7.641.592.245 đồng, lãi quá hạn: 181.579.685 đồng, phạt chậm trả lãi: 829.339.269 đồng). Buộc ông Nguyễn Văn C2 phải trả ngay cho Ngân Hàng TMCC27C3toàn bộ số tiền còn phải thanh toán của thẻ tín dụng tạm tính đến hết ngày 07/3/2025 là 139.210.300 đồng (bao gồm nợ gốc khoản thẻ là: 97.582.787 đồng, nợ lãi: 41.627.513 đồng) theo Hợp đồng kiêm giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 05/5/2022. Ngoài ra, ông Nguyễn Văn C9 trả các khoản lãi (trong hạn, quá hạn), lãi phạt và các chi phí khác (nếu có) phát sinh từ ngày 08/3/2025 cho đến khi Ngân hàng TMCC27C3thu hồi hết nợ, theo lãi suất quy định tại các hợp đồng đã ký và các văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng (nếu có).
- - Về yêu cầu: Trường hợp ông Nguyễn Văn C6 hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng TMCC27C3có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án kê biên, phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 346, tờ bản đồ số 8, địa chỉ: ấp K, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang
Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 08/4/2022, ông Nguyễn Văn C20 hàng TMCC27C3có ký Hợp đồng thế chấp tài sản SO 22.099.009/2022/HĐBĐ/NHCT908. Hợp đồng đã được công chứng tại Phòng C4tỉnh Kiên Giang theo số 05375, quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh V2theo số thứ tự 476, quyển số 02 ngày 08/4/2022. Nội dung: Bên thế chấp: Ông Nguyễn Văn C21 sản thế chấp: Ông Nguyễn Văn C22 thế chấp: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 346, tờ bản đồ số 8, địa chỉ: ấp K, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang
Xét thấy: Tài sản thế chấp là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn C23 chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV664035, số vào sổ cấp GCN: CH07150 do UBND thành phố P ngày 14/4/2021 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Pchuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn C10. Như vậy ông C16chủ sở hữu hợp pháp của thửa đất trên và việc ông C23chấp tài sản trên cho khoản vay của mình là phù hợp quy định tại Điều 317 và 318 Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng phát mãi tài sản trên trong trường hợp ông Cóthanh toán xong hợp đồng tín dụng.
Sau khi ông C24toán xong toàn bộ khoản nợ nêu trên, Ngân Hàng TMCP C28 nhiệm trả lại cho ông C25chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV664035, số vào sổ cấp GCN: CH07150 do UBND thành phố Pcấp ngày 14/4/2021.
Ông Trần Tấn B13ông Trần T9 H6lời khai ông B14vay tiền của ông Nguyễn Văn C24 có chuyển nhượng thửa đất cho ông CTuy nhiên, các đương sự không đưa ra được chứng cứ nào chứng minh cho lời trình bày của mình. Ông B15xác nhận hiện tại thửa đất trên không có đang tranh chấp, khởi kiện tại Tòa án nào khác. Vì vậy, lời khai của các đương sự là không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn; Trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q
Về chi phí thẩm định tài sản là 60.000.000 (Sáu mươi triệu) đồng, do Ngân Hàng TMCP C28 đã nộp tạm ứng nên bị đơn – ông Nguyễn Văn C25 nghĩa vụ thanh toán lại cho Ngân Hàng TMCP C28 toàn bộ chi phí thẩm định tài sản 60.000.000 (Sáu mươi triệu) đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào các Điều 90, 91, 95 và 98 Luật các Tổ chức tín dụng;
- - Căn cứ vào các Điều 295, 296, 299, 303, 317, 318, 321, 322, 323, 463, 466, 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- - Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân Hàng TMCC28 C27bị đơn ông Nguyễn Văn C26 vụ thanh toán một lần sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho Ngân Hàng TMCC27C3số tiền còn phải thanh toán tính đến hết ngày 07/3/2025 là 33.382.511.199 đồng. Bao gồm nợ gốc khoản vay là 24.730.000.000 đồng, lãi trong hạn: 7.641.592.245 đồng, lãi quá hạn: 181.579.685 đồng, phạt chậm trả lãi: 829.339.269 đồng, theo Hợp đồng cho vay số 22.099.009/2022-HĐCV/NHCT908-NGUYENVANCHIEN ngày 08/4/2022.
Buộc ông Nguyễn Văn C8 ngay cho Ngân Hàng TMCC27C3toàn bộ số tiền còn phải thanh toán của thẻ tín dụng tạm tính đến hết ngày 07/3/2025 là 139.210.300 đồng (bao gồm nợ gốc khoản thẻ là: 97.582.787 đồng, nợ lãi: 41.627.513 đồng) theo Hợp đồng kiêm giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 05/5/2022.
Tổng cộng số tiền ông C8thanh toán cho ngân hàng tính đến ngày 07/3/2025: 33.521.721.499 (Ba mươi ba tỷ năm trăm hai mươi mốt triệu bảy trăm hai mươi mốt nghìn bốn trăm chín mươi chín) đồng.
Ngoài ra, ông Nguyễn Văn C9 trả các khoản lãi (trong hạn, quá hạn), lãi phạt và các chi phí khác (nếu có) phát sinh từ ngày 08/3/2025 cho đến khi Ngân hàng TMCC27C3thu hồi hết nợ, theo lãi suất quy định tại các hợp đồng đã ký và các văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng (nếu có).
Trường hợp ông Nguyễn Văn C27 hành hoặc thi hành không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân Hàng TMCC27C3có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản mà ông C5thế chấp bảo đảm khoản vay là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 346, tờ bản đồ số 8, địa chỉ: ấp K, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giangtheo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV664035, số vào sổ cấp GCN: CH07150 do UBND thành phố P ngày 14/4/2021 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Pchuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn C10.
Nếu số tiền phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thanh toán khoản nợ trên thì ông C9phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại.
Sau khi ông C24toán xong toàn bộ khoản nợ nêu trên, Ngân Hàng TMCP C28 nhiệm trả lại cho ông C25chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV664035, số vào sổ cấp GCN: CH07150 do UBND thành phố Pcấp ngày 14/4/2021.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- 2.1 Bị đơn phải nộp: 141.521.721 (Một trăm bốn mươi mốt triệu năm trăm hai mươi mốt nghìn bảy trăm hai mươi mốt) đồng.
- 2.2 Trả lại cho nguyên đơn Ngân Hàng TMCC27C3toàn bộ số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp là 67.616.000 (Sáu mươi bảy triệu sáu trăm mười sáu nghìn) đồng theo biên lai số AA/2023/0042501 ngày 06/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4.
- 2.3 Về chi phí thẩm định tài sản là 60.000.000 (Sáu mươi triệu) đồng, do Ngân Hàng TMCP C28 đã nộp tạm ứng nên bị đơn – ông Nguyễn Văn C25 nghĩa vụ thanh toán lại cho Ngân Hàng TMCC27C3 toàn bộ chi phí thẩm định tài sản là 60.000.000 (Sáu mươi triệu) đồng.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Huỳnh Tấn Phát |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Võ Thanh Nga Đinh Kim Hoàng | Huỳnh Tấn Phát |
Bản án số 32/2025/DS-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 32/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
