Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày: 29 – 7 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Hường – Giáo viên hưu trí, hiện công tác tại Hội khuyến học huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
  2. Bà Mai Thị Huyền Trang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đổng Mây Hồng Tuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2024/HSST ngày 25 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HS ngày 18/7/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Diệp Hoài N (tên thường gọi khác: không), sinh ngày 08/9/2006 tại Ninh Thuận; Nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc L và bà Diệp Thị Kim T; vợ, con: chưa có; tiền sự: không; tiền án: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt)

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Diệp Hoài N: Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1971 và bà Diệp Thị Kim T, sinh năm 1985. Trú tại: Thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. Là cha mẹ ruột của bị cáo. (có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Diệp Hoài N: Ông Lâm Thế N1 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. (có mặt)

Người bị hại:Lê Thị N2, sinh năm 1953 (đã chết)

Trú tại: Khu phố I, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện hợp pháp của người bị hại bà Lê Thị N2:

  1. Ông Trương Văn L1, sinh năm 1958.
  2. Trú tại: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

  3. Anh Trương Văn L2, sinh năm 1977.
  4. Trú tại: Khu phố I, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

  5. Anh Trương Văn D, sinh năm 1979.
  6. Trú tại: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

  7. Anh Trương Văn C, sinh năm 1982.
  8. Chị Trương Thị Lệ H, sinh năm 1984.
  9. Anh Trương Văn C1, sinh năm 1987.

Cùng trú tại: Khu phố I, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Là chồng, con của người bị hại bà Lê Thị N2.

Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Anh Trương Văn L2, sinh năm 1977. Trú tại: Khu phố I, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. (Giấy ủy quyền ngày 02/01/2024, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1971 và bà Diệp Thị Kim T, sinh năm 1985. Trú tại: Thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. (có mặt)

Người làm chứng: Anh Lê Hoài P, sinh 2004. Trú tại: Thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 18 giờ ngày 12/12/2023, Nguyễn Diệp Hoài N điều khiển xe mô tô gắn biển số 85D1-29489 một mình đến thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận để xin việc làm rồi về lại. Khi chuẩn bị về thì anh Lê Hoài P, sinh năm 2004 ở thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (là bạn của N) đã gọi điện thoại nhờ N chở về nhà anh P ở thôn T, xã P, huyện T giùm thì N đồng ý và đến đón anh P. Sau đó N điều khiển xe mô tô gắn biển số 85D1-29489 chở anh P đi theo Quốc lộ A hướng P - T đi T. Khi đi đến đoạn Km 1561+680m Quốc lộ A thuộc khu phố I, thị trấn P, huyện N (Đoạn trước Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới), lúc này N điều khiển xe với tốc độ khoảng hơn 80km/h đi trên làn đường giữa, do không chú ý quan sát nên đã va chạm với xe mô tô gắn biển số 85D1-12467 do bà Lê Thị N2, sinh năm 1953 ở khu phố I, thị trấn P, huyện N điều khiển đã qua đường xong, đang đi làn đường thứ 2 phía trước cùng chiều với N khiến bà N2 cùng xe mô tô gắn biển số 85D1-12467 ngã xuống đường và bà N2 bị thương tích. Sau khi va chạm, xe mô tô gắn biển số 85D1-29489 cùng N và anh P cũng bị té ngã và trượt về trước theo hướng N đi. Sau đó, bà N2 được đi Bệnh viện để cấp cứu, đến ngày 14/12/2023 thì tử vong.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ ngày 12/12/2023 và Biên bản dựng lại hiện trường ngày 08/3/2024 cùng Bản ảnh hiện trường đã xác định điểm va chạm và dấu vết, cụ thể như sau:

Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông tại Km 1561 + 680m Quốc lộ A thuộc khu phố I, thị trấn P là khoảng hở giữa hai dải phân cách giữa đường, khoảng hở có kích thước (39,4 x 18,9)m. Đoạn đường hở được chia thành 02 phần đường xe chạy theo hai chiều khác nhau. Khu vực trung tâm hiện trường nằm ở phần đường dành cho xe chạy hướng P - T đi T, đoạn đường thẳng, được trải bê tông nhựa bằng phẳng, rộng 9m.

Hiện trường được tiến hành theo hướng P - T đi T, lấy điểm mốc Km 1561 + 700 (1561/H7) nằm ở dải phân cách giữa làn đường làm mốc hiện trường, chọn mép đường phải theo hướng khám nghiệm làm chuẩn cho các số đo. Quá trình khám nghiệm, dựng hiện trường xác định 08 vị trí cụ thể như sau:

  • Vị trí số 1: Là vị trí dấu vết cày không liên tục dài 4,1m, chiều hướng Phan R - T đi T. Điểm đầu vết cày cách mép đường phải theo hướng khám nghiệm là 4,4m, cách mốc hiện trường là 25,7m. Điểm cuối vết cách mép đường phải theo hướng khám nghiệm là 4,4m.
  • Vị trí số 2: Là xe mô tô gắn biển số 85D1-12467 nằm ngã áp mặt hông bên phải xuống đường, đầu xe quay hướng đi P - T. T1 bánh xe trước cách mép đường phải theo hướng khám nghiệm là 4,2m, cách điểm cuối vết cày vị trí số 1 là 0,6m. Đuôi xe quay hướng đi T, tâm bánh xe sau cách mép đường phải theo hướng khám nghiệm là 4,6m.
  • Vị trí số 3: Là vị trí vết máu, có kích thước (1x0,15)m, tâm dấu vết máu cách mép đường phải theo hướng khám nghiệm là 3,6m, cách tâm bánh sau xe mô tô gắn biển số 85D1-12467 là 1,6m.
  • Vị trí số 4: Là vùng mảnh vỡ nhựa rải rác trên diện kích thước (6x2,5)m, trung tâm vùng dấu vết cách mép đường phải theo hướng khám nghiệm là 4,8m, cách tâm vết máu vị trí số 3 là 5m.
  • Vị trí số 5: Là vết cày không liên tục dài 27,35m, chiều hướng Phan R - T đi T, điểm đầu vết cày cách mép đường phải theo hướng khám nghiệm là 2,4m, cách điểm đầu vết cày vị trí số 1 là 3,5m, cách tâm bánh trước xe mô tô 85D1-12467 là 1,9m. Điểm cuối vết cày cách mép đường phải theo hướng khám nghiệm là 1m.
  • Vị trí số 6: Là xe mô tô gắn biển số 85D1-29489 nằm ngã áp mặt hông bên trái xuống đường, đầu xe quay hướng B - T (hướng vào lề đường phải hướng khám nghiệm), tâm bánh xe trước cách mép đường phải theo hướng khám nghiệm là 0,35m. Đuôi xe quay hướng N - Đ (hướng ra đường), tâm bánh xe sau cách mép đường phải theo hướng khám nghiệm là 1,3m, cách điểm cuối vết cày vị trí số 5 là 0,8m.
  • Vị trí số 7: Đây là vị trí Nam xác định nơi N phát hiện xe mô tô 85D1-12467 do bà N2 điều khiển đang đi qua đường khi N đang điều khiển xe mô tô 85D1-29489. Vị trí số 7 cách điểm đầu vị trí số 1 là 3,4m, cách mép đường phải theo hướng khám nghiệm là 3,85m, cách mốc hiện trường là 22,25m.
  • Vị trí số 8: Đây là vị trí Nam xác định là vị trí va chạm giữa xe mô tô 85D1-29489 và xe mô tô 85D1-12467, vị trí số 8 cách vị trí số 7 là 2,55m, cách điểm đầu vị trí số 1 là 0,9m, cách mép đường phải theo hướng khám nghiệm la 3,8m, cách mốc hiện trường là 24,8m.

Tại Kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 24/KLTTHS-TTGĐYK-PY ngày 05/02/2024, Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh N kết luận nguyên nhân chết của bà Lê Thị N2: Nạn nhân chết do chấn thương sọ não nặng tụ máu dưới màng cứng trán thái dương trái, thái dương phải, liềm não, lều tiểu não hai bên. Dập xuất huyết và xuất huyết dưới nhện hai bán cầu. Tụ khí nội sọ, di lệch đường giữa sang phải khoảng 9mm, nứt sọ thái dương phải, tụ dịch khí bào chũm. Tụ máu các xoang cạnh mũi điều trị không hồi phục.

Kết luận định giá tài sản số 37/KLĐGTS-HÐÐG ngày 24/5/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: Giá trị thiệt hại tài sản đối với các bộ phận hư hỏng của xe mô tô biển số 85D1-294.89 là 2.714.000 đồng và giá trị thiệt hại tài sản đối với các bộ phận hư hỏng của xe mô tô biển số 85D1-12467 là 842.000 đồng.

Cáo trạng số 35/CT-VKS-HS ngày 25/6/2024 của Viện kiểm sát huyện N, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Diệp Hoài N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 BLHS.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Diệp Hoài N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử.

Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 90, 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Diệp Hoài N từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô biển số 85D1-29489, số máy: G3D4E256955, số khung: RLCUG0610GY244054 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy tên Nguyễn Diệp Hoài N. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của Nguyễn Diệp Hoài N. Trong vụ án này, N không cố ý sử dụng chiếc xe trên gây tai nạn giao thông làm cho bà Lê Thị N2 tử vong nên chiếc xe này chỉ là vật mang dấu vết của tội phạm không phải là phương tiện N sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên ngày 12/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho N là có căn cứ.

- 01 xe mô tô gắn biển số 85D1-12467, số máy: JC52E4489214, số khung: RLHJC5211CY320948. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của bà Lê Thị N2 nên ngày 12/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho anh Trương Văn L2, sinh năm 1977 ở khu phố I, thị trấn P, huyện N (là người đại diện hợp pháp của bà Lê Thị N2) là có căn cứ.

Trách nhiệm dân sự:

Anh Trương Văn L2 (là người đại diện hợp pháp của bà Lê Thị N2) yêu cầu bồi thường chi phí mai táng và tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 360.000.000 đồng là không có căn cứ, chỉ có cơ sở chấp nhận số tiền có hóa đơn, chứng từ cho việc mai tang phí là 117.814.000 đồng + tiền sửa xe 85D1-12467 là 842.000 đồng và khoản chi phí hợp lý khác theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Diệp Hoài N đồng ý bồi thường số tiền 200.000.000 đồng cho gia đình bị hại.

Đại diện của bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả số tiền 7.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, đề nghị tiếp tục tạm giữ số tiền 7.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

Đối với anh Lê Hoài P, bị trầy xước nhẹ không yêu cầu giám định và không yêu cầu bồi thường gì, nên không xem xét.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Diệp Hoài N: Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại thời điểm phạm tội cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo chưa đủ 18 tuổi, khả năng nhận thức pháp luật cũng như về tính chất nguy hiểm cho xã hội của bị cáo còn hạn chế. Trước khi lượng hình, đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS; xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS do một phần lỗi của người bị hại không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông, cũng như các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội xử phạt bị cáo mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị, nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo đồng ý với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa, không tranh luận gì. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản cáo trạng truy tố, nên đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Diệp Hoài N tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội N được 17 tuổi 03 tháng 04 ngày là người có năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù bị cáo không có giấy phép lái xe (hạng A1) theo quy định của pháp luật. Nhưng vào khoảng 18 giờ ngày 12/12/2023 vẫn điều khiển xe mô tô 85D1-294.89 nhãn hiệu YAMAHA loại EXCITER có dung tích xi lanh 150m3 chở theo anh Lê Hoài P lưu thông trên đường H - T đi T, khi đến đoạn đường hở của giải phân cách trước Trung tâm Đ thuộc khu phố I, thị trấn P, huyện N, N đã không chú ý quan sát phía trước, không giảm tốc độ đến mức an toàn mà chạy xe với tốc độ nhanh khoảng trên 80km/h nên khi phát hiện xe do bà Lê Thị N2 điều khiển trên làn đường thứ hai phía trước cùng chiều, N đã xử lý không kịp để gác chân phía trước bên trái xe của N tông vào gác chân bên phải của xe bà N2 gây ra tai nạn. Hậu quả ngày 14/12/2023 bà N2 chết, N và P bị thương nhẹ, hai xe mô tô bị hư hỏng.

Bị cáo là người không có giấy phép lái xe theo quy định, nhưng có hành vi điều khiển xe mô tô 85D1-294.89 trên 50m3 không chú ý quan sát phía trước khi tham gia giao thông, không đúng quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ gây tai nạn, hậu quả làm bà Lê Thị N2 chết. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ; khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G và điểm b khoản 7 Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý vì quá tự tin, thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho những người tham gia giao thông, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Diệp Hoài N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Vì vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; cũng trong quá trình truy tố bị cáo có tác động ông Nguyễn Ngọc L (cha ruột bị cáo) bồi thường 7.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước để nhằm khắc phục hậu quả, mặc dù số tiền khắc phục rất hạn chế và không tương xứng với thiệt hại thực tế xảy ra nhưng HĐXX vẫn xem đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông mà còn xâm phạm đến tính mạng của người khác. Vì vậy cần thiết áp dụng một hình phạt tương xứng cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

[3] Về vật chứng:

01 xe mô tô 85D1-294.89 nhãn hiệu YAMAHA loại EXCITER do bị cáo là chủ sở hữu, tuy nhiên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho bị cáo là có căn cứ.

01 xe mô tô gắn biển số 85D1-12467 là tài sản của bà Lê Thị N2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho anh Trương Văn L2, sinh năm 1977 ở khu phố I, thị trấn P, huyện N (là người đại diện hợp pháp của bà N2) là đúng quy định.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Anh Trương Văn L2 (đại diện hợp pháp của bà Lê Thị N2) yêu cầu bồi thường chi phí mai táng và tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 360.000.000 đồng là cao, không có căn cứ, chỉ có cơ sở chấp nhận chi phí hợp lý cho việc cấp cứu, chi phí hợp lý cho việc mai táng người bị hại, chi phí sửa chữa tài sản bị hư hỏng (có hóa đơn, chứng từ kèm theo) và số tiền bồi thường thiệt hại về tinh thần, tổng cộng số tiền 200.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 589, 591 Bộ luật dân sự và Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Do bị cáo là người dưới 18 tuổi và không có tài sản. Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị cáo là ông Nguyễn Ngọc L và bà Diệp Thị Kim T đồng ý bồi thường thay bị cáo số tiền 200.000.000 đồng cho những người đại diện hợp pháp của người bị hại. Nên buộc ông L, bà T phải có trách nhiệm bồi thường cho những người đại diện hợp pháp của người bị hại số tiền 200.000.000 đồng.

Quá trình truy tố ông L đã nộp khắc phục hậu quả số tiền 7.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước. Cần tiếp tục tạm giữ số tiền 7.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

[5] Đối với anh Lê Hoài P, bị trầy xước nhẹ không yêu cầu giám định và không yêu cầu bồi thường gì, nên không xem xét.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm d khoản 1 Điều 12, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Diệp Hoài N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Buộc ông Nguyễn Ngọc L và bà Diệp Thị Kim T phải chịu 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) án phí bồi thường về dân sự.

Miễn án phí dân sự cho ông Trương Văn L2 đối với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Diệp Hoài N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Diệp Hoài N 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Trách nhiệm dân sự:

Căn cứ Điều 584, 585, 586, 589, 591 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Buộc ông Nguyễn Ngọc L và bà Diệp Thị Kim T có trách nhiệm bồi thường cho những người đại diện hợp pháp của người bị hại số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Giao cho ông Trương Văn L2 là người đại diện hợp pháp của người bị hại được đại diện nhận số tiền này.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước theo Biên lai thu tiền số 0000699, ngày 17/6/2024; Biên lai thu tiền số 0000700, ngày 20/6/2024 và Biên lai thu tiền số 0000701, ngày 21/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước để đảm bảo cho việc thi hành án.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền. Nếu bên phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

3. Về án phí:

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Diệp Hoài N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Ngọc L và bà Diệp Thị Kim T phải chịu 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) án phí bồi thường về dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người đại diện hợp pháp của bị cáo; Người bào chữa cho bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/7/2024). Người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Phước;
  • - Công an huyện Ninh Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Phước;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu (hồ sơ, án văn)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Cường

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

Đàng Thị Hồng Lam Lê Thị Hường

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Vũ Văn Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Diệp Hoài N phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger