TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2024/DSST
Ngày 26 - 9 - 2024
“V/v: yêu cầu chia tài sản
chung và tranh chấp tài
sản thừa kế”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hòa Thanh
- - Các Hội thẩm nhân dânÔng Phạm Tám
- Ông Huỳnh Thái Việt
- - Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Xuân Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tiến Huynh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, tiến hành xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 139/2019/TLST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2019, về “Yêu cầu chia tài sản chung và tranh chấp tài sản thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2023; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 06/TB-TA ngày 27 tháng 11 năm 2023 Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2023/QĐST-DS ngày 28 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 01 năm 2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 02 năm 2024; Thông báo về thời gian tiếp tục phiên tòa số 03/TB-TA ngày 30/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị A - sinh năm: 1964; trú tại: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- - Bị đơn: + Anh Võ Hàn V - sinh năm: 1982; trú tại: Thôn P, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- + Chị Võ Thị Phương N - sinh năm: 1986; trú tại: Thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Võ Hàn Đ - sinh năm: 1984; trú tại: Thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- + Anh Võ Mặc B - sinh năm: 1997; trú tại: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- + Ông Võ T (chết năm 2003);
- + Bà Trương Thị Đ1 (chết năm 2012);
- - Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trương Thị Đ1:
- + Ông Võ Đ2 - sinh năm 1951; địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- + Ông Võ Long Ầ - sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- + Ông Võ D - sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- - Người làm chứng:
- + Ông Hồ L - sinh năm 1953; địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt. Vắng mặt.
- + Bà Nguyễn Thị B1 - sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- + Ông Võ Đ2 - sinh năm 1951; địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- + Ông Võ Long Ầ - sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- + Ông Võ D - sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- + Ông Trần Văn M - sinh năm 1943; địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 18/11/2019 gửi đến Tòa án 25/11/2019; các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị A trình bày:
Bà Nguyễn Thị A và ông Võ Văn T1 tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 1997 nhưng đến năm 2002 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Ông T1 chết vào ngày 04/8/2011, bà A và ông T1 có 01 (một) con chung là cháu Võ Mặc B; hiện đang cư trú tại Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
Trước khi kết hôn với bà A thì ông T1 có một đời vợ tên là Đặng Thị L1 và có 03 (ba) con chung với bà L1 gồm:
- Ông Võ Hàn V - sinh năm: 1982;
- Bà Võ Thị Phương N - sinh năm: 1986;
- Ông Võ Hàn Đ - sinh năm: 1984;
Khi ông T1 ly hôn với bà L1 thì các con của ông T1 sống với mẹ.
Sau khi ông T1 kết hôn với bà A thì sinh sống tại thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Trong quá trình chung sống bà A và ông T1 tạo lập được khối tài sản chung gồm:
- + 01 (một) lô đất có diện tích 2435 m² thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ số 18 (bản đồ địa chính xã V), mục đích sử dụng là đất trồng cây hàng năm khác, thời hạn sử dụng đất: Đến ngày 01/7/2064, vị trí thửa đất tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 479944, số vào sổ cấp GCN:CH 02939, cấp ngày 26/12/2018 mang tên Võ Văn T1 (chết năm 2011) và Nguyễn Thị Anh .
- + 01 (một) lô đất đìa có diện tích 5902,7 m² thuộc thửa đất số 15, tờ bản đồ số 18 (bản đồ địa chính xã V), mục đích sử dụng là đất nuôi trồng thủy sản, thời hạn sử dụng đất: Đến ngày 15/10/2068, vị trí thửa đất tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 251685, số vào sổ cấp GCN:CH 02916, cấp ngày 13/11/2018 mang tên Võ Văn T1 (chết năm 2011) và Nguyễn Thị Anh .
- + 01 (một) lô đất đìa có diện tích 4983,1 m² thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 16 (bản đồ địa chính xã V), mục đích sử dụng là đất nuôi trồng thủy sản, thời hạn sử dụng đất: Đến ngày 15/10/2018, vị trí thửa đất tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 871075, số vào sổ cấp GCN:CH 01329, cấp ngày 31/12/2013 mang tên Võ Văn T1 (chết năm 2011) và Nguyễn Thị Anh .
Sau khi ông T1 qua đời thì bà A trực tiếp quản lý các tài sản trên. Tháng 8 năm 2019 bà A có gặp các con riêng của ông T1 để thỏa thuận về phần tài sản thừa kế do ông T1 để lại nhưng hai bên không thỏa thuận được.
Nay bà A yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung giữa bà Nguyễn Thị A và ông Võ Văn T1; chia di sản thừa kế của ông Võ Văn T1 gồm thửa đất số 14, 15 tờ bản đồ số 18 và thửa đất số 34, tờ bản đồ số 16 (bản đồ địa chính xã V), vị trí của các thửa đất tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa theo pháp luật. Bà A yêu cầu được nhận bằng hiện vật tất cả các tài sản trên và thối lại bằng tiền phần tài sản thừa kế cho các đồng thừa kế khác.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/5/2020 và tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Võ Mặc B trình bày:
Anh Võ Mặc B là con của ông Võ Văn T1 và bà Nguyễn Thị Anh . Ông T1 chết vào ngày 04/8/2011, chết không để lại di chúc, ông T1 bà A có một người con chung duy nhất là anh B và hiện nay anh B đang sống với bà A tại thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
Trước khi kết hôn với bà A thì ông T1 có một đời vợ tên là Đặng Thị L1 và có 03 (ba) con chung với bà L1 gồm: ông Võ Hàn V - sinh năm: 1982; bà Võ Thị Phương N - sinh năm: 1986; ông Võ Hàn Đ - sinh năm: 1984;
Trong quá trình chung sống ông T1, bà A có tạo lập được khối tài sản chung gồm:
- + 01 (một) lô đất có diện tích 2435 m² thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ số 18 (bản đồ địa chính xã V), mục đích sử dụng là đất trồng cây hàng năm khác, thời hạn sử dụng đất: Đến ngày 01/7/2064, vị trí thửa đất tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 479944, số vào sổ cấp GCN:CH 02939, cấp ngày 26/12/2018 mang tên Võ Văn T1 (chết năm 2011) và Nguyễn Thị Anh .
- + 01 (một) lô đất đìa có diện tích 5902,7 m² thuộc thửa đất số 15, tờ bản đồ số 18 (bản đồ địa chính xã V), mục đích sử dụng là đất nuôi trồng thủy sản, thời hạn sử dụng đất: Đến ngày 15/10/2068, vị trí thửa đất tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 251685, số vào sổ cấp GCN: CH 02916, cấp ngày 13/11/2018 mang tên Võ Văn T1 (chết năm 2011) và Nguyễn Thị Anh .
- + 01 (một) lô đất đìa có diện tích 4983,1 m² thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 16 (bản đồ địa chính xã V), mục đích sử dụng là đất nuôi trồng thủy sản, thời hạn sử dụng đất: Đến ngày 15/10/2018, vị trí thửa đất tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 871075, số vào sổ cấp GCN: CH 01329, cấp ngày 31/12/2013 mang tên Võ Văn T1 (chết năm 2011) và Nguyễn Thị Anh .
Ngoài ra còn có nhà, đất tại thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Tuy nhiên vào năm 2019 gia đình anh Đ đã thống nhất ký tên để lại toàn bộ nhà, đất này cho Võ Mặc B được toàn quyền quản lý, sử dụng.
Nay bà A yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung giữa bà A và ông Võ Văn T1; chia di sản thừa kế của ông Võ Văn T1 theo pháp luật gồm thửa đất số 14, 15 tờ bản đồ số 18 và thửa đất số 34, tờ bản đồ số 16 (bản đồ địa chính xã V), vị trí của các thửa đất tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa thì anh Đ đồng ý. Đối với phần tài sản thừa kế mà anh Đ được nhận thì anh Đ yêu cầu được nhận bằng tiền.
* Tại các biên bản lấy lời khai ngày 01/12/2020, 16/02/2020 người làm chứng ông Hồ L và bà Nguyễn Thị B1 trình bày:
Vợ chồng ông Hồ L, Nguyễn Thị B1 không có quan hệ gì với ông Võ Văn T1 và bà Nguyễn Thị Anh .
Trước đây, vợ chồng ông Hồ L, Nguyễn Thị B1 có một cái đìa nuôi tôm sú tại H thuộc thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Tuy nhiên do làm ăn thua lỗ nên vào năm 1994 vợ chồng ông L bà B1 đã chuyển nhượng cái đìa trên cho bà Nguyễn Thị A trú tại thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Khi chuyển nhượng hai bên có làm giấy viết tay ghi “Giấy sang nhượng bán 1 cái đìa”, giá trị chuyển nhượng là 01 cây 02 chỉ vàng y 96%. Tại thời điểm vợ chồng ông L bà B1 chuyển nhượng đìa cho bà A thì bà A còn độc thân, chưa lập gia đình. Bà A sau khi nhận chuyển nhượng đìa từ vợ chồng ông L bà B1 thì trực tiếp canh tác trên thửa đất đó. Ông L khẳng định chỉ bán đìa cho bà A và tại thời điểm bán đìa cho bà A thì bà A chưa kết hôn, còn độc thân. Sở dĩ ông L biết việc bà A tại thời điểm đó còn độc thân là vì ông L thường chạy đò đến nhà bà A mua gạo của bà A để về V bán kiếm lời (thời điểm đó từ V đi vào đất liền phải sử dụng phương tiện là đò chứ không có đường bộ).
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/02/2022 và tại phiên tòa những thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trương Thị Đ1 đồng thời là người làm chứng ông Võ Đ2, Võ Long Á và Võ D thống nhất trình bày:
Ông Võ Đ2, Võ Long Ầ, ông Võ D ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Thị A có quan hệ anh em với nhau. Ông Võ Đ2 là anh ruột của ông T1, ông Võ Long Ầ và Võ D là em ruột của ông T1. Đối với tài sản mà bà A nhận chuyển nhượng từ ông Hồ L ông Đ2, ông Ầ, ông D được biết như sau:
Đối với đìa mà bà A nhận chuyển nhượng từ ông Hồ L thì lúc này bà A chưa kết hôn với ông T1. Bà A mua đìa của ông L canh tác mấy năm sau thì mới gặp và kết hôn với ông Võ Văn T1. Vì bà A mua đìa của ông L, sau đó xuống V làm đìa nên mới gặp ông Đ2, ông Ầ, ông D và hai người mới kết hôn với nhau. Trước khi bà A và ông T1 kết hôn thì ông T1 có một đời vợ và có 03 người con. Khi ông T1 và bà vợ đầu ly hôn thì ông T1 để lại toàn bộ tài sản cho bà vợ đầu và 03 con, ra đi hai bàn tay trắng. Ông T1 về sinh sống tại nhà cha mẹ một thời gian, sau đó xuống V làm thuê thì mới gặp bà A. Ông Đ2, ông Ầ, ông D khẳng định đối với cái đìa mà bà A mua của ông Hồ L tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa là tài sản riêng của bà A có được trước khi kết hôn với ông T1, còn những tài sản khác của bà A và ông T1 thì ông Đ2, ông Ầ, ông D không biết.
Nay bà A yêu cầu chia tài sản chung giữa bà A và ông T1; yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản của ông T1 để lại thì ông Đ2, ông Ầ, ông D không có ý kiến gì. Đối với phần thừa kế mà ông Đ2, ông Ầ, ông D được nhận từ bà Trương Thị Đ1 thì ông Đ2, ông Ầ và ông D từ chối nhận phần di sản này và giao lại cho bà Nguyễn Thị A và các con của ông Võ Văn T1. Ông Đ2, ông Ầ, ông D cam kết không có khiếu nại gì về sau.
Do vậy, ông Đ2, ông Ầ, ông D không có quyền lợi gì liên quan trong vụ án này. Ông Đ2, ông Ầ, ông D đề nghị Tòa án không đưa ông Đ2, ông Ầ, ông D vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/02/2022 những người làm chứng ông Trần Văn M trình bày:
Ông Trần Văn M và ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Thị A không có quan hệ bà con với nhau, nhà ông M ở gần nhà với bà A tại thôn T, xã V huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Năm 1994 ông M có một đìa nuôi tôm sát bên đìa nuôi tôm của ông Hồ L nên ông M biết khi vợ chồng ông Hồ L bán đìa cho bà A thì tại thời điểm này bà A chưa lập gia đình. Sau khi mua đìa của ông L bà A trực tiếp canh tác trên địa đó, đìa ông M ở sát bên nên ông M thường xuyên qua lại đìa bà A chơi. Đến năm 1996 ông M làm tôm thua lỗ nên không nuôi nữa, còn việc bà A lập gia đình với ông T1 khi nào thì ông M không biết. Ông M chỉ khẳng định là tại thời điểm bà A nhận chuyển nhượng đìa từ vợ chồng ông Hồ L thì bà A chưa kết hôn với ông T1.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã xác minh, tống đạt hợp lệ nhiều lần các giấy triệu tập và các văn bản tố tụng đối với bị đơn ông Võ Hàn V và bà Võ Thị Phương N để lấy lời khai, để kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn ông Võ Hàn V và bà Võ Thị Phương N đều không có mặt để làm việc theo giấy triệu tập, thông báo của Toà án, nên Toà án không lấy được lời khai của ông V, bà N và không tiến hành hòa giải được vụ án.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Bà Nguyễn Thị A khởi kiện ông Võ Hàn V, bà Võ Thị Phương N, về việc Yêu cầu chia tài sản chung và tranh chấp tài sản thừa kế đối với các thửa đất số 14, 15 tờ bản đồ số 18 và thửa đất số 34 tờ bản đồ số 16 (bản đồ địa chính xã V), vị trí các thửa đất tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Căn cứ theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa có thẩm quyền giải quyết vụ án.
[1.2] Bị đơn chị Võ Thị Phương N, anh Võ Hàn V; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Hàn Đ và người làm chứng ông Hồ L, bà Nguyễn Thị B1, ông Trần Văn M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người trên.
[2] Về yêu cầu khởi kiện
[2.1] Xác định tài sản chung của ông Võ Văn T1 (chết năm 2011) và bà Nguyễn Thị A: Trên cơ sở các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ có căn cứ xác định 03 thửa đất gồm: thửa đất số 14, tờ bản đồ số 18 (bản đồ địa chính xã V) có diện tích 2435 m²; thửa đất số 15, tờ bản đồ số 18 (bản đồ địa chính xã V) có diện tích 5902,7 m²; thửa đất số 34, tờ bản đồ số 16 (bản đồ địa chính xã V) có diện tích 4983,1 m² các thửa đất này có vị trí tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa có vị trí, ranh giới, diện tích đúng như Sơ đồ thửa đất do Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh huyện V, tỉnh Khánh Hòa lập. Cả 03 thửa đất này đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị A và ông Võ Văn T1 (chết năm 2011). Do vậy đây là tài sản chung của ông Võ Văn T1 và bà Nguyễn Thị Anh .
[2.2] Thời hiệu thừa kế: Ông Võ Văn T1 (chết năm 2011) theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Khoản 4 Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì thời hiệu chia thừa kế đối với di sản của ông Võ Văn T1 để lại vẫn còn.
[2.3] Xác định hàng thừa kế của ông Võ Văn T1: Cha mẹ của ông Võ Văn T1 là ông Võ T (chết năm 2003) và bà Trương Thị Đ1 (chết năm 2012). Trước đây ông T1 có vợ là bà Đặng Thị L1, giữa ông T1 và bà L1 có 03 (ba) con chung là Anh Võ Hàn V - sinh năm: 1982; chị Võ Thị Phương N - sinh năm: 1986; anh Võ Hàn Đ - sinh năm: 1984. Sau đó, ông T1 và bà L1 đã ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 14/DS-ST ngày 24/10/1992 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh.
Đến năm 1997 ông T1 và bà Nguyễn Thị A tự nguyện chung sống với nhau và đến năm 2002 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Ông T1 và bà A có 01 con chung là Võ Mặc B – sinh năm: 1997.
Bà Đặng Thị L1 và ông Võ Văn T1 đã ly hôn năm 1992. Đến năm 2011 thì ông Võ Văn T1 chết. Như vậy, tại thời điểm mở thửa kế bà L1 và ông T1 không còn là vợ chồng nên bà L1 không thuộc diện được hưởng thừa kế theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự 2015.
Bà Trương Thị Đ1 (chết năm 2013), thì các ông Võ Đ2, Võ D, Võ Long Ầ là người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố túng của bà Trương Thị Đ1.
Từ những căn cứ trên xác định hàng thừa kế của ông Võ Văn T1 bao gồm những người sau: Bà Trương Thị Đ1 (chết năm 2013); bà Nguyễn Thị A; anh Võ Hàn V; chị Võ Thị Phương N; anh Võ Hàn Đ, anh Võ Mặc B.
[3] Nguồn gốc các thửa đất tranh chấp và xét yêu cầu chia tài sản chung của bà Nguyễn Thị A:
- + Đối với thửa đất số 34, tờ bản đồ số 16: Năm 1994 bà Nguyễn Thị A có nhận chuyển nhượng lại 01 thửa đất có diện tích 4.983,1 m² (nay là thửa đất số 34, tờ bản đồ số 16 bản đồ địa chính xã V) của ông Hồ L và bà Nguyễn Thị B1 với giá là 01 cây 02 chỉ vàng 96%, hai bên có làm giấy viết tay. Sau khi nhận chuyển nhượng thửa đất trên đến năm 1997 bà A cưới ông Võ Văn T1 có đăng ký kết hôn năm 2002 theo giấy chứng nhận kết hôn số 23 quyển sổ số 01/2002 xác định hôn nhân có hiệu lực từ ngày 20/10/1996. Sau khi kết hôn, bà A đã dùng tài sản này để canh tác, sản xuất tạo ra thu nhập nuôi sống cả gia đình. Đến năm 2011 khi ông Võ Văn T1 chết bà A vẫn tiếp tục canh tác trên đến nay. Đến năm 2018 khi đi đăng ký kê khai quyền sử dụng đất, bà A kê khai tài sản này là của vợ chồng. Do vậy, bà A đã tự nguyện nhập tài sản này vào tài sản chung của vợ chồng nên đây được coi tài sản chung của ông T1 và bà A. Tuy nhiên, khi phân chia tài sản chung giữa bà A và ông T1 thấy rằng cần tính đến các yếu tố như hoàn cảnh gia đình; công sức đóng góp vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung này.. theo khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình để chia cho bà Nguyễn Thị A hưởng phần nhiều hơn ông Nguyễn Văn T2 mới phù hợp với quy định của pháp luật. Cụ thể, chia cho bà Nguyễn Thị A hưởng 70% và ông Võ Văn T1 hưởng 30% trên toàn bộ giá trị thửa đất số 34, tờ bản đồ số 16.
Còn lại hai thửa đất số 14 tờ bản đồ số 18 và thửa đất số 15 tờ bản đồ số 18 được tạo lập trong quá trình hôn nhân do đó chia cho mỗi bên hưởng một nửa giá trị là phù hợp.
Căn cứ theo biên bản định giá ngày 22/8/2024 của Hội đồng định giá thì thửa đất số 34, tờ bản đồ số 16 có trị giá 473.394.500đ (bốn trăm bảy mươi ba triệu ba trăm chín mươi bốn nghìn năm trăm đồng); đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 14 tờ bản đồ số 18 có giá trị 301.940.000đ + 653.870đ = 302.593.870₫ (Ba trăm lẻ hai triệu năm trăm chín mươi ba nghìn tám trăm bảy mươi đồng); Thửa đất số 15, tờ bản đồ số 18 có giá trị có giá là: 560.756.500đ (năm trăm sáu mươi triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn năm trăm đồng).
Tổng cộng giá trị tài sản tranh chấp là: 1.336.744.870 (Một tỷ ba trăm ba mươi sáu triệu bảy trăm bốn mươi bốn nghìn tám trăm bảy mươi đồng).
Các đương sự không có ý kiến gì về kết quả định giá tài sản nên Hội đồng xét xử căn cứ vào mức giá trên làm căn cứ để chia tài sản chung và chia thừa kế. Như vậy, ông T1 và bà A được nhận phần tài sản như sau:
- - Thửa đất số 34 tờ bản đồ số 16 có giá trị 473.394.500đ được chia theo tỷ lệ 70/30, cụ thể như sau:
- + Ông Võ Văn T1 được hưởng 30% giá trị thửa đất tương đương với số tiền là 142.018.350đ.
- + Bà Nguyễn Thị A được hưởng 70% giá trị thửa đất tương đương số tiền 331.376.150₫.
- - Đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 14 tờ bản đồ số 18 có giá trị 302.593.870đ, được chia theo tỷ lệ 50/50, cụ thể như sau:
- + Ông Võ Văn T1 được hưởng 50% giá trị đất và tài sản gắn liền với đất tương đương số tiền 151.296.935₫.
- + Bà Nguyễn Thị A được hưởng 50% giá trị đất và tài sản gắn liền với đất tương đương số tiền 151.296.935₫.
- - Thửa đất số 15 tờ bản đồ số 18 có giá trị 560.756.500 đồng, được chia theo tỷ lệ 50/50, cụ thể như sau:
- + Ông Võ Văn T1 được hưởng 50% giá trị đất và tài sản gắn liền với đất tương đương số tiền 280.378.250₫.
- + Bà Nguyễn Thị A được hưởng 50% giá trị đất và tài sản gắn liền với đất tương đương số tiền 280.378.250₫.
Như vậy, tổng giá tài tài sản bà A được hưởng là 763.051.335đ; tổng giá tài tài sản ông T1 được hưởng là 573.693.535₫.
[6] Xét yêu cầu chia thừa kế đối với di sản của ông Võ Văn T1:
Ông Võ Văn T1 chết năm 2011, không để lại di chúc nên căn cứ Điều 650 Bộ luật Dân sự Tòa án chia thừa kế di sản của ông T1 theo pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Võ Hàn V, chị Võ Thị Phương N mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Tòa án để làm việc nhưng chị N và anh V không lên làm việc và cũng không có lý do. Do đó, không lấy được ý kiến của chị N và anh V về việc mong muốn nhận kỷ phần thừa kế bằng hiện vật hay bằng giá trị tài sản. Việc anh V và chị N không lên làm việc là tự tước bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, tiếp tục chia tài sản thừa kế của ông Võ Văn T1 theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các ông Võ Đ2, Võ D, Võ Long Ầ từ chối nhận di sản thừa kế của ông Võ Văn T1, yêu cầu giao lại kỷ phần thừa kế mà ông Đ2, ông D, ông Ầ được nhận cho những người thừa kế khác của ông Võ Văn T1. Xét thấy yêu cầu trên của các ông Võ Đ2, Võ D, Võ Long Ầ là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên căn cứ Điều 620 Bộ luật dân sự thì ông Đ2, ông D, ông Ầ không được nhận di sản thừa kế của ông T1.
Theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 thì bà Nguyễn Thị A, anh Võ Hàn V, chị Võ Thị Phương N, anh Võ Hàn Đ, anh Võ Mặc B cùng thuộc hàng thừa kế thứ nhất do đó bà A, anh V, chị N, anh Đ, anh B sẽ được hưởng phần thừa kế ngang bằng nhau:
Di sản thừa kế của ông Võ Văn T1 bằng 573.693.535đ : 5 = 114.738.707₫
Như vậy, bà A, anh V, chị N, anh Đ, anh B mỗi người sẽ được hưởng một phần di sản thừa kế bằng 114.738.707₫.
Tại đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị A cũng như các biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa bà A đều có yêu cầu nhận di sản thừa kế bằng hiện vật và thối lại bằng tiền cho những đồng thừa kế còn lại. Xét thấy, bà Nguyễn Thị A thực hiện canh tác trên các thửa đất trên trong suốt thời gian dài, nay bà A có nguyện vọng được nhận các tài sản bằng hiện vật và thối lại bằng tiền cho những đồng thừa kế là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật. Đồng thời, anh Võ Hàn Đ cũng có yêu cầu nhận phần tài sản thừa kế bằng tiền, chị N, anh V không lên làm việc nên không biết được ý kiến của chị N và anh V.
Anh Võ Mặc B, có yêu cầu được tặng lại toàn bộ phần thừa kế mà anh B được hưởng cho bà Nguyễn Thị A nên ghi nhận yêu cầu này của anh B.
Từ những cơ sở trên, căn cứ các Điều 611, 613, 620, 623, 649, 650, 651, 652, 660 Bộ luật dân sự, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia tài sản chung giữa bà Nguyễn Thị A và ông Võ Văn T1 và chia di sản thừa kế của ông Võ Văn T1.
- + Giao cho bà Nguyễn Thị A quản lý và sử dụng 03 thửa đất gồm: thửa đất số 14, tờ bản đồ số 18 (bản đồ địa chính xã V) có diện tích 2435 m²; thửa đất số 15, tờ bản đồ số 18 (bản đồ địa chính xã V) có diện tích 5902,7 m²; thửa đất số 34, tờ bản đồ số 16 (bản đồ địa chính xã V) có diện tích 4983,1 m². Cả ba lô đất trên đều thuộc thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Bà A có trách nhiệm thối lại cho anh Võ Hàn V, Võ Hàn Đ, chị Võ Thị Phương N mỗi người số tiền 114.738.707 đồng.
- + Ghi nhận sự thỏa thuận của anh Võ Mặc B tặng cho bà Nguyễn Thị A phần tài sản thừa kế anh B được hưởng.
[5] Các vấn đề khác: Đơn kiến nghị của bà Võ Thị Phương N và ông Võ Hàn Đ về việc yêu cầu xem xét quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng của 03 thửa đất trên. Tuy nhiên, sự việc trên đã được giải quyết theo Báo cáo về việc giải quyết đơn của ông Võ Hàn V và ba Võ Thị Phương N số 159/BC-UBND ngày 31/7/2020 của Ủy ban nhân dân xã V.
[6] Về án phí, chi phí đo vẽ định giá:
Về chi phí đo vẽ, định giá: Tổng chi phí đo vẽ định giá nguyên đơn đã thanh toán. Tại phiên tòa nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải thanh toán các chi phí này, nên Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của nguyên đơn.
[7] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[8] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị A phải chịu số tiền án phí là 41.775.862 đồng. Anh Võ Hàn V, chị Võ Thị Phương N, anh Võ Hàn V mỗi người phải chịu án phí với số tiền là 5.736.935 đồng
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Điều 59; Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ Điều 611, 613, 620, 623, 649, 650, 651, 652, 660 Bộ luật dân sự;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị A về việc chia tài sản chung của bà Nguyễn Thị A với ông Võ Văn T1 (chết năm 2011) và chia tài sản thừa kế của ông Võ Văn T1 đối với đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 14, 15 tờ bản đồ số 18 và thửa đất số 34, tờ bản đồ số 16 (bản đồ địa chính xã V), vị trí các thửa đất thuộc thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
[2] Chia đôi tài sản của bà Nguyễn Thị A và ông Võ Văn T1 (chết năm 2011); trong đó bà Nguyễn Thị A được hưởng tổng giá trị tài sản tương đương số tiền là 763.051.335₫ (Bảy trăm sáu mươi ba triệu không trăm năm mươi mốt nghìn ba trăm ba mươi lăm đồng); ông Võ Văn T1 được hưởng tổng giá trị tài sản tương đương số tiền là 573.693.535đ (Năm trăm bảy mươi ba triệu sáu trăm chín mươi ba nghìn năm trăm ba mươi lăm đồng).
[3] Chia di sản thừa kế của ông Võ Văn T1 (chết) để lại cho bà Nguyễn Thị A, anh Võ Hàn V, chị Võ Thị Phương N, anh Võ Hàn Đ, anh Võ Mặc B thành 05 (năm) phần bằng nhau, mỗi người được hưởng phần tài sản thừa kế của ông Võ Văn T1 (chết năm 2011) tương đương với số tiền là 573.693.535đ: 5 = 114.738.707đ (Một trăm mười bốn triệu bảy trăm ba mươi tám nghìn bảy trăm lẻ bảy đồng).
Ghi nhận sự thỏa thuận của anh Võ Mặc B về việc tặng cho bà Nguyễn Thị Anh kỷ P thừa kế mà anh B được hưởng cho bà A với số tiền 114.738.707 đồng.
Như vậy bà Nguyễn Thị A được nhận phần tài sản chung có giá trị tài sản tương đương số tiền là 763.051.335 đồng; Kỷ phần bà Nguyễn Thị A được hưởng thừa kế từ ông Võ Văn T1 (chết năm 2011) với số tiền là 114.738.707 đồng và kỷ phần bà được nhận tặng cho từ anh Võ Mặc B với số tiền là 114.738.707 đồng. Do vậy, bà A tổng giá trị tài sản bà A được nhận là: 992.528.749 đồng (Chín trăm chín mươi hai triệu năm trăm hai mươi tám nghìn bảy trăm bốn mươi chín đồng). Tại phiên tòa bà A đều có yêu cầu nhận di sản thừa kế bằng hiện vật và thối lại bằng tiền cho những đồng thừa kế còn lại nên giao cho bà Nguyễn Thị A quản lý và sử dụng 03 thửa đất gồm: thửa đất số 14, tờ bản đồ số 18 (bản đồ địa chính xã V) có diện tích 2435 m²; thửa đất số 15, tờ bản đồ số 18 (bản đồ địa chính xã V) có diện tích 5902,7 m²; thửa đất số 34, tờ bản đồ số 16 (bản đồ địa chính xã V) có diện tích 4983,1 m². Cả ba lô đất trên đều thuộc thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
Bà A có trách nhiệm thối lại cho anh Võ Hàn V, Võ Hàn Đ, chị Võ Thị Phương N mỗi người số tiền 114.738.707 đồng.
Quy định:
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Bà Nguyễn Thị A liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất của mình đối với các thửa đất số 14, 15 tờ bản đồ số 18 và thửa đất số 34, tờ bản đồ số 16 (bản đồ địa chính xã V), vị trí các thửa đất thuộc thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa
[4] Về án phí, chi phí đo vẽ định giá:
Về chi phí đo vẽ, định giá: Nguyên đơn đã thanh toán chi phí thẩm, định giá tài sản tranh chấp. Tại phiên tòa nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải thanh toán các chi phí này, nên Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của nguyên đơn.
[5] Về án phí:
[5.1] Bà Nguyễn Thị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 36.000.000đ + 3% x (992.528.749₫ – 800.000.000đ) = 41.775.862₫ (Bốn mươi mốt triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn tám trăm sáu mươi hai đồng).
[5.2]. Anh Võ Hàn V, chị Võ Thị Phương N, anh Võ Hàn Đ mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.726.935đ (Năm triệu bảy trăm hai mươi sáu nghìn chín trăm ba mươi lăm đồng).
[6] Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện Vạn Ninh; - Chi cục THADS huyện Vạn Ninh; (Sau khi án có hiệu lực pháp luật); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Hòa Thanh |
Bản án số 32/2024/DSST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA về yêu cầu chia tài sản chung và tranh chấp tài sản thừa kế
- Số bản án: 32/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu chia tài sản chung và tranh chấp tài sản thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
