|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-TP. HÀ NỘI ---------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc ---------------- |
Bản án số: 32/2024/KDTM-ST
Ngày 30/9/2024
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thu Hằng. |
| Các Hội thẩm nhân dân | : Ông Kiều Xuân Mai |
| Ông Trần Văn Khánh |
-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mê Linh.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Mai-Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 18/2024/TLST-KDTM ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2024/QĐXX-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C (V)
Địa chỉ : Số A T, quận H, Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền lại của Ngân hàng: Ông Nguyễn Việt H-Phó phòng tổng hợp-chi nhánh Q (Văn bản ủy quyền lại số 353/UQ-CNQM-TH ngày 01/7/2024).
Bị đơn: Công ty TNHH X
Địa chỉ: Số F, ngõ D đường X, phường X, quận B, Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Anh Trần Minh T-Giám đốc Công ty.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- -Ông Tạ Đình H1, sinh năm 1965
- -Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1968
- Địa chỉ: Tổ B, khu B, V, thành phố B, Bắc Ninh.
- -Ông Trần Anh P, sinh năm 1989
- Địa chỉ : Tổ dân phố C, phường X, quận B, Hà Nội.
- -Ông Trần Minh T, sinh năm 1982
- Địa chỉ: P, khu N, TDP N, phường Đ, quận B, Hà Nội.
- -Ông Trần Văn H3, sinh năm 1957
- -Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1960
- Địa chỉ: Xóm F, thôn D, xã M, Thị xã D, Hà Nam.
Có mặt nguyên đơn, bị đơn; vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/4/2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là ông Nguyễn Việt H-người đại diện theo ủy quyền lại của Ngân hàng TMCP C trình bày:
Ngày 24/11/2023, Ngân hàng TMCP C-chi nhánh Q ký Hợp đồng tín dụng số 23.88.0028/2023-HĐCVHM/NHCT264-MINHPHAT với Công ty TNHH X. Theo nội dung hợp đồng thì Ngân hàng đồng ý cấp tín dụng cho Công ty X với số tiền là 9.500.000.000đ, phương thức cho vay theo hạn mức, hạn mức cho vay của hợp đồng này bao gồm cả các khoản nợ được điều chỉnh bởi Hợp đồng cho vay hạn mức số 22.72.0058/2022 HĐCVHM/NHCT264-MINHPHAT ngày 16/9/2022 đã ký với Công ty X, mục đích cho vay để Công ty X bổ sung vốn hoạt động sản xuất kinh doanh. Thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày 24/11/2023 đến ngày 22/11/2024. Lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng là 9%/năm. Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn.
Thực tế số tiền mà Ngân hàng giải ngân cho Công ty X là 9.150.000.000₫ thể hiện ở 05 giấy nhận nợ:
- -Giấy nhận nợ số 05 ngày 30/5/2023 với số tiền 2.310.000.000đ.
- -Giấy nhận nợ số 07 ngày 08/9/2023 với số tiền 2.790.000.000đ.
- -Giấy nhận nợ số 01 ngày 23/11/2023 với số tiền 1.700.000.000₫.
- -Giấy nhận nợ số 02 ngày 30/11/2023 với số tiền 1.250.000.000đ.
- -Giấy nhận nợ số 03 ngày 01/12/2023 với số tiền 1.100.000.000đ.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên là 05 quyền sử dụng đất. Cụ thể:
- +Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 218, tờ bản đồ số 126 diện tích 139,1m² tại thôn Q, xã H, huyện T, Bắc Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 21/01/2022 mang tên ông Tạ Đình H1 theo Hợp đồng thế chấp số 23.88.0015A/2023/HĐBĐ/NHCT264 ngày 24/5/2023 tại Văn phòng C1. Tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 24/5/2023 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, Bắc Giang.
- +Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 32, tờ bản đồ số PL 12 diện tích 267m² tại thôn D, xã M, huyện D, Hà Nam theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 29/4/2022 mang tên ông Trần Anh P theo Hợp đồng thế chấp số 23.88.0015B/2023/HĐBĐ/NHCT264 ngày 23/5/2023 tại Văn phòng C2. Tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 23/5/2023 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D, Hà Nam.
- +Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 06, tờ bản đồ số PL 12 diện tích 444m² tại thôn D, xã M, huyện D, Hà Nam theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện D, Hà Nam cấp ngày 26/5/2006 cho hộ ông Trần Văn H3 và bà Nguyễn Thị T1. Ngày 02/12/2015 đăng ký biến động sang tên anh Trần Minh T tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện D, Hà Nam theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 18.52.009/2018/HĐBĐ/NHCT264 ngày 10/8/2018 tại Văn phòng C3 và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp ngày 24/11/2023 tại Văn phòng C2. Tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 10/8/2018 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C3, Hà Nam.
- +Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 33, tờ bản đồ số PL 12 diện tích 258m² tại thôn D, xã M, huyện D, Hà Nam theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 15/5/2020 mang tên ông Trần Minh T theo Hợp đồng thế chấp số 20.70.0015 ngày 25/12/2020 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp ngày 24/11/2023 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị T2. Tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 25/12/2020 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D, Hà Nam.
- +Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 31, tờ bản đồ số PL 12 diện tích 213m² tại thôn D, xã M, huyện D, Hà Nam theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 26/6/2019 mang tên ông Trần Văn H3 theo Hợp đồng thế chấp số 19.52.024 ngày 30/7/2019 tại Văn phòng C3 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp ngày 24/11/2023 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị T2. Tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 31/7/2019 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D, Hà Nam.
Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, Công ty X đã thanh toán trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc: 2.310.000.000đ và số tiền lãi: 2.129.041đ. Sau đó Minh P1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký giữa các bên nên ngày 08/3/2024 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản nợ của Công ty X sang nợ quá hạn.
Tạm tính đến ngày 30/9/2024, Công ty X còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 7.342.318.476đ. Trong đó: Nợ gốc: 6.839.943.019đ; nợ lãi trong hạn: 366.289.548₫ và nợ lãi quá hạn: 136.085.909₫.
Tại phiên tòa Ngân hàng đề nghị Công ty X phải có trách nhiệm thanh toán trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ trên. Đồng thời Công ty X phải có trách nhiệm trả tiền lãi phát sinh theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng và các giấy nhận nợ kể từ ngày 30/9/2024 cho đến khi Công ty X thanh toán xong toàn bộ khoản vay cho Ngân hàng.
Nếu trong trường hợp Công ty X không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng. Ngân hàng đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên phát mại toàn bộ các tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng để Ngân hàng thu hồi toàn bộ khoản nợ.
Ngoài ra Ngân hàng đề nghị Công ty X phải thanh toán trả cho Ngân hàng T4 chi phí xem xét, thẩm định mà Ngân hàng đã nộp cho Tòa án là 25.000.000đ.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/6/2024 và trong quá trình xét xử, bị đơn là Công ty TNHH X, do anh Trần Minh T là đại diện theo pháp luật của Công ty đồng thời cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Công ty X xác nhận về số tiền vay, thời gian vay, số tiền nợ và tài sản bảo đảm như Ngân hàng trình bày. Công ty X đồng ý thanh toán trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền hiện Công ty còn nợ. Tuy nhiên hiện nay Công ty đang gặp khó khăn trong việc kinh doanh nên Công ty đề nghị Ngân hàng cho Công ty trả dần khoản nợ.
Nếu trong trường hợp Công ty không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng thì anh T đồng ý để ngân hàng phát mại 02 tài sản của anh T đã thế chấp cho Ngân hàng để Ngân hàng thu hồi nợ.
Đối với các tài sản thế chấp của gia đình anh T, anh T đề nghị Ngân hàng xem xét giải chấp cho gia đình anh T.
Về số tiền chi phí xem xét, thẩm định: Do Công ty đang gặp khó khăn nên Công ty đề nghị Ngân hàng chịu cho Công ty A số tiền chi phí xem xét, thẩm định.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/7/2024, 24/7/2024 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T1 và ông Trần Văn H3 trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 31, tờ bản đồ số PL 12 diện tích 213m² tại thôn D, xã M, huyện D, Hà Nam là của ông Trần Văn H3 được bố mẹ đẻ tặng cho riêng. Thửa đất đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 26/6/2019 mang tên ông Trần Văn H3. Hiện ông bà đang sinh sống trên thửa đất này.
Năm 2019, ông H3 đã đứng ra thế chấp tài sản trên cho Ngân hàng TMCP C để đảm bảo cho khoản vay của Công ty TNHH X do con trai ông, bà là Trần Minh T làm giám đốc. Việc Công ty X vay tiền của Ngân hàng N thì ông, bà không nắm được.
Nay Ngân hàng khởi kiện Công ty X, quan điểm của ông bà: Về số tiền hiện Công ty X nợ Ngân hàng thì Công ty X phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng. Về tài sản thế chấp, ông bà đề nghị Ngân hàng giải chấp trả lại cho ông, bà.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/7/2024, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Tạ Đình H1 và bà Nguyễn Thị H2 trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 218, tờ bản đồ số 126 diện tích 139,1m² tại thôn Q, xã H, huyện T, Bắc Giang là của vợ chồng ông bà mua. Thửa đất đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 21/0/2022 mang tên ông Tạ Đình H1. Thửa đất này hiện ông bà để không chưa xây dựng tài sản gì trên đất.
Năm 2023, vợ chồng ông bà đã đứng ra thế chấp tài sản trên cho Ngân hàng TMCP C để đảm bảo cho khoản vay của Công ty TNHH X do con rể của ông, bà là Trần Minh T làm giám đốc. Việc Công ty X vay tiền của Ngân hàng N thì ông, bà không nắm được.
Nay Ngân hàng khởi kiện Công ty X, quan điểm của ông bà: Về số tiền hiện Công ty X nợ Ngân hàng thì Công ty X phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng. Về tài sản thế chấp, ông bà đề nghị Ngân hàng giải chấp trả lại cho ông, bà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Anh P: Tòa án đã báo gọi nhưng anh P không đến Tòa làm việc. Tòa án đã phối hợp cùng chính quyền địa phương đến nơi anh Phan cư T3 để xác minh nhưng anh P không có nhà nên Tòa án không lấy lời khai được của anh P. Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
-Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và đương sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn, bị đơn tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
-Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 147, 155, 157, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 292, 295, 299, 303, 318, 319, 320, 323, 351, 463, 466 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Xử:
- +Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C đối với Công ty TNHH X.
- +Buộc Công ty X phải có trách nhiệm thanh toán trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 7.342.318.476đ. Đồng thời Công ty X phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 30/9/2024 cho đến khi Công ty X thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng.
- +Trong trường hợp Công ty X không có khả năng trả nợ hoặc trả nợ không đủ thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại các tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng để Ngân hàng thu hồi toàn bộ số nợ.
- -Về án phí: Công ty X phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Ngân hàng được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- -Về chi phí thẩm định tài sản: Công ty X phải chịu chi phí xem xét, thẩm định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
-Về thẩm quyền: Ngân hàng TMCP C (V) được Sở kế hoạch và đầu tư thành phố H cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần, mã số doanh nghiệp: 0100111948, đăng ký lần đầu ngày 03/7/2009, đăng ký thay đổi lần thứ 12 ngày 08/9/2021, ngành nghề kinh doanh của V là kinh doanh tiền tệ, tín dụng và các hoạt động khác ghi trong điều lệ. Công ty TNHH X (gọi tắt là Công ty X) được Sở kế hoạch đầu tư Thành phố H cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mã số 0108003091, đăng ký lần đầu ngày 27/9/2017 và đăng ký thay đổi lần thứ 7 ngày 25/5/2023. Do Công ty TNHH X vi phạm hợp đồng không thanh toán trả gốc và lãi đúng hạn theo như hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên nên ngày 08/4/2024, V đã làm đơn khởi kiện Công ty X đến Tòa án nhân dân huyện Mê Linh. Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Hợp đồng tín dụng số 23.88.0028/2023-HĐCVHM/NHCT264-MINHPHAT ngày 24/11/2023 đáp ứng đủ điều kiện của chủ thể ký hợp đồng và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật nên là hợp đồng tín dụng hợp pháp. Quan hệ pháp luật trong vụ án này là tranh chấp kinh doanh thương mại về hợp đồng tín dụng.
-Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Quá trình điều tra Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng dân sự cho ông Tạ Đình H1, bà Nguyễn Thị H2, ông Trần Văn H3, bà Nguyễn Thị T1 và anh Trần Anh P nhưng tại phiên tòa hôm nay tất cả đều vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung khởi kiện:
[2.1] Về số tiền nợ gốc, lãi theo hợp đồng tín dụng:
-Về số tiền nợ gốc và lãi: Căn cứ vào hồ sơ xin vay vốn của Công ty X và hồ sơ của người bảo lãnh nên V chi nhánh Q đã đồng ý cho Công ty X vay tiền để phục vụ việc kinh doanh của Công ty theo Hợp đồng tín dụng số 23.88.0028/2023-HĐCVHM/NHCT264-MINHPHAT ngày 24/11/2023, tổng hạn mức tín dụng mà Ngân hàng cấp cho Công ty X là 9.500.000.000đ. Tuy nhiên thực tế số tiền mà ngân hàng cấp cho Công ty X là 9.150.000.000đ thể hiện trên 05 giấy nhận nợ.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty X đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền gốc: 2.310.000.000đ và số tiền lãi: 2.129.041₫ .
Tại mục 2.1 Điều 2 của Hợp đồng tín dụng quy định về lãi suất cho vay được thực hiện trên từng giấy nhận nợ và được điều chỉnh 01 tháng một lần. Mức lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 9%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.
Tại Điều 3 của Hợp đồng quy định về phương thức thanh toán nợ lãi, gốc và phí: Lãi được thanh toán một lần vào ngày hai mươi lăm hàng tháng, gốc thanh toán theo đúng thời hạn ghi trên giấy nhận nợ hoặc thời điểm khác theo sự thỏa thuận bằng văn bản giữa các bên. Đến thời hạn trả nợ gốc và lãi nếu bên vay không trả nợ đúng hạn thì toàn bộ số dư các khoản nợ chuyển sang nợ quá hạn và bên vay phải chịu thêm lãi phạt quá hạn trên khoản nợ gốc mà khách hàng không trả đúng hạn.
Xét việc thỏa thuận về tính lãi trong hạn, quá hạn của các bên trong hợp đồng tín dụng là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó cần chấp nhận số tiền lãi như ngân hàng đã giải trình lãi trong hạn còn nợ: 366.289.548đ và lãi quá hạn tạm tính đến ngày xét xử là: 136.085.909₫. Như vậy tổng số tiền nợ gốc và lãi mà Công ty X phải có trách nhiệm thanh toán trả cho Ngân hàng là: 7.342.318.476đ. Đồng thời cần buộc Công ty X phải có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng khoản tiền lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 30/9/2024 theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và trên các giấy nhận nợ cho đến khi Công ty X thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng.
[2.2]. Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng: Tại Điều 5 của Hợp đồng tín dụng quy định biện pháp bảo đảm tiền vay là cho vay có bảo đảm bằng tài sản dưới hình thức thế chấp quyền sử dụng đất. Điều khoản này đã được các bên cụ thể hóa tại 05 Hợp đồng thế chấp như sau:
- Theo Hợp đồng thế chấp số: 18.52.009/2018/HĐBĐ/NHCT264 ngày 10/8/2018 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp bất động sản ngày 24/11/2023 thì anh Trần Minh T đã đồng ý dùng tài sản của mình là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 06, tờ bản đồ số PL 12 diện tích 444m² tại xã M, huyện D, Hà Nam theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 005473 do UBND huyện D, Hà Nam cấp ngày 26/5/2006 cho hộ ông Trần Văn H3 và bà Nguyễn Thị T1 được đăng ký sang tên cho anh Trần Minh T ngày 02/12/2015 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện D, Hà Nam để bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm các khoản gốc, lãi, phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác với mức dư nợ tối đa là 2.720.000.000₫ mà bên Ngân hàng cho Công ty X được vay trong thời hạn của Hợp đồng tín dụng và với các điều kiện về lãi suất tiền vay, quản lý tiền vay theo quy định của Ngân hàng.
- Theo Hợp đồng thế chấp số: 19.52.024/2019/HĐBĐ/NHCT264 ngày 30/7/2019 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp bất động sản ngày 24/11/2023 thì ông Trần Minh H4 đã đồng ý dùng tài sản của mình là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 31, tờ bản đồ số PL 12 diện tích 213m² tại thôn D, xã M, huyện D, Hà Nam theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 958216 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 26/6/2019 cho ông Trần Văn H3 để bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm các khoản gốc, lãi, phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác với mức dư nợ tối đa là 2.120.000.000₫ mà bên Ngân hàng cho Công ty X được vay trong thời hạn của Hợp đồng tín dụng và với các điều kiện về lãi suất tiền vay, quản lý tiền vay theo quy định của Ngân hàng.
- Theo Hợp đồng thế chấp số: 20.70.0015/2020/HĐBĐ/NHCT264 ngày 25/12/2020 và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp bất động sản ngày 24/11/2023 thì anh Trần Minh T đã đồng ý dùng tài sản của mình là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 33, tờ bản đồ số PL 12 diện tích 258m² tại thôn D, xã M, thị xã D, Hà Nam theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 619093 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 15/5/2020 cho anh Trần Minh T để bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm các khoản gốc, lãi, phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác với mức dư nợ tối đa là 1.690.000.000₫ mà bên Ngân hàng cho Công ty X được vay trong thời hạn của Hợp đồng tín dụng và với các điều kiện về lãi suất tiền vay, quản lý tiền vay theo quy định của Ngân hàng.
- Theo Hợp đồng thế chấp số: 23.88.0015B/2023/HĐBĐ/NHCT264 ngày 23/5/2023 thì anh Trần Anh P đã đồng ý dùng tài sản của mình là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 32, tờ bản đồ số PL 12 diện tích 267m² tại thôn D, xã M, thị xã D, Hà Nam theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 873560 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 29/4/2022 cho anh Trần Anh P để bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm các khoản gốc, lãi, phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác với mức dư nợ tối đa là 1.480.000.000₫ mà bên Ngân hàng cho Công ty X được vay trong thời hạn của Hợp đồng tín dụng và với các điều kiện về lãi suất tiền vay, quản lý tiền vay theo quy định của Ngân hàng.
- Theo Hợp đồng thế chấp số: 23.88.0015A/2023/HĐBĐ/NHCT264 ngày 24/5/2023 thì ông Tạ Đình H1 và bà Nguyễn Thị H2 đã đồng ý dùng tài sản của mình là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 218, tờ bản đồ số 126 diện tích 139,1m² tại thôn Q, xã H, huyện T, Bắc Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 184034 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 21/01/2022 cho ông Tạ Đình H1 để bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm các khoản gốc, lãi, phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác với mức dư nợ tối đa là 830.000.000₫ mà bên Ngân hàng cho Công ty X được vay trong thời hạn của Hợp đồng tín dụng và với các điều kiện về lãi suất tiền vay, quản lý tiền vay theo quy định của Ngân hàng.
Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định đối với 05 tài sản thế chấp: Qua kiểm tra hiện trạng diện tích đất thực tế của các thửa đất phù hợp với diện tích đất được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện toàn bộ các thửa đất đều không có tài sản trên đất. Riêng thửa đất số 31 của ông Trần Văn H3 thì trên đất có căn nhà 1 tầng, công trình phụ và hiện vợ chồng ông H3 đang sinh sống.
Về thủ tục bảo lãnh đều được các bên lập hợp đồng và được phòng công chứng xác nhận, có đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất và nhà đúng theo quy định của pháp luật. Do vậy, tất cả các hợp đồng bảo lãnh trên đều hợp pháp, có hiệu lực thi hành đối với các bên nên cần chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên nếu bị đơn không trả nợ hoặc trả không đủ nợ. Nghĩa vụ bảo đảm của các chủ tài sản được chia kỷ phần tương ứng với tài sản bảo đảm.
[3]. Về án phí: Công ty X phải chịu án phí kinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật. Ngân hàng được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh.
Về chi phí tố tụng: Về yêu cầu của Ngân hàng đề nghị Công ty X phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định tài sản với số tiền là 25.000.000đ: Căn cứ theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “ Người yêu cầu Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ phải nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo yêu cầu của Tòa án”. Quá trình điều tra Ngân hàng đã nộp cho Tòa án số tiền 25.000.000đ tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Số tiền này, Tòa án đã chi trả hết cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định của pháp luật.
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 157 quy định nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ “ Đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ trong trường hợp yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận”. Trong vụ án này thì yêu cầu của Ngân hàng được Tòa án chấp nhận nên phía Công ty X phải chịu toàn bộ số tiền chi phí xem xét, thẩm định. Do vậy cần buộc Công ty X phải có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng số tiền 25.000.000đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 317, 318, 320, 322, 324 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 3 Điều 90, khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị định 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 của Chính Phủ quy định về “ Đăng ký biện pháp bảo đảm”.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần C đối với Công ty TNHH X.
Buộc Công ty TNHH X phải có trách nhiệm thanh toán trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần C tổng số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024 theo Hợp đồng tín dụng số 23.88.0028/2023-HĐCVHM/NHCT264-MINHPHAT ngày 24/11/2023 với tổng số tiền là: 7.342.318.476₫ (Bảy tỷ ba trăm bốn mươi hai triệu ba trăm mười tám ngàn bốn trăm bẩy mươi sáu đồng). Trong đó:
- -Nợ gốc: 6.839.943.019₫.
- -Nợ lãi trong hạn: 366.289.548₫
- -Nợ lãi quá hạn: 136.085.909₫.
- Buộc Công ty TNHH X phải chịu số tiền lãi, lãi quá hạn phát sinh kể từ ngày 30/9/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và trên các giấy nhận nợ mà các bên đã ký kết cho đến khi Công ty X thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng.
- Trong trường hợp Công ty TNHH X không trả đủ số nợ hoặc không có khả năng trả nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại 05 tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ số nợ. Cụ thể:
- -Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 06, tờ bản đồ số PL12 diện tích 444m² tại thôn D, xã M, thị xã D, Hà Nam theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 005473 do UBND huyện D, Hà Nam cấp ngày 26/5/2006 cho hộ ông Trần Văn H3 và bà Nguyễn Thị T1 được đăng ký biến động sang tên anh Trần Minh T ngày 02/12/2015 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện D, Hà Nam theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 18.52.009/2018/HĐBĐ/NHCT264 ngày 10/8/2018 tại Văn phòng C3, Hà Nam và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp ngày 24/11/2023 tại Văn phòng C2, Hà Nam. Tài sản này có nghĩa vụ bảo đảm cho khoản nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024 là: 2.259.174.916đ. Trong đó: Nợ gốc: 2.104.597.852đ; nợ lãi trong hạn: 112.704.476đ và nợ lãi quá hạn: 41.872.587d.
- -Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 31, tờ bản đồ số PL12 diện tích 213m² tại thôn D, xã M, thị xã D, Hà Nam theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 958216 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 26/6/2019 cho ông Trần Văn H3 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 19.52.024/2019/HĐBĐ/NHCT264 ngày 30/7/2019 tại Văn phòng C3, Hà Nam và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp ngày 24/11/2023 tại Văn phòng C2, Hà Nam. Tài sản này có nghĩa vụ bảo đảm cho khoản nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024 là: 1.760.827.508đ. Trong đó: Nợ gốc: 1.640.348.326đ; nợ lãi trong hạn: 87.843.195đ và nợ lãi quá hạn: 32.635.987₫.
- -Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 33, tờ bản đồ số PL12 diện tích 258m² tại thôn D, xã M, thị xã D, Hà Nam theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 619093 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 15/5/2020 cho anh Trần Minh T theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 20.70.0015/2020/HĐBĐ/NHCT264 ngày 25/12/2020 tại Văn phòng C3, Hà Nam và Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp ngày 24/11/2023 tại Văn phòng C2, Hà Nam. Tài sản này có nghĩa vụ bảo đảm cho khoản nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024 là: 1.403.678.532d. Trong đó: Nợ gốc: 1.307.636.165đ; nợ lãi trong hạn: 70.025.943đ và nợ lãi quá hạn: 26.016.424d.
- -Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 32, tờ bản đồ số PL12 diện tích 267m² tại thôn D, xã M, thị xã D, Hà Nam theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 873560 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 29/4/2022 cho anh Trần Anh P theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 23.88.0015B/2023/HĐBĐ/NHCT264 ngày 23/5/2023 tại Văn phòng C2, Hà Nam. Tài sản này có nghĩa vụ bảo đảm cho khoản nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024 là: 1.229.256.939đ. Trong đó: Nợ gốc: 1.145.148.831đ; nợ lãi trong hạn: 61.324.494đ và nợ lãi quá hạn: 22.783.614đ.
- -Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 218, tờ bản đồ số 126 diện tích 139,1m² tại thôn Q, xã H, huyện T, Bắc Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DE 184034 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 21/01/2022 cho ông Tạ Đình H1 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 23.88.0015A/2023/HĐBĐ/NHCT264 ngày 24/5/2023 tại Văn phòng C1, Bắc Giang. Tài sản này có nghĩa vụ bảo đảm cho khoản nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024 là: 689.380.581đ. Trong đó: Nợ gốc: 642.211.845đ; nợ lãi trong hạn: 34.391.439đ và nợ lãi quá hạn: 12.777.297₫.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật thi hành án dân sự.
- Công ty TNHH X có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng TMCP C tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền 25.000.000đ.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Công ty X đối với Ngân hàng. Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công ty X vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.
- Về án phí: Công ty TNHH X phải nộp 115.340.000đ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm cho Nhà nước.
- Ngân hàng thương mại cổ phần C được hoàn trả số tiền 57.450.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh theo Biên lai số 0008624 ngày 15/4/2024.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hằng |
Bản án số 32/2024/KDTM-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-TP. HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 32/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty Minh Phát thanh toán tiền
