|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2024/HS-PT Ngày: 11/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng;
Các Thẩm phán: Ông Lê Ngọc Minh và bà Lê Thị Thái Lan;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 29/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Trương Văn Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2024/HS-ST ngày 05/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tây Hoà, tỉnh Phú Yên.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trương Văn Q, sinh ngày: 24/4/1962; Nơi cư trú: khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương C (chết) và bà Hồ Thị P (chết); Có vợ Lê Thị N, sinh năm 1963 và 02 con, lớn sinh năm 1982, nhỏ sinh năm 1983; tiền án, tiền sự: không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2024 tại nhà tạm giữ Công an huyện T. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2012, vợ chồng ông Trương Văn Q và bà Lê Thị N ký hợp đồng vay tín dụng tại Ngân hàng A, chi nhánh huyện T số tiền 600.000.000 đồng, có thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên diện tích đất 614m², thuộc thửa 927(1), tờ bản đồ 12-D, giấy chứng nhận quyền sử dụng số BB 723524 ngày 24/12/2010 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho vợ chồng ông Trương Văn Q và bà Lê Thị N. Tuy nhiên, sau đó vợ chồng ông Trương Văn Q và bà Lê Thị N không thanh toán
nợ đúng hạn nên Ngân hàng A, chi nhánh huyện T khởi kiện. Tại Bản án sơ thẩm số 01/2017 KDTM- ST ngày 29/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa và Bản án phúc thẩm số 05/2018/KDTM-PT ngày 09/7/2018 của TAND tỉnh Phú Yên tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, buộc Trương Văn Q và Lê Thị N phải trả cho Ngân hàng Agribank huyện A số tiền 768.231.778 đồng; nếu không trả nợ thì được quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp nói trên.
Ngày 12/10/2018, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa ra Quyết định thi hành án số 05/QĐ- CCTHADS buộc Trương Văn Q, Lê Thị N phải trả nợ cho Ngân hàng A, chi nhánh huyện T, vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Thị P1 là người trúng đấu giá tài sản đối với tài sản thế chấp nói trên. Ngày 27/5/2019, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa ra Quyết định cưỡng chế số 02/QĐ- CCTHADS; đến ngày 24, 25/3/2021 tiến hành cưỡng chế và di dời các tài sản của vợ chồng Q, N và vợ chồng V, T1 ra khỏi nhà đất để giao cho vợ chồng ông T, bà P1. Sau khi cưỡng chế xong, Chi cục Thi hành án giao nhà, đất cho vợ chồng ông T, vợ chồng ông T khóa cửa ra về thì vợ chồng V, T1 tự ý phá hàng rào, mang giường và một số vật dụng sinh hoạt khác cùng bà N vào nhà đã giao cho vợ chồng ông T nói trên tiếp tục sinh sống. Ngày 26/3/2021, vợ chồng ông T phát hiện nên báo cáo sự việc đến chính quyền địa phương. UBND thị trấn P, Công an thị trấn P cùng các ban ngành đoàn thể đã nhiều lần đến vận động nhưng không được.
Tại Bản án số 91/2022/HS-PT ngày 01/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã tuyên phạt các bị cáo Trương Hoàng V1 01 (một) năm tù; Nguyễn Thị Mộng T2 và Lê Thị N mỗi người 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm sáu 06 tháng về tội Không chấp hành án.
Ngày 01/02/2023 ông Nguyễn Ngọc T tiếp tục có đơn báo cáo, đề nghị UBND thị trấn P yêu cầu ông Trương Văn Q giao nhà, đất cho vợ chồng ông T do ông Q không chấp hành bản án, có mặt sinh sống trong ngôi nhà của ông T. Vào các ngày 22/3/2023 và 24/3/2023, Tổ tuyên truyền vận động của UBND thị trấn P đến vận động ông Q chấp hành bản án số 05 của TAND tỉnh Phú Yên và Quyết định cưỡng chế, giao nhà, đất cho vợ chồng ông T, nhưng ông Q không chấp hành nên Công an thị trấn P chuyển Cơ quan CSĐT Công an huyện T thụ lý tin báo theo thẩm quyền.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2024/HS-ST ngày 05/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tây Hoà, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo Trương Văn Q phạm tội “Không chấp hành án”; Áp dụng Khoản 1 Điều 380; Điểm i, s Khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Trương Văn Q - 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 09/01/2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần án phí và quyền kháng cáo theo
quy định của pháp luật.
Ngày 15/3/2024, bị cáo Trương Văn Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và kêu oan.
Tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn Q vẫn khai về tình tiết vụ án diễn ra như nội dung Bản án sơ thẩm đã tuyên và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 BLTTHS, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào các ngày 22/3/2023 và 24/3/2023, Tổ tuyên truyền vận động của UBND thị trấn P đến vận động ông Q chấp hành bản án số 05/2018/KDTM-PT ngày 09/7/2018 của TAND tỉnh Phú Yên và Quyết định cưỡng chế, giao nhà, đất cho vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T, nhưng ông Q không chấp hành. Do đó cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo Trương Văn Q về tội “Không chấp hành án” theo Khoản 1 Điều 380 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo, hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động tư pháp, gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động bình thường của các cơ quan chức năng, gây mất trật tự trị an – an toàn xã hội ở địa phương nên cần xử phạt nghiêm. Khi lượng hình án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo 09 tháng tù phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng phát sinh tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo mà chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
[3] Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 356 BLTTHS Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt;
Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn Q phạm tội “Không chấp hành án”.
1. Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 380; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Trương Văn Q - 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 09/01/2024.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo Trương Văn Q phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Hùng |
Bản án số 32/2024/HS-PT ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về không chấp hành án
- Số bản án: 32/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Không chấp hành án
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Văn Q
