Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/KDTM-ST.

Ngày: 17-9-2024.

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA,

TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Huỳnh Thị Kim Kiên.

Bà Thiều Thị Phi Loan.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Duy – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 78/2023/TLST-KDTM ngày 08 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST- KDTM ngày 07 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 248/2024/QÐST- KDTM ngày 23 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.

Địa chỉ: B phố B, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị Thanh H – Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Hoàng D và ông Võ Đình A;

Địa chỉ liên hệ: A K, phường C, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Anh Lưu Ngọc Minh D1, sinh năm 1996;

Nơi cư trú: 175/11 đường F, xa lộ H, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lưu Huy X, sinh năm 1955 và bà Chu Thị V, sinh năm 1957;

Anh Đào Văn T, sinh năm 1985 và chị Lưu Thị T1, sinh năm 1985;

Cùng cư trú: 175/11 đường F, xa lộ H, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Ông A có mặt, anh D1, ông X, bà V, anh T1, chị T1 vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 13/4/2023 và bản tự khai ngày 20/6/2024, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q do ông Võ Đình A đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 07/7/2021, Ngân hàng Thương mại cổ phần Q ký Hợp đồng cho vay số 160/21/HĐCV-9371 với anh Lưu Ngọc Minh D1, theo đó Ngân hàng cho anh Lưu Ngọc Minh D1 vay số tiền 3.000.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn kinh doanh; Thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên, lãi suất vay: 12%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; Phương thức trả nợ: theo thỏa thuận các bên tại mỗi lần giải ngân theo Khế ước nhận nợ.

Anh Lưu Ngọc Minh D1 đã sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình là: Nhà gắn liền với quyền sử dụng đất diện tích 121.1m² thuộc thửa 80, tờ bản đồ số 91 phường L, thành phố B được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 450 357 ngày 10/4/2019 cho ông Lưu Huy X, bà Chu Thị V, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 05/7/2021 cho anh Lưu Ngọc Minh D1. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 143/21/2HĐTC-9371 ngày 07/7/2021 được công chứng tại Văn phòng C tỉnh Đồng Nai, số công chứng 1568, quyển số 07/2021.TP/CC-SCC/HĐGD; đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh B ngày 16/7/2021 để đảm bảo cho khoản vay.

Quá trình thực hiện hợp đồng, anh Lưu Ngọc Minh D1 đã thanh toán được số tiền gốc 661.019.178 đồng, tiền lãi 317.622.587 đồng.

Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần Q yêu cầu anh Lưu Ngọc Minh D1 phải trả tổng số tiền 2.785.739.127 đồng (tạm tính đến ngày 22/03/2023), trong đó tiền gốc 2.338.980.822 đồng và lãi trong hạn 64.815.769 đồng, lãi quá hạn 377.313.545 đồng và lãi chậm trả lãi 4.628.991 đồng và tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 160/21/HĐCV-9371 ngày 07/7/2021 trên số nợ gốc chưa thanh toán.

Trường anh Lưu Ngọc Minh D1 không thanh toán được khoản nợ nói trên cho Ngân hàng thì đề nghị phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 143/21/2HĐTC-9371 ngày 07/7/2021 được công chứng tại Văn phòng C tỉnh Đồng Nai, số công chứng 1568, quyển số 07/2021.TP/CC-SCC/HĐGD; đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh B ngày 16/7/2021 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

- Bị đơn anh Lưu Ngọc Minh D1:

Anh Lưu Ngọc Minh D1 đã được Tòa án tiến hành triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để anh Lưu Ngọc Minh D1 tham gia các buổi làm việc, phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và xét xử nhưng anh Lưu Ngọc Minh D1 vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Lưu Ngọc Minh D1. Do đó, Tòa án đã tiến hành lập biên bản về việc vắng mặt của anh Lưu Ngọc Minh D1 để có cơ sở giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lưu Huy X, bà Chu Thị V, anh Đào Văn T và chị Lưu Thị Thu .

Ông Lưu Huy X, bà Chu Thị V, anh Đào Văn T và chị Lưu Thị T1 đã được Tòa án tiến hành triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để ông X, bà V, anh Đào Văn T và chị Lưu Thị Thu tham G các buổi làm việc, phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và xét xử nhưng ông X, bà V có đơn xin vắng mặt, còn anh Đào Văn T và chị Lưu Thị T1 vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông X, bà V, anh Đào Văn T và chị Lưu Thị Thu . Do đó, Tòa án đã tiến hành lập biên bản về việc vắng mặt của ông X, bà V, anh Đào Văn T và chị Lưu Thị T1 để có cơ sở giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã thụ lý và giải quyết vụ án trong thời hạn luật định. Xác định đúng tư cách đương sự.

- Việc tuân theo quy định pháp luật của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc tuân thủ pháp luật của các đương sự:

Ngân hàng Thương mại cổ phần Q do ông Võ Đình A đại diện theo ủy quyền thực hiện đúng các quy định về quyền của người khởi kiện, đã cung cấp những tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, tham gia các buổi làm việc, phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa theo đúng giấy triệu tập của Tòa án.

Anh Lưu Ngọc Minh D1, ông Lưu Huy X, bà Chu Thị V, anh Đào Văn T và chị Lưu Thị Thu T2 quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không chấp hành, vắng mặt không có lý do.

- Về đường lối giải quyết vụ án:

Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q về việc buộc anh Lưu Ngọc Minh D1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng số tiền 2.785.739.127 đồng (tạm tính đến ngày 22/03/2023), trong đó tiền gốc 2.338.980.822 đồng và lãi trong hạn 64.815.769 đồng, lãi quá hạn 377.313.545 đồng và lãi chậm trả lãi 4.628.991 đồng và tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 160/21/HĐCV-9371 ngày 07/7/2021 trên số nợ gốc chưa thanh toán.

Đề nghị phát mãi tài sản thế chấp của anh Lưu Ngọc Minh D1 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Về án phí: Anh Lưu Ngọc Minh D1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết:

Ngân hàng Thương mại cổ phần Q khởi kiện anh Lưu Ngọc Minh D1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, đồng thời qua xác minh tại Công an phường L, thành phố B thì anh Lưu Ngọc Minh D1 có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ 1 đường F, xa lộ H, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai phù hợp với địa chỉ tại hợp đồng tín dụng mà anh Lưu Ngọc Minh D1 đã ký. Do đó căn cứ vào các Điều 26, 35 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

[1.2] Về xác định tư cách đương sự:

Ngân hàng Thương mại cổ phần Q khởi kiện vụ án xác định là nguyên đơn, anh Lưu Ngọc Minh D1 là người bị kiện nên xác định là bị đơn; ông Lưu Huy X, bà Chu Thị V, anh Đào Văn T và chị Lưu Thị T1 là người hiện đang sinh sống trên tài sản thế chấp nên xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[1.3] Về sự có mặt của đương sự:

Anh Lưu Ngọc Minh D1, ông Lưu Huy X, bà Chu Thị V, anh Đào Văn T và chị Lưu Thị T1 là đương sự trong vụ án đã được Tòa án triệu tập và tống đạt giấy triệu tập, văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần để đến Tòa án để làm việc, tham gia phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh Lưu Ngọc Minh D1, ông Lưu Huy X, bà Chu Thị V, anh Đào Văn T và chị Lưu Thị T1 vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án không thể tiến hành hòa giải các bên đương sự được. Căn cứ vào các Điều 207, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đồng thời căn cứ vào lời khai và những chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 79 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về yêu cầu khởi kiện:

Ngân hàng Thương mại cổ phần Q yêu cầu anh Lưu Ngọc Minh D1 có trách nhiệm trả số tiền gốc 2.338.980.822 đồng, và tiền lãi trong hạn 64.815.769 đồng, lãi quá hạn 377.313.545 đồng và lãi chậm trả lãi 4.628.991 đồng (tính đến ngày 22/03/2023) và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay số 160/21/HĐCV-9371 ngày 07/7/2021 cho đến khi thanh toán xong nợ.

[2.1.1] Về yêu cầu số tiền gốc, xét thấy:

Căn cứ Hợp đồng cho vay số 160/21/HĐCV-9371 ngày 07/7/2021 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ thể hiện giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Q và anh Lưu Ngọc Minh D1 có ký hợp đồng tín dụng theo đó Ngân hàng giải quyết cho anh Lưu Ngọc Minh D1 vay số tiền 3.000.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn kinh doanh; Thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên, lãi suất vay: 12%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; Phương thức trả nợ: theo thỏa thuận các bên tại mỗi lần giải ngân theo Khế ước nhận nợ.

Quá trình thực hiện hợp đồng, anh Lưu Ngọc Minh D1 đã thanh toán được số tiền gốc là 661.019.178 đồng, tiền lãi 317.622.587 đồng. Sau đó thì anh D1 không tiếp thanh toán gốc, lãi cho Ngân hàng.

Quá trình giải quyết, Tòa án đã thông báo cho anh Lưu Ngọc Minh D1 biết về việc Ngân hàng Thương mại cổ phần Q khởi kiện yêu cầu anh D1 phải trả nợ nhưng anh D1 không có ý kiến nên Tòa án căn cứ Hợp đồng cho vay số 24/2021/HĐCV ngày 31/12/2021 và các tài liệu do Ngân hàng cung cấp để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Xét thấy, anh Lưu Ngọc Minh D1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận của các bên và theo quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q buộc bị đơn anh Lưu Ngọc Minh D1 phải thanh toán toàn bộ vốn gốc là 2.338.980.822 đồng cho Ngân hàng là có cơ sở chấp nhận

[2.1.2] Về yêu cầu tính lãi:

Tại phần lãi suất cho vay và lãi suất quá hạn và lãi suất chậm trả của Hợp đồng cho vay số 160/21/HĐCV-9371 ngày 07/7/2021 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 19/7/2021 thể hiện lãi suất kỳ đầu tiên là: 12%/năm; lãi suất kỳ tiếp theo điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo công thức lãi suất vay = Lãi suất cơ bản + 4%; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.

Theo Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định:

  1. Lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất.
  2. Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định lãi, lãi suất.

Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định: Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.

Xét thấy, việc thỏa thuận lãi của các bên là tự nguyện. Đồng thời sau khi được cấp tín dụng, anh Lưu Ngọc Minh D1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền lãi và gốc. Do đó, Ngân hàng Thương mại cổ phần Q yêu cầu buộc anh Lưu Ngọc Minh D1 phải thanh toán số tiền lãi trong hạn 64.815.769 đồng, lãi quá hạn 377.313.545 đồng và lãi chậm trả lãi 4.628.991 đồng (tính đến ngày 22/03/2023) và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay số 160/21/HĐCV-9371 ngày 07/7/2021 cho đến khi thanh toán xong nợ là có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Về yêu cầu phát mãi tài sản thế là:

Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với diện tích đất 121.1m² thuộc thửa 80, tờ bản đồ số 91 phường L, thành phố B được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CR 450 357 ngày 10/4/2019 cho ông Lưu Huy X, bà Chu Thị V, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 05/7/2021 cho anh Lưu Ngọc Minh D1. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 143/21/2HĐTC-9371 ngày 07/7/2021 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Q với anh Lưu Ngọc Minh D1 được công chứng tại Văn phòng C tỉnh Đồng Nai, số công chứng 1568, quyển số 07/2021.TP/CC-SCC/HĐGD; đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh B ngày 16/7/2021 đã được thực hiện theo đúng quy định tại các Điều 500, 501, Điều 502 Bộ luật Dân sự 2015 và Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT ngày 23 tháng 6 năm 2016 của Bộ Tư pháp và Bộ T3. Do đó yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm trong trường hợp anh Lưu Ngọc Minh D1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ chấp nhận.

[3] Về chi phí tố tụng:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn anh Lưu Ngọc Minh D1 phải chịu chi phí tố tụng số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) theo quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự. Số tiền này do Ngân hàng Thương mại cổ phần Q đã tạm ứng nên anh Lưu Ngọc Minh D1 có trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng.

[4] Về án phí:

Anh Lưu Ngọc Minh D1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố B:

phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 30, 35, 39, 68, khoản 1 Điều 147, 157; Điều 180, 227, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 299, 320, 324, 357 của Bộ luật dân sự;

- Áp dụng Điều 4, 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng;

- Áp dụng các Điều 7, 8, 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q đối với bị đơn anh Lưu Ngọc Minh D1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc anh Lưu Ngọc Minh D1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền tính đến ngày 22/03/2023 là 2.785.739.127 đồng (Hai tỷ bảy trăm tám mươi lăm triệu bảy trăm ba mươi chín ngàn một trăm hai mươi bảy đồng); trong đó, tiền nợ gốc là 2.338.980.822 đồng và lãi trong hạn 64.815.769 đồng, lãi quá hạn 377.313.545 đồng và lãi chậm trả lãi 4.628.991 đồng.

Kể từ ngày 23/3/2023, anh Lưu Ngọc Minh D1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 160/21/HĐCV-9371 ngày 07/7/2021 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q cho đến khi thanh toán xong toàn bộ vốn gốc là 2.338.980.822 đồng cho Ngân hàng là có cơ sở chấp nhận.

Trường hợp anh Lưu Ngọc Minh D1 không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ của Hợp đồng cho vay số 160/21/HĐCV-9371 ngày 07/7/2021 thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật đối với căn nhà gắn liền với quyền sử dụng đất diện tích 121.1m² thuộc thửa 80, tờ bản đồ số 91 phường L, thành phố B được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 450 357 ngày 10/4/2019 cho ông Lưu Huy X, bà Chu Thị V, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 05/7/2021 cho anh Lưu Ngọc Minh D1. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 143/21/2HĐTC-9371 ngày 07/7/2021 được công chứng tại Văn phòng C tỉnh Đồng Nai, số công chứng 1568, quyển số 07/2021.TP/CC-SCC/HĐGD; đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh B ngày 16/7/2021.

2. Về chi phí tố tụng: Buộc anh Lưu Ngọc Minh D1 phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q chi phí tố tụng số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

3. Về án phí:

Anh Lưu Ngọc Minh D1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm số tiền là 87.714.782 đồng (Tám mươi bảy triệu bảy trăm mười bốn ngàn bảy trăm tám mươi hai đồng).

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền 43.857.391 đồng (Bốn mươi ba triệu tám trăm năm mươi bảy ngàn ba trăm chín mươi mốt đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007972 ngày 01/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Lưu Ngọc Minh D1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lưu Huy X, bà Chu Thị V, anh Đào Văn T và chị Lưu Thị T1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự (02);
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng (03).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Anh Đức

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Kim Kiên    Thiều Thị Phi Loan

Trần Anh Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/KDTM-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 32/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Lưu Ngọc Minh D1 phải trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tính đến ngày 22/03/2023 là 2.785.739.127 đồng; trong đó, tiền nợ gốc là 2.338.980.822 đồng và lãi trong hạn 64.815.769 đồng, lãi quá hạn 377.313.545 đồng và lãi chậm trả lãi 4.628.991 đồng. Trường hợp anh Lưu Ngọc Minh D không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ thì Ngân hàng TMCP Q được quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 143/21/2HĐTC-9371 ngày 07/7/2021. Về chi phí tố tụng: Buộc anh Lưu Ngọc Minh D phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Q chi phí tố tụng số tiền 5.000.000đồng. Anh Lưu Ngọc Minh D phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm số tiền là 87.714.782 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng số tiền 43.857.391 đồng. Đương sự được quyền kháng cáo theo luật định
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger