trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH CHƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32 /2024/DSST

Ngày: 25/9/2024

V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thái Trường Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đắc Sửu, ông Nguyễn Doãn Ước.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bá Anh. Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thuỳ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024. Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 27/2024/TLST- DS, ngày 16 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST-DS, ngày 18/9/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ ( B)
  2. Địa chỉ: T, A T, Quận H, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T. Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

    Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Tuấn P; Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh P.

    Người được ông Nguyễn Tuấn P uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Mai Tiến D; Chức vụ: Giám đốc Phòng G.

    Địa chỉ: Khối B, Thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên toà.

  3. Bị đơn:
    1. Ông Nguyễn Cảnh N, sinh năm 1963.
    2. Địa chỉ: Khối E, thị trấn T, huyện T, tỉnh NGhệ An. Vắng mặt.

    3. Bà Lê Thị A, sinh năm 1970.
    4. Địa chỉ: Khối E, thị trấn T, huyện T, tỉnh NGhệ An. Vắng mặt.

  4. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1994.
    2. Địa chỉ: K ( nay là khối) 5A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

    3. Anh Nguyễn Cảnh M, sinh năm 1996.
    4. Địa chỉ: K ( nay là khối) 5A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

    5. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1992.
    6. Địa chỉ: K ( nay là khối) 5A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa, đại diện của nguyên đơn, trình bày như sau:

Ngày 13 tháng 6 năm 2017 giữa Phòng G, chi nhánh P1 của Ngân hàng TMCP Đ ( B) với ông Nguyễn Cảnh N và bà Lê Thị A có ký kết Hợp đồng tín dụng số 01/2017/8132068/HĐTD với nội dung bên phía Ngân hàng TMCP Đ (B) cho ông Nguyễn Cảnh N và bà Lê Thị A vay số tiền 100.000.000 đồng với thời hạn vay là 11 tháng. Thời hạn vay tính từ ngày 13/6/2017. Khi vay hai bên thống nhất mức lãi suất áp dụng với khoản vay này là 10%/năm cố định, lãi suất nợ quá hạn được áp dụng là 150% lãi suất cho vay trọng hạn và mức lãi chậm trả đối với khoản tiền lãi chậm trả là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Bên vay có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số nợ gốc của khoản vay này tính vào ngày đáo hạn của Hợp đồng và lãi suất sẽ phải thanh toán 3 tháng/1 lần vào ngày 25 hàng tháng.

Khi vay số tiền này thì ông Nguyễn Cảnh N và bà Lê Thị A được sự uỷ quyền của các con là chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị H1 và anh Nguyễn Cảnh M có ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2015/8132068/HĐBĐ, ngày 07 tháng 12 năm 2015 với nội dung thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 1782, tờ bản đồ số 24 tại khối A ( nay là khối E) thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Nguyễn Cảnh N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất số BY 965539 theo số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH 00920, ngày 18/09/2015.

Sau khi vay được số tiền trên thì ông Nguyễn Cảnh N và và bà Lê Thị An D1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ.

Tính đến thời điểm hiện nay thì ông Nguyễn Cảnh N và bà Lê Thị A chỉ mới thanh toán được cho Ngân hàng số tiền gốc là 5.600.000 đồng.

Tính đến thời điểm hiện nay ông Nguyễn Cảnh N và bà Lê Thị A còn nợ Ngân hàng TMCP Đ số tiền cụ thể như sau:

  • Nợ gốc là 94.400.000 đồng
  • Nợ lãi thông thường 62.675.041 đồng.
  • Nợ lãi quá hạn: 30.164.425 đồng

Nay Ngân hàng TMCP Đ đề nghị Toà án buộc ông Nguyễn Cảnh N và bà Lê Thị A thanh toán số tiền trên đồng thời tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp đã ký đối với thửa đát số 1782, tờ bản đồm số 24 địa chỉ thửa đất khối 13 ( nay là khối E) thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An để đảm bảo cho việc thi hành án.

Ngoài ra Ngân hàng không có yêu cầu gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về mặt thủ tục tố tụng. Còn về nội dung: đề nghị Tòa án, xử: Buộc vợ ông Nguyễn Cảnh N và bà Lê Thị A liên đới chịu trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Đ (B) số tiền gốc là 94.400.000 đồng, số tiền lãi thông thường 62.675.041 đồng, số tiền lãi quá hạn: 30.164.425 đồng. Đồng thời duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số số 01/2015/8132068/HĐBĐ, ngày 07 tháng 12 năm 2015 với nội dung thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 1782, tờ bản đồ số 24 tại khối A ( nay là khối E) thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Nguyễn Cảnh N để đảm bảo thi hành án.

Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Cảnh N và bà Lê Thị An C chi phí tố tụng theo quy định.

Về án phí. Buộc ông Nguyễn Cảnh N và bà Lê Thị A chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trả số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng, cho nên đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Bị đơn có nơi cư trú tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Cho nên: Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, triệu tập hợp lệ, nhưng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt. Đây là phiên tòa được mở lần thứ hai, nhưng bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt tại phiên tòa, cho nên Tòa án vẫn xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Ngày 13 tháng 6 năm 2017 giữa Phòng G, chi nhánh P1 của Ngân hàng TMCP Đ ( B) với ông Nguyễn Cảnh N và bà Lê Thị A có ký kết Hợp đồng tín dụng số 01/2017/8132068/HĐTD với nội dung bên phía Ngân hàng TMCP Đ (B) cho ông Nguyễn Cảnh N và bà Lê Thị A vay số tiền 100.000.000 đồng với thời hạn vay là 11 tháng. Thời hạn vay tính từ ngày 13/6/2017. Khi vay hai bên thống nhất mức lãi suất áp dụng với khoản vay này là 10%/năm cố định, lãi suất nợ quá hạn được áp dụng là 150% lãi suất cho vay trọng hạn và mức lãi chậm trả đối với khoản tiền lãi chậm trả là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Bên vay có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số nợ gốc của khoản vay này tính vào ngày đáo hạn của Hợp đồng và lãi suất sẽ phải thanh toán 3 tháng/1 lần vào ngày 25 hàng tháng.

Khi vay số tiền này thì ông Nguyễn Cảnh N và bà Lê Thị A được sự uỷ quyền của các con là chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị H1 và anh Nguyễn Cảnh M có ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2015/8132068/HĐBĐ, ngày 07 tháng 12 năm 2015 với nội dung thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 1782, tờ bản đồ số 24 tại khối A ( nay là khối E) thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Nguyễn Cảnh N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất số BY 965539 theo số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH 00920, ngày 18/09/2015.

Sau khi vay được số tiền trên thì ông Nguyễn Cảnh N và và bà Lê Thị A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ.

Tính đến thời điểm hiện nay thì ông Nguyễn Cảnh N và bà Lê Thị A chỉ mới thanh toán được cho Ngân hàng số tiền gốc là 5.600.000 đồng.

Tính đến thời điểm hiện nay ông Nguyễn Cảnh N và bà Lê Thị A còn nợ Ngân hàng TMCP Đ số tiền cụ thể như sau:

  • Nợ gốc là 94.400.000 đồng.
  • Nợ lãi thông thường 62.675.041 đồng.
  • Nợ lãi quá hạn: 30.164.425 đồng

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trách nhiệm nghĩa vụ trả nợ số tiền gốc và lãi đã vay của hợp tín dụng số 01/2017/8132068/HĐTD vào ngày 13/6/2017 mà các bên đã ký kết, cũng như duy trì Hợp đồng thế chấp số 01/2015/8132068/HĐBĐ, ngày 07 tháng 12 năm 2015 với nội dung thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 1782, tờ bản đồ số 24 tại khối A ( nay là khối E) thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Nguyễn Cảnh N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất số BY 965539 theo số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH 00920, ngày 18/09/2015 để đảm bảo cho việc thi hành án đối với số tiền 187.379.466 đồng. Trong đó số tiền gốc là 94.600.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 25/9/2024 với lãi suất thông thường là 62.675.041 đồng và lãi suất quan hạn là 30.104.435 đồng là có căn cứ phù hợp với lời khai của nguyên đơn cũng như các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án.

[5] Xét ý kiến của Kiểm sát viên:

Các ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với lời khai của nguyên đơn và các chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được làm rõ tại phiên tòa.

[6] Vì vậy cần buộc ông Nguyễn Cảnh N và bà Lê Thị A còn nợ Ngân hàng TMCP Đ số tiền 187.379.466 đồng. Trong đó số tiền gốc là 94.600.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 25/9/2024 với lãi suất thông thường là 62.675.041 đồng và lãi suất quan hạn là 30.104.435 đồng. Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp số 01/2015/8132068/HĐBĐ, ngày 07 tháng 12 năm 2015 với nội dung thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 1782, tờ bản đồ số 24 tại khối A ( nay là khối E) thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Nguyễn Cảnh N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất số BY 965539 theo số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH 00920, ngày 18/09/2015 để đảm bảo cho việc thi hành án là hoàn toàn phù hợp với. Điều 274; 275; 288; 463; 465; 466; 468 Bộ luật dân sự

[7] Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu chi phí tố tụng theo quy định

[8] Về án phí: Bị đơn phải chịu tiền án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên ;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; Điều 147; 227, Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 274; 275; 288; 463; 466; 468 Bộ luật dân sự. Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Đ.
  2. Buộc Nguyễn Cảnh N và bà Lê Thị A còn nợ Ngân hàng TMCP Đ số tiền số tiền 187.379.466 đồng ( Một trăm tám mươi bảy triệu, ba trăm bảy mươi chín nghìn, bốm trăm sáu mươi sáu đồng). Trong đó số tiền gốc là 94.600.000 đồng ( Chín mươi tư triệu, sáu trăm nghìn đồng) và tiền lãi tính đến ngày 25/9/2024 với lãi suất thông thường là 62.675.041 đồng (Sáu mươi hai triệu, sáu trăm bảy mươi lăm nghìn, không trăm bốn mươi mốt đồng) và lãi suất qúa hạn là 30.104.435 đồng ( Ba mươi triệu, một trăm linh tư nghìn, bốn trăm ba mươi lăm đồng)
  3. Trường hợp vợ chồng ông Nguyễn Cảnh N và bà Lê Thị A, không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ số nợ nói trên cho Ngân hàng TMCP Đ, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp đối với thửa đất số 1782; Tờ bản đồ số 24 ; Địa chỉ thửa đất: Khối E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Cảnh N và Lê Thị A ngày 13 tháng 4 năm 2015; theo Hợp đồng thế chấp số giữa với Ngân hàng TMCP Đ đã được đăng ký giao dịch thế chấp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T ( nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T ), tỉnh Nghệ An, vào ngày 07 tháng 12 năm 2015 theo quy định của pháp luật.

    Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp dùng để thanh toán theo thứ tự mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp. Nếu còn thừa thì được trả lại cho bên thế chấp tài sản; trường hợp tài sản thế chấp không đủ để trả nợ, thì vợ chồng ông Nguyễn Cảnh N và Lê Thị A, còn phải tiếp tục trả tiếp số tiền còn thiếu cho đến khi thi hành xong.

    Trường hợp khi xử lý tài sản thế chấp, bên thế chấp đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ được bảo đảm hoặc thay đổi tài sản thế chấp bằng biện pháp bảo đảm khác và hai bên đã làm thủ tục giải trừ thế chấp, thì bên thế chấp được nhận lại toàn bộ giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng tài sản thế chấp và các giấy tờ liên quan ( nếu có ).

  4. Về chi phí tố tụng: Buộc Nguyễn Cảnh N và bà Lê Thị A phải tả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền chi phí thẩm định là 2.000.000 đồng
  5. Về án phí:
    1. Trả lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP Đ, số tiền: 4.468.000 đồng ( Bốn triệu, bốn trăm sáu mươi tám nghìn ) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0011785 ngày 16/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
    2. Buộc Nguyễn Cảnh N và bà Lê Thị A phải chịu 9.368.900 đồng ( Chín triệu, ba trăm sáu mươi tám nghìn chín trăm đồng) tiền án phí dân sự.
  6. Kể từ ngày 26/9/2024, cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận, nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
  7. Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  8. Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
  9. Bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết công khai theo quy định.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - VKS huyện Thanh Chương
  • - Chi cục THA dân sự
  • - Các đương sự
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Trường Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/DSST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 32/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng _ Ngũ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger