Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LƯƠNG TÀI

TỈNH BẮC NINH


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh Phúc


Bản án số: 32/2024/HSST

Ngày 17/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG TÀI

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Mạnh

Bà Nguyễn Thị Châm

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Đỗ Quang Thiên - Thư ký TAND huyện Lương Tài.

- Đại diện VKSND huyện Lương Tài tham gia phiên toà: Bà Trần Thị B - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở TAND huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 29/ 2024/HSST ngày 14 tháng 6 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXX - HSST ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Bùi Thị L, sinh năm 1991;

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nữ.

Nơi cư trú: Thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12.

Họ và tên bố: Bùi Văn L1, sinh năm 1965

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1967

Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Chồng: Trương Văn N1, sinh năm 1988;

Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2022.

1

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại ( có mặt tại phiên tòa)

2. Trần Thị H, sinh năm 1984;

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nữ.

Nơi cư trú: Thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 6/12.

Họ và tên bố: Trần Văn K, sinh năm 1961

Họ và tên mẹ: Phạm Thị B1, sinh năm 1963;

Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Chồng: Nguyễn Đình C, sinh năm 1982

Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 16/2021/HSST ngày 07/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài xử phạt: Trần Thị H 20.000.000 đồng, về tội “Đánh bạc”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và án phí ngày 07/6/2021.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/3/2024 đến ngày 29/3/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại ( có mặt tại phiên tòa)

3. Phạm Văn T, sinh năm 1983;

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam

Nơi cư trú: Thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12.

Họ và tên bố: Phạm Văn T1, sinh năm 1959;

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1961;

Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

Họ và tên vợ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1987;

2

Con: Có 01 con, sinh năm 2014.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/3/2024 đến ngày 29/3/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại ( có mặt tại phiên tòa).

4. Đỗ Huy C1, sinh năm 1981;

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam

Nơi cư trú: Thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12.

Họ và tên bố: Đỗ Huy T3, sinh năm 1952

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị K1, sinh năm 1957

Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình.

Họ và tên vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1985;

Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2007.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/3/2024 đến ngày 29/3/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại ( có mặt tại phiên tòa)

5. Nguyễn Đình Đ, sinh năm1982;

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam

Nơi cư trú: Thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12.

Họ và tên bố: Nguyễn Đình K2 (đã chết).

Họ và tên mẹ: Vũ Thị L2, sinh năm 1947

Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ 04 trong gia đình.

Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1984

Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2016.

3

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/3/2024 đến ngày 29/3/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại ( có mặt tại phiên tòa)

6. Trương Văn C2, sinh năm 1998;

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam

Nơi cư trú: Thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12.

Họ và tên bố: Trương Văn C3, sinh năm 1976;

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T4, sinh năm 1979;

Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con lớn trong gia đình.

Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/3/2024 đến ngày 29/3/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại ở địa phương.

7. Trương Thị T5, sinh năm 2003;

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nữ.

Nơi cư trú: Thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12.

Họ và tên bố: Trương Văn C3, sinh năm 1976;

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T4, sinh năm 1979;

Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình.

Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/3/2024 đến ngày 29/3/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại ( có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

4

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ ngày 26/3/2024, khi Bùi Thị L đang ở nhà mình thì có Phạm Văn T, Nguyễn Đình Đ, Trần Thị H, Trương Thị T5 và Đỗ Huy C1 đến chơi. Quá trình ngồi uống nước nói chuyện tại nhà L thì T, Đ, H, T5 và C1 rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây ăn tiền, L đồng ý. Sau đó, T, Đ, H, T5 và C1 đi vào phòng bếp nhà L thì thấy đã có chiếu nhựa chải sẵn ở đó. Lúc này T cũng lấy từ trên người ra 01 bộ bài tú lơ khơ bỏ xuống chiếu để các đối tượng sử dụng để đánh bạc. Hình thức chơi như sau: Các đối tượng sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 cây, bỏ các cây bài 10, J, Q, K và chỉ lấy các cây bài từ cây A(át) đến cây 9 trộn đều, sau đó chia đều cho mỗi người 03 cây bài để tính điểm. Khi cộng điểm 03 cây bài được chia, ai được 10 điểm hoặc có số điểm cao nhất thì người đó được cầm chương (chia bài). Nếu người cầm chương là người có số điểm cao nhất thì được lấy toàn bộ số tiền đặt dưới chiếu của ván bài đó và được cầm chương ở ván bài tiếp theo. Theo quy ước mỗi ván bài mỗi người phải đặt cược thấp nhất là 10.000 đồng, mức cao nhất không quy định (Người cầm chương tự thống nhất với người đặt cược theo từng ván bài). Trường hợp người chơi bằng điểm với người cầm chương thì tính theo chất từ cao xuống thấp tương ứng với các chất cơ, rô, nhép, bích. Nếu người nào có tổng điểm là 10 hoặc 20 thì được cầm chương. Cách tính điểm là số điểm tương ứng với số ghi trên cây bài, cây A (át) được tính là 01 điểm. Các đối tượng T, Đ, H, T5 và C1 đánh bạc được khoảng 30 phút thì Trương Văn C2 đến, lúc này L và C2 cũng tham gia đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến 23 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện L phối hợp với Công an xã Q phát hiện và bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm: T6 trên chiếu bạc số tiền 5.870.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân (không có các quân bài 10, J, Q, K) và 01 chiếu nhựa đã qua sử dụng.

Ngoài ra, còn thu giữ tại túi quần bên phải phía trước của Phạm Văn T 4.800.000 đồng và 01 điện thoại Iphone XSMax màu trắng; tại túi quần bên phải phía sau của Đỗ Huy C1 1.000.000 đồng, 01 điện thoại Iphone 11 màu xanh và 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng; tại túi quần bên phải của Trần Thị H 9.010.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 12 màu đỏ bị vỡ mặt sau; tại túi quần bên phải của Trương Thị T5 01 điện thoại Iphone 11 ProMax màu trắng; thu tại mặt bàn học sinh của Trương Văn C2 số tiền 5.000.000 đồng; 01 điện thoại Iphone 13 RroMax màu vàng và 01 ví da màu đen; tại túi quần phía trước bên phải của Nguyễn Đình Đ 01 điện thọai Iphone 6s màu hồng bị vỡ màn hình.

Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã làm rõ hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:

5

Bùi Thị L khai nhận: Các đối tượng cùng thống nhất rủ nhau đánh bạc tại nhà mình, L đã đồng ý và không thu tiền hồ của các đối tượng đánh bạc. Khi đánh bạc, Lê có 250.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Khi bị lực lượng Công an bắt quả tang L đang hoà tiền, L để 250.000 đồng dưới chiếu bạc và bị thu giữ.

Trần Thị H khai nhận: Khi đi đánh bạc, H mang theo 9.710.000 đồng, H sử dụng 700.000 đồng để đánh bạc, còn 9.010.000 đồng là tiền để trên người số tiền này là tiền H để đi lễ chùa vào ngày hôm sau nên không sử dụng số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc không thắng, không thua, H để 700.000 đồng dưới chiếu bạc. Khi bị bắt, cơ quan điều tra đã thu giữ 700.000 đồng dưới chiếu bạc, thu giữ tại túi quần bên phải của H 9.010.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 12 màu đỏ bị vỡ mặt sau đã qua sử dụng.

Phạm Văn T khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 26/3/2024, T đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi số điện thoại 0918.292.xxx của C1 đến số 0976.316.835 của T (Sim số này T lắp trong điện thoại Iphone XSMax màu trắng), để rủ T đến nhà L để đánh bạc, T đồng ý. Sau đó, T đem theo 5.000.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Khi đánh bạc T bỏ ra trước số tiền 200.000 đồng để đánh bạc. Khi bị lực lượng Công an vào bắt quả tang, T đang thắng bạc, T bị thu giữ 200.000 đồng và tiền T thắng bạc để dưới chiếu bạc và thu giữ tại túi quần bên phải phía trước của T 4.800.000 đồng và 01 điện thoại Iphone XSMax màu trắng đã qua sử dụng.

Đỗ Huy C1 khai nhận: C1 dùng điện thoại Iphone 11 màu xanh, có lắp sim số 0918.292.088 gọi đến số 0976.316.835 của T, để rủ T đến nhà L đánh bạc. Sau đó C1 đem theo 3.000.000 đồng, C1 cho Đ vay 1.000.000 đồng, còn 2.000.000 đồng C1 sử dụng để đánh bạc. Khi đánh bạc C1 bỏ ra trước 1.000.000 đồng để đánh bạc. Khi lực lượng Công an bắt quả tang, C1 đang thắng bạc, C1 bị thu giữ 1.000.000 đồng và tiền C1 thắng bạc để dưới chiếu bạc và thu giữ tại túi quần bên phải phía sau của C1 1.000.000 đồng, 01 điện thoại Iphone 11 màu xanh và 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng.

Nguyễn Đình Đ khai nhận: Khi đi đánh bạc Đ không đem theo tiền nên đã vay của C1 1.000.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, Đ bị thua 900.000 đồng còn 100.000 đồng để dưới chiếu. Khi bị bắt, cơ quan điều tra thu giữ 100.000 dưới chiếu bạc; tại túi quần phía trước bên phải của Đ 01 điện thọai Iphone 6s màu hồng bị vỡ màn hình đã qua sử dụng.

Trương Văn Công khai nhận: C2 đem theo 5.500.000 đồng nhưng chỉ bỏ ra 500.000 đồng để đánh bạc, còn 5.000.000 đồng không sử dụng để đánh bạc mà để trả tiền hàng cho khách. Quá trình đánh bạc, C2 bị thua 100.000 đồng, còn 400.000 đồng để dưới chiếu bạc. Khi bị bắt, cơ quan điều tra đã thu giữ 400.000 đồng dưới chiếu bạc;

6

thu giữ trên mặt bàn học sinh của C2 5.000.000 đồng và 01 ví da màu đen, tại túi quần bên trái phía trước của C2 01 điện thoại Iphone 13 RroMax màu vàng đã qua sử dụng.

Trương Thị T5 khai nhận: T5 đem theo 200.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, T5 thắng được 100.000 đồng. Toàn bộ số tiền này T5 để dưới chiếu bạc. Khi bị bắt, cơ quan điều tra đã thu giữ số tiền đánh bạc và thắng bạc mà T5 để dưới chiếu bạc; thu giữ tại túi quần bên phải của T5 01 điện thoại Iphone 11 ProMax màu trắng đã qua sử dụng.

Tại bản Cáo trạng số 30/CT - VKS - LT ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài đã truy tố các bị cáo: Bùi Thị Lê, Trần Thị Hoa, Phạm Văn T, Đỗ Huy C1, Nguyễn Đình Đ, Trương Văn C2 và Trương Thị T5 về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1, Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện VKS nhân dân huyện L phát biểu quan điểm kết luận vụ án, sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo: Bùi Thị L, Trần Thị H, Phạm Văn T, Đỗ Huy C1, Nguyễn Đình Đ, Trương Văn C2 và Trương Thị T5 phạm tội: “Đánh bạc”.

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Thị L từ 13 đến 16 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 26 đến 32 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị H từ 13 đến 16 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 26 đến 32 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Huy C1 từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

*Về hình phạt bổ sung: Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật nên cần áp dụng khoản 3, Điều 321 của Bộ luật hình sự phạt tiền các bị cáo Bùi Thị L, Trần Thị H, Phạm Văn T, Đỗ Huy C1 mỗi bị cáo từ 10.000.000đ (mười triệu đồng) đến 15.000.000₫ (mười năm triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước là phù hợp với quy định pháp luật

7

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo Nguyễn Đình Đ, Trương Văn C2 và Trương Thị T5, mỗi bị cáo từ 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) đến 25.000.000đ (hai mươi năm triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ có 36 quân; 01 chiếu nhựa đã qua sử dụng;

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 11.670.000đ (mười một triệu, sáu trăm bẩy mươi nghìn đồng) là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 màu xanhcủa Đỗ Huy C1; 01 chiếc điện thoại Iphone XSMax màu trắng của Phạm Đình T7.

- Trả lại Trần Thị H 9.010.000 đồng (chín triệu không trăm mười nghìn đồng) và 01 điện thoại Iphon 12 màu đỏ bị vỡ mặt sau; Trả lại Trương Thị T5 01 điện thoại Iphone 11 ProMax màu trắng; Trả lại Trương Văn C2 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) và 01 điện thoại Iphone 13 RroMax màu vàng và 01 ví da màu đen; Trả lại Nguyễn Đình Đ 01 điện thọai Iphone 6s màu hồng bị vỡ màn hình. Trả lại cho Đỗ Huy C1 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng. Nhưng tạm giữ lại các tài sản của Trương Thị T5, Trương Văn C2, Trương Đình Đ1 và Đỗ Huy C1 để đảm bảo thi hành án.

.Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà, không tranh luận gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát không tranh luận gì thêm.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH

Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

8

Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về nội dung:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nhận thấy: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 26/3/2024, tại nhà Bùi Thị L, sinh năm 1991, trú tại thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh, có Trần Thị H, Phạm Văn T, Đỗ Huy C1, Nguyễn Đình Đ và Trương Thị T5 rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh ba cây, Lê là chủ nhà đồng ý để các đối tượng đánh bạc tại nhà mình. H, T, C1, Đ và T5 đánh bạc được khoảng 30 phút thì có Trương Văn C2 đến, lúc này L và C2 cũng tham gia đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, thì bị Tổ công tác Công an huyện L phối hợp với Công an xã Q, phát hiện và bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc 5. 870.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ có 36 cây bài, 01 chiếc chiếu nhựa; thu trên người các đối tượng đánh bạc tổng số tiền là 19.810.000 đồng (trong đó số tiền các đối tượng sẽ sử dụng vào việc đánh bạc là 5.800.000 đồng). Như vậy tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 11.670.000 đồng. Do các đối tượng tham gia đánh bạc dưới 10 người và có 01 chiếu bạc nên hành vi của Bùi Thị L cho các đối tượng đánh bạc tại nhà của mình không cấu thành tội gá bạc. Tuy nhiên hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội: “Đánh bạc” theo khoản 1, Điều 321 của Bộ luật hình sự đúng như tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài đã truy tố.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt trong nhân dân. Từ việc đánh bạc một cách bất hợp pháp gây thiệt hại về kinh tế cho những đối tượng đánh bạc và đây cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Trong lúc Đảng và Nhà N2 ta đang lên án và kiên quyết bài trừ tệ nạn cờ bạc ra khỏi đời sống xã hội, mặc dù các bị cáo cũng nhận thức được điều này nhưng vì hám lợi bất hợp pháp mà các bị cáo đã đi vào con đường phạm tội. Do vậy cần phải xử phạt các bị cáo bằng chế tài luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy: Bùi Thị L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là người có vai trò chính trong vụ án, Bùi Thị L đã cho các con bạc đánh bạc tại nhà mình và trực tiếp tham gia đánh bạc cùng các con bạc khác. Do vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên bị cáo phạm tội lần này là lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thật sự ăn năn hối

9

cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ giúp bị cáo là người có ích cho xã hội.

Tiếp theo đó là Trần Thị H cũng tham gia đánh bạc cùng các con bạc khác. Mặc dù được xác định là không có tiền án, tiền sự nhưng nhân thân tại bản án hình sự sơ thẩm số 16/2021/HSST ngày 07/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài xử phạt: Trần Thị H 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người có nhân thân xấu. Do vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thật sự ăn năn hối cải nên đã tự nguyện nộp 10.000.000đ tiền phạt và 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, khoản 1 + khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ để giáo dục bị cáo là người có ích cho xã hội

Tiếp theo đó là Phạm Văn T và Đỗ Huy C1, trước khi đánh bạc Phạm Văn T đã điện thoại dủ Đỗ Huy C1 đến nhà Bùi Thị L để đánh bạc lượng tiền mà Phạm Văn T dùng vào việc đánh bạc là 5.000.000đ. Lượng tiền mà Bùi Thị L dùng vào việc đánh bạc là 2.000.000đ. Ngoài ra Đỗ Huy C1 còn cho Nguyễn Đình Đ vay 1.000.000₫ để đánh bạc nên được xác định là có vai trò ngang nhau. Do vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với 02 bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên các bị cáo phạm tội lần này là lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo và thật sự ăn năn hối cải. Bị cáo Phạm Văn T có ông nội là Phạm Văn T8 tham gia kháng chiến chống Mỹ được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba và tham gia dân công hỏa tuyến được hưởng chế độ theo Quyết định số 49/2015/QĐ- TTg ngày 14/10/2015 của Thủ tưởng Chính phủ; Bị cáo Đỗ Huy C1 là cháu ruột và đang thờ cúng liệt sỹ Đỗ Duy Đ2. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s, khoản 1 + khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ giáo dục bị cáo là người có ích cho xã hội

Tiếp theo đó là Nguyễn Đình Đ, Trương Văn C2 và Trương Thị T5 cũng tham gia đánh bạc cùng các con bạc khác, lượng tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc không lớn, các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự và là người có nhân thân tốt, phạm tội lần này là

10

lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo và thật sự ăn năn hối cải. Bị cáo C2 và bị cáo T5 có ông nội là Trương Văn Đ3 tham gia dân công hỏa tuyến được hưởng chế độ theo Quyết định số 49/2015/QĐ – TTg ngày 14 tháng 10 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ. Bị cáo Nguyễn Đình Đ có bố đẻ là ông Nguyễn Đình K2 tham gia kháng chiến chống Mỹ được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba và huy chương chieenns sỹ vẻ vang, mẹ là bà Vũ Thị L2 tham gia kháng chiến chống Mỹ được Chủ tịch UBND tặng Bằng khen. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s, khoản 1 + khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo và chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ để răn đe và giáo dục các bị cáo là người có ích cho xã hội.

*Về hình phạt bổ sung: Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật nên cần áp dụng khoản 3, Điều 321 của Bộ luật hình sự phạt tiền các bị cáo Bùi Thị L, Trần Thị H, Phạm Văn T, Đỗ Huy C1 mỗi bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước là phù hợp với quy định pháp luật. Xác nhận bị cáo Trần Thị H đã nộp 10.000.000đ tiền phạt và 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0002125 ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Tài.

*Về vật chứng của vụ án: - Đối với 01 bộ tú lơ khơ 36 quân và 01 chiếu nhựa là công cụ sử dụng cho việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Đối với số tiền 11.670.000 đồng (mười một triệu, sáu trăm bẩy mươi nghìn đồng) là tiền các bị cáo đã, đang và sẽ sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Đối với điện thoại Iphone 11 màu xanhcủa Đỗ Huy C1; chiếc điện thoại Iphone XSMax màu trắng của Phạm Đình T7. Bị cáo C1 và T7 sử dụng các chiếc điện thoại trên để gọi nhau đến nhà L để đánh bạc nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Đối với số tiền 9.010.000 đồng (chín triệu không trăm mười nghìn đồng) thu của Trần Thị H; 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) của Trương Văn C2, quá trình điều tra xác định các bị cáo không sử dụng để đánh bạc nên cần trả lại cho bị cáo H và bị cáo C2 số tiền trên nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với tài sản là 04 chiếc điện thoại di động còn lại và 01 chiếc ví da màu đen, cụ thể: Trần Thị H 01 điện thoại Iphone 12 màu đỏ bị vỡ mặt sau; Trương Thị T5 01

11

điện thoại Iphone 11 ProMax màu trắng; Trương Văn C2 01 điện thoại Iphone 13 RroMax màu vàng và 01 ví da màu đen; Nguyễn Đình Đ 01 điện thọai Iphone 6s màu hồng bị vỡ màn hình; Đỗ Huy C1 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng. Xét thấy những tài sản trên không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại các bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án là phù hợp với quy định của pháp luật.

* Đối với Trương Văn N1 là chồng của Bùi Thị L, quá trình điều tra xác định: Thời điểm L và các đối tượng tham gia đánh bạc tại phòng bếp thì anh N1 không có mặt ở nhà nên không biết L và các đối tượng đánh bạc tại nhà mình. Do đó cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, không xem xét xử lý đối với anh N1 là phù hợp với quy định của pháp luật

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo: Bùi Thị L, Trần Thị H, Phạm Văn T, Đỗ Huy C1, Nguyễn Đình Đ, Trương Văn C2 và Trương Thị T5 phạm tội: “Đánh bạc”.

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Thị L 13(mười ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 26(hai mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị H 13(mười ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 26(hai mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T 12(mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24(hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản, Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Huy C1 10(mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 20(hai mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Bùi Thị L, Trần Thị H, Phạm Văn T và Đỗ Huy C1 cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo

12

cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

*Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3, Điều 321 của Bộ luật hình sự: Phạt tiền các bị cáo Bùi Thị L, Trần Thị H, Phạm Văn T và Đỗ Huy C1 mỗi bị cáo 10.000.000₫ (mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước. Xác nhận bị cáo Trần Thị H đã nộp 10.000.000đ (mười triệu đồng)tiền phạt theo biên lai thu số 0002125 ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Tài.

Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo Nguyễn Đình Đ, Trương Văn C2 và Trương Thị T5 mỗi bị cáo 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

* Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ loại 36 quân; 01 chiếu nhựa đã qua sử dụng;
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 11.670.000đ (mười một triệu, sáu trăm bẩy mươi nghìn đồng) là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 màu xanh của Đỗ Huy C1; 01 chiếc điện thoại Iphone XSMax màu trắng của Phạm Đình T7.
  • - Trả lại Trần Thị H 9.010.000 đồng (chín triệu không trăm mười nghìn đồng) và 01 điện thoại Iphon 12 màu đỏ bị vỡ mặt sau; Trả lại Trương Thị T5 01 điện thoại Iphone 11 ProMax màu trắng; Trả lại Trương Văn C2 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) và 01 điện thoại Iphone 13 RroMax màu vàng và 01 ví da màu đen; Trả lại Nguyễn Đình Đ 01 điện thọai Iphone 6s màu hồng bị vỡ màn hình; Trả lại cho Đỗ Huy C1 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng. Nhưng tạm giữ lại các tài sản của Trương Thị T5, Trương Văn C2, Đỗ Huy C1 và trương Đình Đ1 để đảm bảo thi hành án.

* Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 135 và khoản 2, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc các bị cáo Bùi Thị L, Trần Thị H, Phạm Văn T, Đỗ Huy C1, Nguyễn Đình Đ, Trương Văn C2 và Trương Thị T5 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. ( Xác nhận các bị cáo Trần Thị H đã nộp 200.000đ ( hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0002125 ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Tài.

13

* Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Báo cho các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Lương Tài;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh
  • - Chi cục THADS huyện Lương Tài (khi bản án có HLPL);
  • - TAND tỉnh Bắc Ninh (Phòng GĐKT);
  • - UBND các xã nơi các bị cáo cư trú;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Văn Phong

14

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HSST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH về đánh bạc (hình sự)

  • Số bản án: 32/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi thị lê và đồng bọn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger