Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HÓA


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày 15-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân : Ông Nguyễn Văn Sâm

Ông Lê Đăng Thiện

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân .

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Hùng Tâm - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ xuân, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2024/TLST - HS ngày 05 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST - HS ngày 01/4/2024 đối với các Bị cáo:

1. Đỗ Viết X, sinh ngày 16 tháng 5 năm 1980 tại xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn E xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố: Đỗ Viết T (đã chết); Mẹ: Trịnh Thị T1, sinh năm 1957; Gia đình có 03 anh em, Bị cáo là con thứ 1; Vợ: Bùi Thị Q, sinh năm 1992(đã ly hôn); Có 02 con: Con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 06/8/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xử phạt 18 tháng tù về tội: “Gây rối trật tự công cộng”. Ngày 27/02/2022 chấp hành xong hình phạt tù và nộp tiền án phí.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2023 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Giang Thế Đ; Sinh ngày 06 tháng 02 năm 1996 tại thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu phố X, thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tư do; Trình độ Văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố: Giang Thế Đ1, sinh năm 1970; Mẹ: Dương Thị H, sinh năm 1973; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 1; Chưa có vợ, con; Tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 30/10/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Ngày 23/12/2019 nộp xong tiền án phí. Ngày 28/01/2022 chấp hành xong án phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2023 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Đỗ Văn M, sinh ngày 22 tháng 7 năm 1999 tại xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn C xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố: Đỗ Văn P, sinh năm 1967; Mẹ: Đỗ Thị D, sinh năm 1972; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; Chưa có vợ con; Tiền án; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 12/11/2019 bị Công an thành phố T xử phạt hành chính về hành vi: “Xâm hại sức khỏe người khác”. Ngày 27/3/2020 nộp xong tiền phạt

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2023 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Hoàng Thế T2, sinh ngày 08 tháng 01 năm 1998 tại xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; Nơi cư trú: Thôn P xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố: Hoàng Văn T3, sinh năm 1970; Mẹ: Đặng Thị H1, sinh năm 1974; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 1; Chưa có vợ con; Tiền sự: Không.

- Tiền án: Ngày 17/9/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 36 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 26/02/2022 chấp hành xong hình phạt tù và nộp tiền án phí.

- Nhân thân: Ngày 02/11/2017 bị Công an huyện T, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: “Xâm hại sức khỏe người khác”. Đã nộp xong tiền phạt ngày 03/11/2017.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2023 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

5. Huỳnh Thị Bích N, sinh ngày 02 tháng 4 năm 2004 tại xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: Ấp T xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; Nơi tạm trú: Số A T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố: Không xác định; Mẹ: Huỳnh Thị Bích T4, sinh năm 1978; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 1; Chưa có chồng; Có 01 con sinh năm 2023; Tiền án; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2023 đến ngày 21/3/2023.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho Bị cáo Đỗ Văn M:

Ông Trịnh Đình H2 - Trợ giúp viên pháp lý. Vắng mặt

Hiện công tác tại: Chi nhánh S1 - Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Thanh Hóa.

- Người làm chứng:

  1. Anh Trần Văn D1. Sinh năm 1993. Vắng mặt
  2. Trú tại: Khu F thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Anh Vi Văn H3. Sinh năm 1978. Vắng mặt
  4. Trú tại: Thôn É xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

  5. Anh Hoàng Văn C. Sinh năm1975. Vắng mặt
  6. Trú tại: Thôn P xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

  7. Anh Hoàng Văn H4. Sinh năm 2003. Vắng mặt
  8. T5 tại: Khu C thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  9. Anh Đỗ Viết K. Sinh năm 1989. Có mặt
  10. Trú tại: Khu F thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  11. Anh Lê Thanh T6. Sinh năm 1995. Vắng mặt
  12. Trú tại: Khu D thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  13. Anh Nguyễn Trọng H5. Sinh năm 1992. Vắng mặt
  14. Trú tại: Thôn T xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  15. Chị Đặng Ngọc H6. Sinh năm 2000. Có mặt
  16. T5 tại: Khu C thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  17. Ma Thị Kim C1, sinh năm 2004. Vắng mặt
  18. Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện Y, tỉnh Yên Bái.

  19. Chị Vi Thị T7, sinh năm 2004. Vắng mặt
  20. Địa chỉ: Thôn T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

  21. Chị Đỗ Thị P1, sinh năm 1998. Vắng mặt
  22. Địa chỉ: Thôn X xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 00h 30 phút ngày 07/01/2023 Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa phát hiện bắt quả tang tại khu vực phòng ngủ thuộc tầng 2 nhà Đỗ Viết X tại thôn E xã X, huyện T có 08 đối tượng gồm: Đỗ Viết X, Giang Thế Đ, Đỗ Văn M, Trần Văn D1, Đỗ Thị P1, Vi Thị T8, Đặng Ngọc H6, Ma Thị Kim C1 đang sử dụng trái phép chất ma túy.

Tiến hành thu giữ gồm:

  • - 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn, đường kính 32cm, trên bề mặt bám nước, dưới đáy đĩa có lớp muội than màu đen tại gầm bàn phòng ngủ thứ 1 của tầng 2. Niêm phong ký hiệu M;
  • - 01 thẻ nhựa màu vàng tại bồn cầu tầng 2. Niêm phong ký hiệu M1;
  • - 01 túi nilon màu trắng, viền màu xanh, bên trong có chứa chất bột màu trắng. Niêm phong ký hiệu M2;
  • - 01 cốc thủy tinh có bám dính nước màu đen trên ghế buồng ngủ thứ 3. Niêm phong ký hiệu M3;
  • - 03 vỏ chai nước lavie đã qua sử dụng; 01 vỏ lon cocacola; 03 lon cocacola thu giữ trong buồng ngủ thứ 3 tầng 2; 01 bóng đèn lases hình trụ tròn màu xanh, trên thân có chữ ivalue trong buồng ngủ thứ 3 tầng 2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen, số Imei: 353145101790240 gắn sim số 0973.807.997 điện thoại đã qua sử dụng.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Viết X phát hiện thu giữ:

  • - 02 túi nilon màu trắng, dạng túi zip viền màu xanh, bám dính chất bột màu trắng tại phòng ngủ thứ 3 tầng 2 nhà Đỗ Viết X. Tiến hành niêm phong ký hiệu M4;
  • - 02 túi nilon màu trắng, dạng túi zip viền màu xanh, bên trong bám dính chất màu trắng và 01 túi nilon màu trắng viền xanh bên trong chứa một viên nén màu cam và bám dính chất màu trắng, phát hiện tại vườn giáp tường phía sau nhà Đỗ Viết X. Tiến hành niêm phong ký hiệu M5.
  • - Tại bờ rào đám đất của gia đình X cách nhà mới 08m phát hiện thu giữ 01 túi nilon bên trong có chứa 09 viên nén màu cam, 01 túi nilon màu trắng mép dán viền đỏ, bên trong có 08 túi nhỏ bằng nilon chứa các hạt tinh thể màu trắng. Tất cả đựng trong hộp nhựa màu trắng nắp màu xanh. Tiến hành niêm phong ký hiệu M6

Xét nghiệm chất gây nghiện cho kết quả cả 08 đối tượng đều dương tính với ma túy, loại thuốc lắc và ketamine.

Các đối tượng khai nhận: Tối ngày 06/01/2023 Đỗ Viết X, Trần Văn D1, Giang Thế Đ đến nhà anh H7 ở xã X để uống rượu. Trong lúc uống rượu X gọi điện thoại cho Đặng Ngọc H6Ma Thị Kim C1 đến uống rượu cùng. Khoảng 21h cùng ngày, uống rượu xong thì X rủ mọi người về nhà Xuân chơi(sử dụng ma túy). X, Đ, H6, C1, P1 cùng nhau đi trên xe ô tô do D1 điều khiển đến nhà X. Trên đường đi X nói với Đ chuẩn bị ma túy để sử dụng. Đến nhà X, Đ gọi điện thoại hỏi M nơi cất giấu ma túy thì được M chỉ chỗ giấu ma túy ở bụi chuối cạnh nhà trọ ở khu C thị trấn T. Đ gọi xe taxi M1 đến nhà trọ của M ở khu C thị trấn T lấy 01 đĩa sứ màu trắng, Đ ra bụi chuối lấy 04 viên thuốc lắc và 01 gói Ketamine rồi quay về nhà X. Trên đường về Đ mua thêm 03 chai nước lọc và 04 lon cocacola. Tại nhà X lúc này chỉ có P1C1 nên Đ bảo cả hai lên phòng ngủ tầng 2. Sau đó Đ bỏ ma túy ra giường rồi lấy một viên thuốc lắc bẻ đôi và sử dụng hết nửa viên.

Lúc này X chở H6 về nhà trọ để thay quần áo và rủ thêm T7 đến nhà X để sử dụng ma túy cùng X. H6T7 về nhà X thì gặp D1 nên cả nhóm lên phòng ngủ tầng 2. X lấy 02 viên thuốc lắc để trên giường bẻ thành 4 phần rồi đưa cho H6, T7, C1, P1 mỗi người nửa viên để sử dụng, còn X cũng sử dụng nửa viên rồi chuẩn bị loa, đèn chớp đã có sẵn trong nhà để mở nhạc sau khi dùng ma túy. Đ lấy đĩa sứ ra ban công tầng 2 dùng giấy đốt nóng rồi đem vào phòng đổ ketamine vào đĩa, dùng thẻ nhựa đảo(xào K1) rồi chia thành các đường. Xào xong Đ dùng ống hút cuốn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ của X đưa, Đ sử dụng hai đường ketamine. Tiếp đó Đ kẻ tiếp các đường “Ke” và mời cả nhóm cùng sử dụng. Do số Ketamine trên đĩa đã hết nên Đ tiếp tục đổ thêm vào đĩa xào để dùng tiếp. Khoảng 22h 30 phút cùng ngày M gọi điện cho Đ thì biết mọi người đang ở nhà X nên M đến nhà X. Lên tầng 2 thấy mọi người sử dụng ma túy thì M tự lấy nửa viên thuốc lắc cho vào miệng và được Đ đưa đĩa ketamine cho M sử dụng. Cả nhóm tiếp tục nằm nghe nhạc đến khoảng 00h 30 phút ngày 07/01/2023 thì bị Công an huyện T bắt quả tang. Ngay lúc đó M cầm nửa viên thuốc lắc màu cam ném từ tầng 2 xuống vườn, còn Đ cầm đĩa sứ ra nhà vệ sinh rửa và ném thẻ nhựa, ống hút vào bồn cầu xả nước, tuy nhiên thẻ nhựa bị mắc lại và đã thu giữ và niêm phong.

Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Văn M

  • - Tại quán xăm hình nghệ thuật của Đỗ Văn M ở thôn F xã X, huyện T phát hiện tại khu vực nhà để gạch ngói thuộc vườn nhà chị Đỗ Thị H8 (cách bờ tường quán xăm khoảng 04m) thu giữ 01 túi nilon màu vàng có dòng chữ “5D MASK”, bên trong có 01 túi nilon màu trắng, viền đỏ chứa 20 túi nilon màu trắng, viền xanh, bên trong mỗi túi chứa các hạt tinh thể màu trắng. Tiến hành niêm phong kí hiệu M7.
  • - Tại nhà trọ do M thuê ở khu C thị trấn T phát hiện thu giữ: 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng thu trong túi quần bò để trong túi quần áo của Hoàng Thế T2. Tiến hành niêm phong kí hiệu M8; 01 viên nén màu da cam đựng trong túi nilon màu trắng, phần mép túi có viền màu đỏ thu giữ trong ngăn bàn làm việc để ở phòng khách. Tiến hành niêm phong kí hiệu M9.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Giang Thế Đ tại khu phố X, thị trấn S, huyện T không phát hiện đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.

Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trưng cầu giám định đối với các chất nghi là ma túy đã thu giữ.

Tại bản kết luận giám định số 380/PC09 ngày 12/01/2023 của phòng K3 Công an tỉnh T đã kết luận:

  • - Hộp giấy ký hiệu M: Tìm thấy chất ma túy loại Ketamine bám dính trên bề mặt đĩa sứ màu trắng, đường kính 32cm niêm phong gửi giám định. Không xác định được khối lượng chất ma túy.
  • - Phong bì niêm phong kí hiệu M1: Tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine bám dính trên bề mặt thẻ nhựa màu vàng, kích thước 8,5cm x 5,5cm, trên thẻ có chữ màu đen niêm phong gửi giám định. Không xác định được khối lượng chất ma túy.
  • - Hộp giấy kí hiệu M3: Chất bột bám dính trên 01 cốc thủy tinh màu trắng niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA. Không xác định được khối lượng chất ma túy.
  • - Phong bì niêm phong kí hiệu M4: Chất bột màu trắng bám dính bên trong 02 túi nilon màu trắng, viền xanh niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng chất ma túy.
  • - Phong bì niêm phong kí hiệu M5:
  • + Chất bột màu trắng bám dính bên trong 02 túi nilon màu trắng, viền xanh niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng chất ma túy.
  • + 01 mảnh chất nén màu cam đựng trong 01 túi nilon màu trắng viền màu xanh niêm phong gửi giám định là ma túy, loại MDMA, có tổng khối lượng 0,204g.
  • - Hộp giấy kí hiệu M6:
  • + 09 viên nén màu cam đựng trong 01 túi nilon màu trắng niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 3,879g, loại MDMA.
  • + Chất tinh thể màu trắng đựng trong 08 túi nilon màu trắng niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 7,725g, loại Ketamine.
  • - Phong bì kí hiệu M7: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 20 túi nilon màu trắng viền màu xanh niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 10,741g, loại Ketamine
  • - Phong bì kí hiệu M8: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 2,165g, loại Ketamine.
  • - Phong bì kí hiệu M9: 01 viên nén không rõ hình màu da cam niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,193g, loại MDMA.

Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ được là 20,63g Ketamine và 4,276g MDMA.

Về nguồn gốc số ma túy đã thu giữ:

Theo Đỗ Văn M, Giang Thế ĐĐỗ Viết X khai nhận ban đầu: Ngày 28/12/2022 Đỗ Viết XGiang Thế Đ đến nhà anh Hoàng Văn C ở xã X, huyện T lấy được số tiền nợ 50.000.000đ. Sau đó Đỗ Văn MGiang Thế Đ vay số tiền này của Đỗ Viết X để mua ma túy. Đ gọi điện thoại cho Nguyễn Trọng H5, sinh năm 1992, ở xã Đ, huyện T hỏi mua ma túy nhưng H5 không có ma túy nên Đ tiếp tục gọi qua Messenger cho Phạm Văn T9, sinh năm 1992, trú tại: Nga T, N thì T9 cho T10 số điện thoại 0853.736.xxx để liên hệ hỏi mua ma túy. Đ gọi điện thoại đến số điện thoại này thì gặp một người đàn ông không rõ tên, địa chỉ. Người này đồng ý bán ma túy cho ĐM loại Ketamine và thuốc lắc với số tiền 45.000.000đ và chỉ đường cho Đ đến huyện N. MĐ đem theo 50.000.000₫ rồi gọi xe taxi của anh Đỗ Văn K2 đi đến thôn B xã N, huyện N gặp Phạm Văn T9Lê Quang Tuấn A. Sau khi nói chuyện và hỏi mua ma túy. M đưa cho Tuấn A 45.000.000đ, Tuấn A đi một lúc rồi quay lại đưa cho M 50 viên thuốc lắc và 01 túi ketamine. Sau khi mua được số ma túy trên ĐM đem số ma túy đến nơi M ở để cất giấu.

Khoảng 22h ngày 05/01/2023 Huỳnh Thị Bích N cùng với Giang Thế ĐĐỗ Văn M đến quán xăm tại xã X, huyện T chơi. Khi N ngồi trên ghế chơi điện thoại thì MĐ đem số ma túy chia thành nhiều túi nhỏ. N thấy vậy liền lấy 01 túi Ketamine cho vào túi áo để sử dụng. Sau khi chia nhỏ số ma túy trên thì M đem cất giấu tại các vị trí gồm: Khu vực bụi chuối trước nhà trọ ở khu C thị trấn T; Vườn nhà bà Đỗ Thị H8 ở thôn F xã X(cạnh quán xăm của M); Khu vực đám đất cạnh nhà Đỗ Viết X.

Huỳnh Thị Bích N đem số ma túy lấy được về cất giấu tại nhà trọ ở khu C thị trấn T. Tối ngày 06/01/2023, N đem túi Ketamine trên đổ một ít ra đĩa để sử dụng sau đó nằm ngủ luôn tại buồng ngủ phòng trọ. Lúc này trong đĩa đang còn một ít chưa sử dụng hết. Hoàng Thế T2 ở cùng nhà trọ thức dậy thấy trong đĩa có sẵn ma túy nên đã sử dụng rồi đi ngủ. Đến khoảng 02h sáng ngày 07/01/2023 nghe tin nhóm Đ, X, M bị bắt nên T2N rủ nhau ra nhà nghỉ để ngủ. Lúc này N đưa gói ma túy còn lại cho T2 bảo Toàn vứt đi nhưng T2 không vứt mà bỏ vào túi quần bò đang mặc để sử dụng. Khoảng 06h sáng ngày 07/01/2023 T2N quay trở lại nhà trọ, đến 08h cùng ngày cơ quan điều tra tiến hành khám xét và đã thu giữ gói ma túy trên. T2N ra đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội. Ngoài ra N còn giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím, bên ngoài có ốp nhựa màu đen viền vàng số Imei 1: 35657910137978 số Imei 2: 56579101063260, gắn thẻ sim số 0986.966.806 (đã qua sử dụng).

Cơ quan điều tra đã phối hợp với Trung tâm y tế huyện T kiểm tra chất gây nghiện. Kết quả xét nghiệm xác định: Hoàng Thế T2Huỳnh Thị Bích N đều dương tính với chất ma túy loại Ketamine.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trọng H5 thu giữ gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1907 màu xanh đen, số Imei 1: 863601049179436, số Imei 2: 863601049179428, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0373.221.222(đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 11T màu đen, số Imei 1: 86572605827370178, số Imei 2: 86572606827371987, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0812.345.600(đã qua sử dụng); 01 thẻ ngân hàng MB mang tên Nguyễn Trọng H5, số 4089041004214284; 01 thẻ ngân hàng SHB mang tên Nguyễn Trọng H5, số 9704431179360273.

Sau khi bị bắt và quá trình điều tra các đối tượng gồm: Đỗ Viết X, Đỗ Văn M, Trần Văn D1, Đỗ Thị P1, Ma Thị Kim C1, Vi Thị T7, Đặng Ngọc H6 tự giao nộp điện thoại các loại gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu bạc số Imei: 359485080357544 bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0845.390.660 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax màu màu xám đen số seri: G6TZ74CDN70G, số máy MWEP211/A, gắn thẻ sim số thuê bao 0974.950.433 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro màu xanh đen số Imei: 3356037843372203 bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0976.663.197 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Glaxy A03 màu xanh, số Imei 1: 350538282916514, số imei 2: 359923672916517, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0964.966.543 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A95 màu ghi số Imei: 868057057962475, số imei 2: 868057057962467 bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0869.683.138 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu gold số Imei 1: 356712113028377, số imei 2: 356712115694911, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0966.654.817 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đỏ số Imei 1: 356561109576417, số imei 2: 356561109045642, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0326.811.902 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc số Imei: 354409066854402, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0968.378.677 đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Wawe alpha màu xanh, biển kiểm soát 36M1- 190.41.

Đối với số ma túy mua được vào ngày 28/12/2022 Đỗ Văn M cất giấu và bán cho Lê Thanh T6 hai lần cụ thể:

Lần 1: Đêm ngày 29/12/2022 T6 sử dụng số điện thoại 0705.403.xxx nhắn tin vào số 0973.807.997 của Giang Thế Đ để hỏi mua ma túy, sau đó Đ gửi cho T6 số điện thoại 0974.950.xxx của Đỗ Văn M để T6 liên hệ mua ma túy. T6 gọi cho M thì M đồng ý và bán cho T6 02 chỉ Ketamine và 04 viên thuốc lắc với giá 9.600.000đ. Đến sáng ngày 30/12/2022 M gặp và giao ma túy cho T6 tại khu vực đường đôi khu C thị trấn T.

Lần 2: Sáng 02/01/2023 Lê Thanh T6 liên hệ với M hỏi mua 01 chỉ Ketamine với giá 4.000.000đ. MT6 hẹn nhau tại khu vực đường Q thuộc thôn A xã X, huyện T để đưa tiền và giao ma túy. Sau khi mua được số ma túy trên T6 đã sử dụng một mình hết.

Khám xét chỗ ở của T6 thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu IphoneXSMax màu đen bị vỡ mặt kính trước bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0705.403.915 đã qua sử dụng.

Số tiền 13.600.000₫ M bán ma túy cho T6 thì M đã chi tiêu hết, không thu hồi được.

Tiến hành thu giữ thư tín, điện tín đối với số thuê bao 0973.807.997 do G thế đạt sử dụng xác định người đăng ký thuê bao là Lê Bá Đ2, sinh năm 1997, trú tại thôn V xã X, huyện T. Đ khai mua số thuê bao này trên mạng internet. Việc Đ sử dụng số thuê bao vào việc phạm tội Lê Bá Đ2 không biết. Đối với số thuê bao 0853.736.766 Cơ quan điều tra đã có văn bản gửi Tổng công ty H10 để tra cứu thông tin chủ thuê bao này, tuy nhiên không thu thập được dữ liệu.

Đối với hành vi mua bán ma túy giữa MT6, sau khi mua được ma túy từ M thì T6 đã sử dụng hết, không thu được nên không có căn cứ xử lý T6.

Đối với số ma túy qua khám xét thu giữ tại nơi ở của X thì X khai nhận không biết của ai, không có các tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh nên không đủ cơ sở để xử lý đối với X về hành vi này.

Đối với các tài liệu đồ vật đã thu giữ gồm: 01 điện thoại của Huỳnh Thị Bích N; 02 điện thoại, 02 thẻ ngân hàng M2S2 của Nguyễn Trọng H5; 01 điện thoại Sam sung của Vi Thị T7; 01 điện thoại Iphone 11 của Ma Thị Kim C1; 01 điện thoại Iphone 6 và 01 xe mô tô Wawe alpha, biển kiểm soát 36M1- 190.41 của Trần Văn D1 đều không liên quan đến vụ án nên đã trả lại cho chủ sở hữu.

Vật chứng của vụ án gồm: 03 vỏ chai nước lavie đã qua sử dụng; 01 vỏ lon cocacola; 03 lon cocacola; 01 bóng đèn led màu trắng dạng đèn nháy; 01 loa hình trụ tròn màu xanh, trên thân có chữ ivalue; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen, số Imei: 353145101790240 gắn sim số 0973.807.997 điện thoại đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IphoneXSMax màu đen bị vỡ mặt kính trước bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0705.403.915 đã qua sử dụng(thu của T6); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu bạc số Imei: 359485080357544 bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0845.390.660 đã qua sử dụng(Thu của Bị cáo X); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax màu xám đen số seri: G6TZ74CDN70G, số máy MWEP2LL/A, gắn thẻ sim số thuê bao 0974.950.433 đã qua sử dụng(Thu của Bị cáo M); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A95 màu ghi số Imei: 868057057962475, số imei 2: 868057057962467 bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0869.683.138 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu gold số Imei 1: 356712113028377, số imei 2: 356712115694911, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0966.654.817 đã qua sử dụng; Một hộp giấy được dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Lê Minh T11, Trần Thị Thúy H9, Lương Xuân N1 và các hình dấu của phòng K3 Công an tỉnh T. Bên trong gồm: Toàn bộ bao gói mở niêm phong và 01 đĩa sứ màu trắng của hộp giấy kí hiệu M1; 01 thẻ nhựa màu vàng, trên thân thẻ có chữ màu đen của phong bì kí hiệu M; 01 cốc thủy tinh màu trắng của hộp giấy kí hiệu M3 và các mẫu vật còn lại sau giám định gồm: Phong bì kí hiệu M5: 0,150g chất bột màu cam; 01 hộp giấy kí hiệu M6: 08 viên nén màu cam có tổng khối lượng là 3,434g; 7,205g chất tinh thẻ màu trắng; Phong bì kí hiệu M7: 10,204g chất tinh thể màu trắng; Phong bì kí hiệu M8: 1,980g chất tinh thể màu trắng; Phong bì kí hiệu M9: 0,147g chất bột màu da cam; Số tiền 500.000đ hiện đang quản lý và nhập kho vật chứng tại Chi cục Thi hành án huyện Thọ Xuân.

Cáo trạng số 30/CT- VKSTX ngày 05/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố Bị cáo Đỗ Viết X về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Bị cáo Giang Thế Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 và tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự; Bị cáo Đỗ Văn M về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự; Các Bị cáo: Hoàng Thế T2Huỳnh Thị Bích N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Đỗ Viết X phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Bị cáo Giang Thế Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Đỗ Văn M phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; Các Bị cáo: Hoàng Thế T2Huỳnh Thị Bích N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 điều 51; Điểm h khoản 1 điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Bị cáo Đỗ Viết X;

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm p khoản 2 điều 251; Điểm s khoản 1 điều 51; Điểm h khoản 1 điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Bị cáo Giang Thế Đ;

Áp dụng điểm b, p khoản 2 điều 251; Điểm s khoản 1, 2 điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Bị cáo Đỗ Văn M;

Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, 2 điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các Bị cáo Hoàng Thế T2Huỳnh Thị Bích N; Áp dụng thêm điểm h khoản 1 điều 52 đối với Bị cáo Hoàng Thế T2;

Đề nghị HĐXX xử phạt:

  1. Bị cáo Đỗ Viết X từ 07(Bảy) năm 06(sáu) tháng đến 08(tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/01/2023;
  2. Bị cáo Giang Thế Đ từ 07(Bảy) năm 04(bốn) tháng đến 07(Bảy) năm 09(chín) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 07(Bảy) năm 02(hai) tháng đến 07(Bảy) năm 08(tám) tháng tù tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Hình phạt chung cho cả 02 tội từ 14(Mười bốn) năm 06(sáu) tháng đến 15(Mười lăm) năm 04(B) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/01/2023;
  3. Bị cáo Đỗ Văn M từ 07(Bảy) năm 05(năm) tháng đến 07(Bảy) năm 09(chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/01/2023;
  4. Bị cáo Hoàng Thế T2 từ 24(Hai mươi tư) tháng tù đến 27(Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/01/2023;
  5. Bị cáo Huỳnh Thị Bích N từ 22(Hai mươi hai) tháng đến 26(Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam Thi hành án được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2023 đến ngày 21/3/2023.

Đề nghị HĐXX Không phạt bổ sung đối với các Bị cáo.

Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, b, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 BLTTHS;

Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội; Trả lại cho Bị cáo Đỗ Văn M số tiền 500.000đ; Trả lại cho Bị cáo Đỗ Viết X 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro màu xanh đen số Imei: 3356037843372203 bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0976.663.197 đã qua sử dụng; Trả lại cho chị Đặng Ngọc H6 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu gold số Imei 1: 356712113028377, số imei 2: 356712115694911, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0966.654.817 đã qua sử dụng; Trả lại cho chị Đỗ Thị P1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A95 màu ghi số Imei: 868057057962475, số imei 2: 868057057962467 bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0869.683.138 đã qua sử dụng; Truy thu đối với Bị cáo Đỗ Văn M số tiền 13.600.000đ sung quỹ Nhà nước; Tịch thu sung quỹ Nhà nước gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen, số Imei: 353145101790240 gắn sim số 0973.807.997 điện thoại đã qua sử dụng(Thu của Bị cáo Đ); 01 điện thoại di động nhãn hiệu IphoneXSMax màu đen bị vỡ mặt kính trước bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0705.403.915 đã qua sử dụng(thu của T6); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu bạc số Imei: 359485080357544 bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0845.390.660 đã qua sử dụng(Thu của Bị cáo X); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax màu xám đen số seri: G6TZ74CDN70G, số máy MWEP2LL/A, gắn thẻ sim số thuê bao 0974.950.433 đã qua sử dụng(Thu của Bị cáo M); Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho Bị cáo Đỗ Văn M vắng mặt tại phiên tòa. Tại Bản trình bày quan điểm bào chữa: Về tội danh và khung hình phạt tôi đồng ý với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố. Bị cáo Đỗ Văn M thành khẩn khai báo, Bị cáo có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất; Bị cáo M có hoàn cảnh gia đình khó khăn, Mẹ Bị cáo mắc bệnh hiểm nghèo, gia đình Bị cáo là hộ cận nghèo. Vì vậy đề nghị HĐXX căn cứ vào điểm b, p khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, 2 điều 51; Điều 38 BLHS cho Bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về đoàn tụ cùng gia đình, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo M.

Các Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, các Bị cáo đề nghị HĐXX cho các Bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật với mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra. Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Kết luận giám định; Lời khai của những người làm chứng đều phản ánh thống nhất khách quan: Vào hồi 00h 30 phút ngày 07/01/2023 tại phòng ngủ tầng 2 nhà của Bị cáo Đỗ Viết X ở thôn E xã X, huyện T các Bị cáo Đỗ Viết XGiang Thế Đ đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy MDMA và Ketamine. Do đó hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Các Bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với 06 người nên các Bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 2 điều 255 Bộ luật hình sự;

Các Bị cáo Đỗ Văn MGiang Thế Đ có hành vi mua 50 viên thuốc lắc và 01 túi Ketamine với giá tiền 45.000.000đ tại xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đem về chia nhỏ mục đích để bán kiếm lời. Ngày 30/12/2022 Bị cáo M bán 04 viên thuốc lắc và 02 túi Ketamine cho Lê Thanh T6 với giá 9.600.000đ; Ngày 02/01/2023 M bán cho Lê Thanh T6 01 chỉ Ketamine giá 4.000.000đ. Do đó hành vi của các Bị cáo Đỗ Văn MGiang Thế Đ đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Các Bị cáo MĐ bán trái phép hai chất ma túy là Ketamine và thuốc lắc nên các Bị cáo MĐ phải chịu tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm p khoản 2 điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đỗ Văn M đã hai lần bán trái phép chất ma túy cho Lê Thanh T6 nên Bị cáo M phải chịu tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm b khoản 2 điều 251 Bộ luật Hình sự.

Các Bị cáo Hoàng Thế T2Huỳnh Thị Bích N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là Ketamine, có khối lượng 2,165g để sử dụng. Do đó hành vi của các Bị cáo Hoàng Thế T2Huỳnh Thị Bích N đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Đỗ Viết X phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Bị cáo Giang Thế Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 và tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự; Bị cáo Đỗ Văn M phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự; Các Bị cáo: Hoàng Thế T2Huỳnh Thị Bích N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng số 30/CT- VKSTX ngày 05/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố các Bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[ 3] Xét về tính chất của vụ án: HĐXX thấy rằng: Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Vụ án có nhiều Bị cáo, có Bị cáo phạm nhiều tội.

[ 4 ] Xét về mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các Bị cáo HĐXX thấy rằng: Hành vi của các Bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của các Bị cáo làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Ma túy là cầu nối của đại dịch HIV, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó cần phải xử phạt nghiêm minh mới đủ sức răn đe, giáo dục các Bị cáo và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.

[5]. Xét về vai trò thực hiện hành vi phạm tội của các Bị cáo HĐXX thấy rằng: Đây không phải là trường hợp phạm tội có tổ chức mà chỉ là đồng phạm giản đơn.

Trong vụ án này đối với tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thì Bị cáo X là người khởi xướng, Bị cáo X chọn địa điểm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà ở của mình, Bị cáo X rủ mọi người tham gia tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, X chia thuốc lắc cho mọi người cùng sử dụng; Do đó bị cáo Xuân xếp vai trò chính và phải chịu mức hình phạt cao nhất.

Bị cáo Đ tham gia với vai trò là người giúp sức. Bị cáo Đ trực tiếp lấy ma túy từ chỗ Bị cáo M đem đến nhà Bị cáo X, mua nước lọc và cocacola, xào Ketamine, kẻ thành từng đường và đưa cho mọi người cùng sử dụng. Do đó bị cáo Đ phải chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo X.

Đối với tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” thì Bị cáo M là người trực tiếp bán ma túy hai lần nên Bị cáo Minh xếp vai trò cao hơn và phải chịu mức hình phạt cao hơn Bị cáo Đ.

Bị cáo Đ tham gia với vai trò là người giúp sức, Bị cáo Đ cùng với Bị cáo M đi mua ma túy, chia nhỏ để bán. Bị cáo Đ cho T6 số điện thoại của M để T6 liên hệ với M mua ma túy. Do đó Bị cáo Đ phải chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo M.

Đối với tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thì cả hai Bị cáo T2 và Ngọc xếp vai trò ngang nhau. Tuy nhiên Bị cáo T2 có Tiền án và có nhân thân xấu nên Bị cáo T2 phải chịu mức hình phạt cao hơn Bị cáo N.

[6] Xét về nhân thân của các Bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự HĐXX thấy rằng: Các Bị cáo Đỗ Viết X, Giang Thế ĐHoàng Thế T2 đều có Tiền án nên các Bị cáo: X, ĐT2 đều phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T2 còn có nhân thân xấu: Ngày 02/11/2017 bị Công an huyện T, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: “Xâm hại sức khỏe người khác”. Đã nộp xong tiền phạt ngày 03/11/2017. Bị cáo M có nhân thân xấu: Ngày 12/11/2019 bị Công an thành phố T xử phạt hành chính về hành vi: “Xâm hại sức khỏe người khác”. Ngày 27/3/2020 nộp xong tiền phạt. Tại phiên tòa các Bị cáo đều thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên các bị cáo đều được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS; Bị cáo M có ông nội là ông Đỗ Văn P2 được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất: Các Bị cáo T2N sau khi phạm tội ra đầu thú nên các Bị cáo M, T2N đều được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ giảm nhẹ một phần hình phạt cho các Bị cáo để các Bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

[7]. Về hình phạt: HĐXX xét thấy hành vi phạm tội của các Bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Mặt khác đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Vì vậy HĐXX áp dụng hình phạt tù đối với tất cả các Bị cáo, bắt các Bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục các Bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội.

Đối với bị cáo Đ phạm nhiều tội nên HĐXX áp dụng điều 55 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo Đ.

Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện hoàn cảnh gia đình của các Bị cáo hiện tại kinh tế khó khăn, các Bị cáo đều phải chấp hành hình phạt tù nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các Bị cáo.

Trong vụ án này Giang T12 đạt và Đỗ Văn M khai mua ma túy từ Lê Quang Tuấn APhạm Văn T9. Hiện tại T9Tuấn A đều không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra không xác minh được nên đã tách hành vi của 02 đối tượng này để tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Trong vụ án này Trần Văn D1, Vi Thị T7, Ma Thị Kim C1, Đặng Ngọc H6, Lê Thanh T6 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra xử phạt hành chính là phù hợp.

[8] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định nên HĐXX căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy; Đối với 03 vỏ chai nước lavie đã qua sử dụng; 01 vỏ lon cocacola; 03 lon cocacola; 01 bóng đèn led màu trắng dạng đèn nháy; 01 loa hình trụ tròn màu xanh, trên thân có chữ ivalue đều là công cụ, phương tiện phạm tội nên HĐXX căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 500.000đ thu của Bị cáo M không liên quan đến hành vi phạm tội nên HĐXX căn cứ vào điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự trả lại cho Bị cáo M. Đối với các điện thoại gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen, số Imei: 353145101790240 gắn sim số 0973.807.997 điện thoại đã qua sử dụng(Thu của Đ); 01 điện thoại di động nhãn hiệu IphoneXSMax màu đen bị vỡ mặt kính trước bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0705.403.915 đã qua sử dụng(thu của T6); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu bạc số Imei: 359485080357544 bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0845.390.660 đã qua sử dụng(Thu của Bị cáo X); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax màu xám đen số seri: G6TZ74CDN70G, số máy MWEP2LL/A, gắn thẻ sim số thuê bao 0974.950.433 đã qua sử dụng(Thu của Bị cáo M) đều liên quan đến hành vi phạm tội nên HĐXX căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với các điện thoại gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro màu xanh đen số Imei: 3356037843372203 bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0976.663.197 đã qua sử dụng (thu của Bị cáo X); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu gold số Imei 1: 356712113028377, số imei 2: 356712115694911, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0966.654.817 đã qua sử dụng(thu của chị Đặng Ngọc H6); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A95 màu ghi số Imei: 868057057962475, số imei 2: 868057057962467 bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0869.683.138 đã qua sử dụng(thu của chị Đỗ Thị P1) đều không liên quan đến vụ án nên HĐXX căn cứ vào điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự trả lại cho chủ sở hữu. Đối với số tiền 13.600.000₫ Bị cáo M bán ma túy và đã chi tiêu hết, đây là tiền do phạm tội mà có nên HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự truy thu nộp ngân sách Nhà nước.

[9] Về án phí: Các Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS năm 2015; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH

[10] Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Điểm b khoản 2 điều 255; Khoản 2 điều 251; Khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Viết X phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Bị cáo Giang Thế Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Đỗ Văn M phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; Các Bị cáo: Hoàng Thế T2Huỳnh Thị Bích N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 điều 51; Điểm h khoản 1 điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Bị cáo Đỗ Viết X;

- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm p khoản 2 điều 251; Điểm s khoản 1 điều 51; Điểm h khoản 1 điều 52; Điều 55; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Bị cáo Giang Thế Đ;

- Áp dụng: Điểm b, p khoản 2 điều 251; Điểm s khoản 1, 2 điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Bị cáo Đỗ Văn M;

- Áp dụng: Điểm g khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, 2 điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các Bị cáo Hoàng Thế T2Huỳnh Thị Bích N; Áp dụng thêm điểm h khoản 1 điều 52 đối với Bị cáo Hoàng Thế T2;

- Xử phạt:

  1. Bị cáo Đỗ Viết X 07(Bảy) năm 07(B1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/01/2023;
  2. Bị cáo Giang Thế Đ 07(Bảy) năm 06(S) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 07(Bảy) năm 06(Sáu) tháng tù tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Hình phạt chung cho cả 02 tội là 15(Mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/01/2023;
  3. Bị cáo Đỗ Văn M 07(Bảy) năm 07(B1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/01/2023;
  4. Bị cáo Hoàng Thế T2 27(Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/01/2023;
  5. Bị cáo Huỳnh Thị Bích N 22(Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam Thi hành án được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2023 đến ngày 21/3/2023.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 BLTTHS:

Tịch thu tiêu hủy gồm: Một hộp giấy được dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Lê Minh T11, Trần Thị Thúy H9, Lương Xuân N1 và các hình dấu của phòng K3 Công an tỉnh T. Bên trong gồm: Toàn bộ bao gói mở niêm phong và 01 đĩa sứ màu trắng của hộp giấy kí hiệu M1; 01 thẻ nhựa màu vàng, trên thân thẻ có chữ màu đen của phong bì kí hiệu M; 01 cốc thủy tinh màu trắng của hộp giấy kí hiệu M3 và các mẫu vật còn lại sau giám định gồm: Phong bì kí hiệu M5: 0,150g chất bột màu cam; 01 hộp giấy kí hiệu M6: 08 viên nén màu cam có tổng khối lượng là 3,434g; 7,205g chất tinh thẻ màu trắng; Phong bì kí hiệu M7: 10,204g chất tinh thể màu trắng; Phong bì kí hiệu M8: 1,980g chất tinh thể màu trắng; Phong bì kí hiệu M9: 0,147g chất bột màu da cam; 03 vỏ chai nước lavie đã qua sử dụng; 01 vỏ lon cocacola; 03 lon cocacola; 01 bóng đèn led màu trắng dạng đèn nháy; 01 loa hình trụ tròn màu xanh, trên thân có chữ ivalue.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen, số Imei: 353145101790240 gắn sim số 0973.807.997 điện thoại đã qua sử dụng(Thu của Bị cáo Đ); 01 điện thoại di động nhãn hiệu IphoneXSMax màu đen bị vỡ mặt kính trước bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0705.403.915 đã qua sử dụng(thu của T6); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu bạc số Imei: 359485080357544 bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0845.390.660 đã qua sử dụng(Thu của Bị cáo X); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax màu xám đen số seri: G6TZ74CDN70G, số máy MWEP2LL/A, gắn thẻ sim số thuê bao 0974.950.433 đã qua sử dụng(Thu của Bị cáo M);

Trả lại cho Bị cáo Đỗ Viết X 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro màu xanh đen số Imei: 3356037843372203 bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0976.663.197 đã qua sử dụng;

Trả lại cho chị Đặng Ngọc H6; Sinh năm 2000; Trú tại: Khu C thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu gold số Imei 1: 356712113028377, số imei 2: 356712115694911, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0966.654.817 đã qua sử dụng;

Trả lại cho chị Đỗ Thị P1, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn X xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A95 màu ghi số Imei: 868057057962475, số imei 2: 868057057962467 bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0869.683.138 đã qua sử dụng;

Trả lại cho Bị cáo Đỗ Văn M số tiền 500.000đ;

Toàn bộ số vật chứng trên thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 50 ngày 19/3/2024 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân.

Truy thu đối với Bị cáo Đỗ Văn M số tiền 13.600.000đ sung quỹ Nhà nước.

- Về án phí : Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS năm 2015; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH;

Buộc các Bị cáo Đỗ Viết X, Đỗ Văn M, Giang Thế Đ, Hoàng Thế T2, Huỳnh Thị Bích N mỗi Bị cáo chịu 200.000đ án phí HSST.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Thọ Xuân
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa
  • - THA dân sự;
  • - THA hình sự Công an
  • huyện Thọ Xuân
  • - Trại tạm giam Công an
  • tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Viết Xuân tổ chức sử dụng ma tuý cùng ĐP
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger