|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH Bản án số: 32/2025/DS-ST Ngày: 03 - 4 - 2025 “V/v tranh chấp đòi lại tài sản” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Cương
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan;
- Ông Đặng Thái Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Trọng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 424/2024/TLST-DS ngày 16/10/2024 về “Tranh chấp đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn C, xã N, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh, vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1967; địa chỉ: Tổ D, khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (là Người đại diện theo ủy quyền theo Hợp đồng ủy quyền ngày 15/10/2024), vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1997; nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 10 năm 2024 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Nguyễn Thị X là bà Nguyễn Thị H trình bày:
Chị Nguyễn Thị T thông qua môi giới có nhu cầu lấy chồng Trung Quốc, người Trung Quốc đó là em chồng của chị Nguyễn Thị X. Trong thời gian tìm hiểu thì chị T hay điện thoại nói chuyện với chị X, nên tin tưởng nhau, chị T lợi dụng lòng tốt của chị X nên có mượn tiền chị X, chị X đã chuyển khoản cho chị T mượn số tiền 95.000.000 đồng và nhận tiền mặt 5.000.000 đồng.
Do chị T có nhu cầu đi Trung Quốc chơi tìm hiểu chồng tương lai nên có nhờ chị X làm visa, chị X đồng ý bỏ tiền làm visa cho chị T, chi phí làm visa hết số tiền 30.000.000 đồng. Chị T hẹn chị X về Việt Nam đón chị T, chị T có gửi vị trí nhà cho chị X để đến nhà. Nhưng khi chị X đến nhà thì chị T lánh mặt không gặp và hứa trả lại tiền cho chị X nhưng không trả.
Đến nay, chị X phát hiện chị T đã có chồng, con và không có ý định lấy chồng Trung Quốc và chị X đã yêu cầu chị T trả tiền lại cho chị T nhưng chị T cứ hứa hẹn mà không trả tiền cho chị X nên chị X mới khởi kiện.
Nay khởi kiện, chị X yêu cầu chị T trả lại cho chị X số tiền 100.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi. Chị X xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chị X không yêu cầu chị T trả chi phí làm visa là số tiền 30.000.000 đồng. Ngoài ra, chị X không trình bày gì thêm.
Bị đơn chị Nguyễn Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án không ghi nhận ý kiến.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh:
- + Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử, đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa.
- + Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị X đối với chị T, buộc chị T trả cho chị X số tiền 100.000.000 đồng.
- Án phí: Chị T phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
- Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị X vắng mặt, Người đại diện hợp pháp của chị X là bà Nguyễn Thị H vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn chị Nguyễn Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với tất cả các đương sự.
- Về nội dung vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị X khởi kiện yêu cầu bị đơn chị Nguyễn Thị T trả số tiền 130.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi. Bị đơn chị Nguyễn Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý do việc không thực hiện được nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị X, thấy rằng:
Theo các chứng từ chuyển khoản mà nguyên đơn cung cấp thể hiện chị X đã chuyển khoản vào số tài khoản 0841000093109 của chị T, mở tại Ngân hàng V số tiền 95.000.000 đồng, cụ thể, ngày 16/9/2024, chị X có chuyển khoản cho chị T số tiền 20.000.000 đồng và số tiền 5.000.000 đồng, ngày 19/9/2024, chị X có chuyển khoản cho chị T số tiền 35.000.000 đồng, ngày 23/9/2024, chị X có chuyển khoản cho chị T số tiền 35.000.000 đồng.
Theo bản cam kết đề ngày 03/10/2024, thể hiện nội dung “tôi tên Nguyễn Thị T, tôi đồng ý và cam kết có quen chị Nguyễn Thị X và tôi có nhờ chị X giới thiệu cho tôi lấy chồng Trung Quốc, tôi tự nguyện sang Trung Quốc lấy chồng không 1 lời bắt buộc ép buộc nào cả và tôi có lấy của chị X 100.000.000 đồng, nếu tôi làm sai tôi sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm hoàn trả tất cả khoản chi phí như làm giấy tờ đi lại” ký tên “Nguyễn Thị T” và bản cam kết đề ngày 07/10/2024, có nội dung “tôi tên Nguyễn Thị T ngày 07-10-2024 tối mai em kº có mặt tại khách sạn P phòng chị xuyên để chị chị xuyên thì tôi sẽ chịu trách nhiệm 100% các khoản bồi thường em đã từng có con và đã không nói cho chị xuyên biết rõ em cũng sẽ kº để cho nhà chồng em biết rõ nếu em để nhà chồng em biết em sẽ chịu trách nhiệm toàn bộ sự việc”, ký tên “Nguyễn Thị T”.
Như vậy, có căn cứ xác định chị T đã nhận của chị X số tiền 100.000.000 đồng và cần buộc chị T có nghĩa vụ trả lại cho chị X số tiền 100.000.000 đồng. Ghi nhận chị X thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về việc không yêu cầu chị T trả chi phí làm visa với số tiền 30.000.000 đồng.
- Từ những nhận định trên, cần buộc chị T có nghĩa vụ trả cho chị X số tiền là 100.000.000 đồng là phù hợp với Điều 166 của Bộ luật Dân sự.
- Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chị X không phải chịu nên được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Chị T phải chịu 5.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 147, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị X đối với chị Nguyễn Thị T về việc tranh chấp đòi lại tài sản.
Buộc chị Nguyễn Thị T có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị X số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. Ghi nhận, chị Nguyễn Thị X không yêu cầu tính tiền lãi.
Kể từ ngày người được thi hành án chị Nguyễn Thị X có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chị Nguyễn Thị T không thi hành số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án chị Nguyễn Thị T còn phải trả cho người được thi hành án chị Nguyễn Thị X số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí:
- Chị Nguyễn Thị X không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên hoàn trả lại cho chị X 3.250.000 (ba triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006745 ngày 16/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Chị Nguyễn Thị T phải chịu 5.000.000 (năm triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Văn Cương |
Bản án số 32/2025/DS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 32/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi tài sản giữa bà X với chị T
