Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH SƠN

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày 23 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đạo Văn Đậu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Ngọc Sơn

2. Ông Lê Phùng Sang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Diễm T; Sinh ngày: 26/9/1987, tại tỉnh Ninh Thuận

- Nơi ĐKNKTT: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Thành P và bà: Trần Thị H; Có 03 anh, chị em lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1992; Chồng: Phạm Thái S ( Đã ly hôn); Con: Phạm Nguyễn Kim N, sinh ngày 06/9/2021.

- Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 21/7/2024 cho đến ngày xét xử. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

1. Ông Dương Ngọc T1, sinh năm: 1966

Người đại diện hợp pháp của bị hại.

Bà Dương Thị Ngọc T2, sinh năm: 1994- Là con ruột. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 20/01/2024, Nguyễn Thị Diễm T điều khiển xe mô tô biển số 85F1-066.75 lưu thông trên Quốc lộ B theo hướng P đi Đ, chở sau xe 01 chiếc loa (loại loa hát karaoke) để giao cho khách hàng thuê hát karaoke. Khi đến Km 251+300m thuộc địa phận thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, T đang điều khiển xe trên làn đường xe cơ giới theo đúng quy định thì nhìn thấy đèn chiếu sáng của 01 xe ô tô (không xác định được đặc điểm) lưu thông hướng ngược chiều đang chạy tới làm T chói mắt, cùng lúc có 01 xe ô tô (không xác định được đặc điểm) lưu thông cùng chiều phía sau xe của T đang vượt lên ngang với xe của T. Thấy vậy, T đánh lái chuyển hướng xe sang làn đường xe thô sơ thì phát hiện phía trước cách đầu xe T khoảng 02 mét có ông Dương Ngọc T1, sinh năm 1966, trú tại thôn P, cùng xã M đang đi bộ đến, nhưng do khoảng cách quá gần T không kịp đạp thắng (phanh), né tránh nên xe mô tô T điều khiển tung thẳng vào ông T1 làm ông T1 ngã văng vào trong lề đường, T và xe mô tô ngã xuống đường. Sau đó ông T1 và T được đưa đi cấp cứu, lực lượng chức năng đến khám nghiệm hiện trường.

* Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, lập hồi 20 giờ 15 phút ngày 20/01/2024, thể hiện:

Hiện trường xảy ra tai nạn là Km 251+300m, Quốc lộ B, thôn P, xã M, tỉnh Ninh Thuận, là đoạn đường thẳng dốc lên, được trải nhựa bằng phẳng, chiều rộng mặt đường 10,80 mét, có vạch kẻ đứt quảng giữa đường màu vàng, chia thành 02 phần đường riêng biệt; chiều rộng bên phải hướng P đi Đà lạt là 5,50 mét, được chia thành 02 làn đường cho xe cơ giới và xe thô sơ, làn đường xe thô sơ rộng 1,60 mét.

Lấy mép đường nhựa bên phải hướng Phan R đi Đ làm lề chuẩn, đồng thời là hướng khám nghiệm.

Tại hiện trường có các đồ vật, dấu vết để lại trên mặt đường là: 02 vết cày không liên tục có chiều dài là 10,20 mét và 6,70 mét hướng Phan Rang đi Đ; 01 chiếc loa màu đen, vàng, kích thước (73 x 47)cm; 01 xe mô tô biển số 85F1-066.75 nằm ngã nghiêng bên trái, đầu xe quay hướng Đ, đuôi xe quay hướng P.

Kết quả khám nghiệm: 02 vết cày, chiếc loa và xe mô tô đều nằm trên làn đường xe thô sơ. (Bút lục: 23-27).

* Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 110/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 23/4/2024 của Trung tâm G, Sở y tế tỉnh N, kết luận:

  • - Tỉ lệ phần trăm thương tật đối với từng vết thương gây nên tại thời điểm giám định của Dương Ngọc T1 là:
  • + Liệt mềm hoàn toàn tứ chi mức độ vừa, mất phản xạ hoàn toàn (81%);
  • + Vết thương cung mày trái đã lành sẹo kích thước (3,5x1,5)cm (06%);
  • + Vết thương mặt trước 1/3 giữa cẳng chân phải sẹo liền kích thước (3x1)cm (02%);
  • + Vết mổ dọc mặt sau chẩm xuống cột sống cổ C5 sẹo liền tốt kích thước (5,5x0,5)cm (04%).

- Tổng tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Dương Ngọc T1 tại thời điểm giám định là 83%.

- Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương qua điều trị nhận định do vật tày gây nên.

Xử lý vật chứng: Tại giai đoạn điều tra đã tạm giữ, sau đó trả lại các tài sản cho chủ sở hữu gồm: 01 xe mô tô biển số 85F1-066.75; 01 chiếc loa màu đen, vàng, kích thước (73 x 47)cm; 01 Giấy phép lái xe số [...] hạng A1; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe số 006062. Chủ sở hữu tài sản là Nguyễn Thị Diễm T.

Về phần dân sự:

Đại diện cho bị hại Dương Ngọc T1 là chị Dương Thị Ngọc T2 yêu cầu Nguyễn Thị Diễm T bồi thường 400.000.000 đồng, gồm các khoản: Chi phí điều trị thương tích 150.000.000 đồng; Chi phí thuê xe cấp cứu, oxi, điều dưỡng 25.000.000 đồng; C chăm sóc, nuôi dưỡng, ăn uống 70.000.000 đồng; Tiền tổn thất về tinh thần 145.000.000 đồng. Nguyễn Thị Diễm T không đồng ý và đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Cáo trạng số: 33/CT-VKSNS-HS ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo:

Nguyễn Thị Diễm T về tội: “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Tại phiên tòa sơ thẩm: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã trình bày tại Cơ quan Cảnh sát điều tra. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Diễm T từ 18 tháng đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng.

Về dân sự:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự, buộc Nguyễn Thị Diễm T bồi thường cho ông Dương Ngọc T1 số tiền 296.776.444 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền 20.000.000 đồng đã bồi thường, còn phải bồi thường 276.776.444 đồng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin lỗi gia đình bị hại và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, Kiểm sát viên; Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Diễm T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản giám định; Kết quả điều tra và các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án.

[3] Vào lúc 19 giờ ngày 20/01/2024, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 85F1-006.75 lưu thông trên quốc lộ B theo hướng P đi Đ, đến Km 251+300m thuộc địa phận thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, gặp xe ô tô ngược chiều sử dụng đèn chiếu sáng làm bị cáo chói mắt, tầm nhìn bị hạn chế, đồng thời cùng lúc có xe ô tô từ phía sau vượt bên trái xe bị cáo, nhưng bị cáo không giảm tốc độ xe để có thể dừng lại một cách an toàn, mà bị cáo lại điều khiển xe chuyển sang làn đường xe thô sơ làm xe của bị cáo tung vào ông Dương Ngọc T1 đi bộ ngược chiều gây tai nạn. Hậu quả ông Dương Ngọc T1 bị tổn thương cơ thể 83%.

Như vậy, bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 13 Luật Giao thông đường bộ; khoản 2 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT, ngày 28/9/2019 của Bộ G1 quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.

[4] Hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi vô ý, đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác và gián tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý Nhà nước về lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, để có tác dụng và phòng ngừa chung.

Cáo trạng số 33/CT-VKSNS ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn truy tố bị cáo về tội: “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ.

[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là lao động duy nhất và đang 01 nuôi người con dưới 36 tháng tuổi, chồng đã ly hôn, hoàn cảnh khó khăn được địa phương xác nhận. Sự việc xảy ra có phần lỗi của bị hại đi ngược chiều. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo qui định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là nhằm tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội tự rèn luyện bản thân trở thành công dân tốt.

[7] Về xử lý vật chứng:

01 xe mô tô biển số 85F1-066.75; 01 chiếc loa màu đen, vàng, kích thước (73 x 47)cm; 01 Giấy phép lái xe số [...] hạng A1; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe số 006062.Quá trình điều tra thu giữ và đã trả cho Nguyễn Thị Diễm T và T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên không đề cập.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, người đại diện hợp pháp cho bị hại Dương Ngọc T1 là chị Dương Thị Ngọc T2 yêu cầu Nguyễn Thị Diễm T bồi thường 400.000.000 đồng, gồm các khoản: Chi phí điều trị thương tích 150.000.000 đồng; Chi phí thuê xe cấp cứu, oxi, điều dưỡng 25.000.000 đồng; C chăm sóc, nuôi dưỡng, ăn uống 70.000.000 đồng; Tiền tổn thất về tinh thần 145.000.000 đồng. Nguyễn Thị Diễm T không đồng ý và đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bà Dương Thị Ngọc T2 thống nhất yêu cầu giải quyết theo qui định pháp luật và yêu cầu bổ sung chi phí mai táng 40.000.000 đồng vì cha bà, ông Dương Ngọc T1 chết ngày 21/7/2024.

Qua xem xét các chứng cứ, hóa đơn và các khoản chi phí hợp lệ, phù hợp với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận các khoản chi phí sau:

  • - Chi phí điều trị: 123.176.436 đồng ( bao gồm bình oxi và mua các dụng cụ)
  • - Chi phí đi lại: 11.050.000 đồng.
  • - Ngày công không lao động được: 01 người x 41 ngày x 200.000 đồng là 8.200.000 đồng.
  • - Ngày công người chăm sóc: 01 người x 41 ngày x 200.000 đồng = 8.200.000 đồng.
  • - Tổn thất tinh thần: 60.000.000 đồng.
  • - Tiền bồi dưỡng trong thời gian điều trị và ra viện: 20.000.000 đồng.
  • - Về chi phí mai táng 20.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận thống nhất nên ghi nhận.

Buộc Nguyễn Thị Diễm T phải bồi thường cho gia đình bị hại tổng các khoản chi phí là 250.626.436 đồng nhưng được khấu trừ số tiền đã bồi thường 30.000.000 đồng nên buộc Nguyễn Thị Diễm T phải bồi thường là 220.626.436 đồng. Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000 đồng, Nguyễn Thị Diễm T đã nộp theo biên lai số 000800 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Sơn ngày 22/7/2024, để bảo đảm việc bồi thường cho gia đình bị hại.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Diễm T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Diễm T 18 ( Mười tám) tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 ( Ba mươi sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Diễm T cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 586 và Điều 590 Bộ luật Dân sự.

Buộc Nguyễn Thị Diễm T phải bồi thường cho gia đình bị hại tổng các khoản chi phí là 250.626.436 đồng nhưng được khấu trừ số tiền đã bồi thường 30.000.000 đồng nên buộc Nguyễn Thị Diễm T phải bồi thường số tiền còn lại là 220.626.436 đồng. Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000 đồng, Nguyễn Thị Diễm T đã nộp theo biên lai số 000800 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Sơn ngày 22/7/2024, để bảo đảm việc bồi thường cho gia đình bị hại.

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Buộc bị cáo Nguyễn Thị Diễm T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 11.000.000 đồng ( Mười một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo:

Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Án xử công khai có mặt bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Sơn;
  • - CA huyện Ninh Sơn;
  • - THAHS CA huyện Ninh Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Sơn;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - PV 27 Công an tỉnh Ninh Thuận;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đạo Văn Đậu

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trang phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger