Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẢNG TRỊ

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày: 28 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Lê Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đồng và bà Lê Thị Ngọc Anh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Thuý Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị (được Viện kiểm sát nhân dân tối cao uỷ quyền) tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức B - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Văn Ngọc T, sinh ngày 01 tháng 8 năm 1969, tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKNKTT: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp khi phạm tội: Cán bộ Công an nhân dân; nghề nghiệp hiện tại: Hưu trí; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Văn Đ và bà Trần Thị P; có vợ là Trần Thị Ngọc A; có 02 con: lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2002.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/7/2024 tại Trại giam Q (Bộ Q1), sau đó điều chuyển ra Nhà tạm giữ Công an thị xã Q, tỉnh Quảng Trị từ ngày 13/11/2024 cho đến nay - Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Phạm Hồng T1; sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
  • + Ông Hồ Sỹ T2; sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn T, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
  • + Ông Trương Y; sinh năm 1961; địa chỉ: Khu phố A, phường A, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
  • + Ông Dương Đình K; sinh năm 1985; địa chỉ: Khu phố B, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
  • + Ông Đỗ Dương H; sinh năm 1984; địa chỉ: Xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
  • + Ông Lê V; sinh năm 1975; địa chỉ: Khu phố C, phường A, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 14/4/2020, tổ tuần tra của Công an phường A, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị có nhiệm vụ kiểm tra các hộ kinh doanh buôn bán chấp hành quy định về phòng chống dịch Covid 19 theo Chỉ thị 16 của Chính phủ; gồm các ông: Hồ Sỹ T2, Phạm Hồng T1 là Cảnh sát khu vực và ông Trương Y là bảo vệ khu phố, đã phát hiện tại nhà ông Lê V, ở Khu phố C, phường A, đông người đang tụ tập có dấu hiệu "Đánh bạc". Khi ông Phạm Hồng T1 gọi điện thoại cho bị cáo Văn Ngọc T – thời điểm này là Trưởng Công an phường A, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, báo cáo sự việc, xin ý kiến chỉ đạo thì được T chỉ đạo kiểm tra, nếu phát hiện có hành vi đánh bạc thì tiến hành bắt giữ. Đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, Tổ công tác vào nhà ông Lê V để kiểm tra, phát hiện tại phòng ngủ có 05 đối tượng đều trú tại phường A gồm: L, Lê T3, Hoàng Minh Đ1, Đoàn Ngọc C, đang ngồi đánh bạc với hình thức "Xì tẩy" giữa chiếu bạc và vị trí ngồi của các đối tượng có tiền mặt; Nguyễn Xuân P1 đang ngồi trên giường xem các đối tượng đánh bạc. Ông T1 tiếp tục gọi điện thoại báo cáo về sự việc này và nhận được chỉ đạo của bị cáo T phân công nhiệm vụ: Ông Hồ Sỹ T2 kiểm đếm tiền tang vật; ông Trương Y bảo vệ hiện trường và ông Phạm Hồng T1 tiến hành lập Biên bản phạm tội quả tang. Khi ông T2 tiền hành kiểm đếm tiền đã đọc to cho ông T1 để ghi Biên bản: Tổng số tiền thu giữa chiếu bạc là 5.700.000 đồng (năm triệu bảy trăm nghìn đồng); thu giữ tại vị trí ngồi của 04 đối tượng với số tiền tổng cộng là 12.500.000 đồng (mười hai triệu năm trăm nghìn đồng), gồm: Lê T3, số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng); Đoàn Ngọc C, số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng); Lê V, số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) và Hoàng Minh Đ1, số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng); không thu giữ tiền trong ví các đối tượng. Sau khi ông T1 gọi điện thoại báo cáo về số tiền và vị trí thu giữ như trên thì bị cáo T chỉ đạo: Tiền giữa chiếu bạc, tại vị trí ngồi và trên người đều là tiền đánh bạc, yêu cầu ông T1 lập chung biên bản thu giữ tổng số tiền là 18.200.000 đồng (mười tám triệu hai trăm nghìn đồng).

Theo sự chỉ đạo của bị cáo T, ông T1 đã lập Biên bản phạm tội quả tang vào hồi 20 giờ 45 phút ngày 14/4/2020 thể hiện số tiền thu giữ chung gồm tiền thu giữa chiếu bạc, tại vị trí ngồi của các đối tượng, tổng cộng: 18.200.000 đồng (mười tám triệu hai trăm nghìn đồng), cho 04 đối tượng tham gia đánh bạc ký vào Biên bản rồi cho họ về và hẹn sáng hôm sau đến trụ sở Công an phường A để làm việc. Sau đó, ông T1 cho tất cả tài liệu, đồ vật vào túi nylon hiệu Clear, gồm: 01 Biên bản phạm tội quả tang; 01 bộ bài Tu lơ khơ; 01 điện thoại di động hiệu Nokia trắng đen màu xanh thu giữ của Lê V và số tiền 18.200.000 đồng (đã được niêm phong trong bì thư có chữ ký của các đối tượng tham gia đánh bạc), mang về cất trong tủ tại trụ sở Công an phường A.

Đến khoảng 08 giờ 00 phút sáng ngày 15/4/2020, bị cáo Văn Ngọc T đến trụ sở Công an phường A thì được ông T1 báo cáo toàn bộ nội dung sự việc bắt quả tang vụ đánh bạc tối hôm trước. Do ông T1 đang làm Đề án dữ liệu quốc gia về dân cư, không có thời gian xử lý vụ việc, bị cáo đã yêu cầu ông T1 bàn giao hồ sơ vụ việc cho mình giải quyết. Ông T1 đã bàn giao toàn bộ tài liệu, đồ vật đã thu giữ tối ngày 14/4/2020 cho bị cáo. Cùng lúc này, 04 đối tượng tham gia đánh bạc nêu trên đến trụ sở Công an phường A và bị cáo T đã trực tiếp làm việc với họ.

Trong quá trình làm việc, bị cáo T thông báo cho các đối tượng biết số tiền thu giữa chiếu bạc là 5.700.000 đồng (năm triệu bảy trăm nghìn đồng), số tiền thu trên người của các đối tượng là 12.500.000 đồng (mười hai triệu năm trăm nghìn đồng). Lúc này, Lê T3 đã năn nỉ xin bị cáo ghi giảm số tiền thu trên chiếu bạc thành 4.700.000 đồng (bốn triệu bảy trăm nghìn đồng) để tránh bị xử lý về mặt hình sự. Đồng thời, theo T khai, bản thân bị cáo cũng nhận thấy việc mình chỉ đạo ông T1 lập biên bản phạm tội quả tang gộp chung số tiền 18.200.000 đồng (mười tám triệu hai trăm nghìn đồng) mà không phân tách số tiền thu của từng người là sai quy trình nghiệp vụ, nếu để cơ quan cấp trên là Công an thị xã Q biết sẽ phê bình, kiểm điểm. Vì vậy, bị cáo T đã không báo cáo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q theo quy định mà lập lại Biên bản sự việc vào hồi 20 giờ 45 phút ngày 14/4/2020, thể hiện: Hình thức đánh bạc của các đối tượng là đánh "Phỏm", số tiền thu giữ tại vị trí ngồi của các đối tượng trên chiếu bạc là 4.700.000 đồng (bốn triệu bảy trăm nghìn đồng), số tiền trên người của các đối tượng tự nguyện giao nộp là 13.500.000 đồng (mười ba triệu năm trăm nghìn đồng). Tiếp theo, bị cáo sử dụng mẫu Biên bản ghi lời khai trong tố tụng hình sự để lấy lời khai của các đối tượng, yêu cầu họ ký vào các Biên bản đã lập, trả lại chiếc điện thoại hiệu N đã thu giữ và cho các đối tượng về nhà. Sau đó, bị cáo T ký giả chữ ký của ông Hồ Sỹ T2 vào mục Người lập biên bản trong Biên bản sự việc rồi bảo ông Phạm Hồng T1 cùng ký vào mục này và bị cáo đã cất giữ các tài liệu này.

Đến khoảng đầu tháng 5/2020, tại buổi họp giao ban của Công an thị xã Q, bị cáo T đã báo cáo vụ việc Công an phường A bắt quả tang và xử lý hành chính vụ việc đánh bạc ngày 14/4/2020 tại nhà của ông Lê V. Lãnh đạo Công an thị xã Q yêu cầu Công an phường A chuyển hồ sơ vụ việc đến ông Đỗ Dương H là Đội trưởng Đội điều tra tổng hợp để thẩm định hồ sơ. Bị cáo T đã giao cho ông T1 chuyển hồ sơ vụ việc (do T đã lập lại vào sáng ngày 15/4/2020 nêu trên) cho ông H thực hiện thẩm định. Quá trình thẩm định, căn cứ vào Biên bản sự việc và các Biên bản ghi lời khai của các đối tượng, ông Đỗ Dương H thấy vụ việc đánh bạc có tính chất vi phạm hành chính, nên đã hướng dẫn Công an phường A lập lại theo đúng quy định về xử phạt vi phạm hành chính và trả lại hồ sơ vụ việc cho Công an phường A để hoàn thiện.

Sau khi nhận lại hồ sơ vụ việc, bị cáo T đã tự giả mạo chữ ký, chữ viết của ông Hồ Sỹ T2, đồng thời chỉ đạo các ông Dương Đình K và Phạm Hồng T1, là các cán bộ Công an phường A, xây dựng hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, trong đó có những tài liệu như: Biên bản sự việc lập ngày 14/4/2020, các Biên bản vi phạm hành chính; các Biên bản, Quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính lập ngày 14/4/2020; các Biên bản xác minh vụ việc vi phạm hành chính do ông lập ngày 29/4/2020; các Biên bản trả lại giấy tờ, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp lập ngày 08/5/2020; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính lập ngày 08/5/2020 đối với các đối tượng đánh bạc... Đối với số tiền 18.200.000 đồng (mười tám triệu hai trăm nghìn đồng) mà ông T1 bàn giao lại, kết quả điều tra xác định: Bị cáo T đã trả cho 04 đối tượng số tiền 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng); đưa cho ông T1 đi nộp phạt hành chính cho 04 đối tượng với số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng); số tiền còn lại 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn đồng) bị cáo giữ lại và dùng để thanh toán tiền công sửa chữa máy vi tính phục vụ công tác của đơn vị (đã được tập thể thống nhất tại buổi họp Công an phường A). Biên bản phạm tội quả tang do ông T1 lập cùng các Biên bản ghi lời khai do bị cáo T lập trong hồ sơ vụ việc đã được bị cáo cất giữ riêng, nhưng sau đó đã thất lạc bởi lũ lụt cuối năm 2020; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.

Đến tháng 6/2022, Công an thị xã Q đã bắt quả tang một vụ việc đánh bạc khác có liên quan đến đối tượng Hoàng Minh Đ1, từ đó đã phát hiện ra sự việc nêu trên, có dấu hiệu làm sai lệch hồ sự vụ việc. Ngày 17/6/2022, Công an thị xã Q đã ra các quyết định hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng tham gia đánh bạc và khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc đánh bạc tại nhà ông Lê V, ở Khu phố C, phường A ngày 14/4/2020. Ngày 19/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 229 Bộ luật tố tụng hình sự: Chưa xác định được bị can nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án (BL 105, 106, 109, 527-538, 698).

Ngày 28/6/2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã có Báo cáo số 311/BC-VKS-P2 về nội dung vụ việc có dấu hiệu xâm phạm hoạt động tư pháp để Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã trưng cầu giám định mẫu chữ viết phần nội dung và chữ viết ghi họ tên Hồ Sỹ T2 và chữ viết của bị cáo Văn Ngọc T. Tại Bản kết luận giám định số: 85/KL-KTHS ngày 07/2/2023 của Phân viện Kỹ thuật hình sự tại Đà Nẵng kết luận chữ viết phần nội dung, chữ viết họ tên Hồ Sỹ T2 tại mục Người lập biên bản của Biên bản sự việc và các Biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính lập ngày 14/4/2020 trong hồ sơ xử phạt hành chính các đối tượng đánh bạc ở nhà Lê V là chữ viết của bị cáo Văn Ngọc T. Bị cáo Văn Ngọc T cũng thừa nhận đã viết nội dung, ký giả chữ ký của ông T2 và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên; lời khai của bị cáo T phù hợp với lời khai của những người có liên quan và với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ của vụ án.

Xuất phát từ việc chỉ đạo cấp dưới thực hiện lập Biên bản phạm tội quả tang sai quy trình nghiệp vụ; và tự ý thay đổi ghi số tiền tang vật thu giữ tại vị trí ngồi của các đối tượng trên chiếu bạc là 4.700.000 đồng và thay đổi hình thức đánh bạc từ "Xì tẩy" sang "Phỏm"; nên bị cáo Văn Ngọc T đã tiếp tục thực hiện các hành vi phạm tội như đã nêu trên để che giấu sai phạm, dẫn đến xử lý vụ việc bị sai lệch. Động cơ phạm tội của bị cáo Văn Ngọc T là động cơ cá nhân do sợ cấp trên phê bình, kiểm điểm.

Cáo trạng số 10021/CT-VKSTC-V6 ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao đã truy tố bị cáo Văn Ngọc T về tội “Làm sai lệch hồ sơ vụ việc” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 375 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 375; Điều 38; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Văn Ngọc T từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Về hành vi của những người có liên quan:

  • + Đối với ông Phạm Hồng T1, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành kiến nghị đến Giám đốc Công an tỉnh Q xem xét xử lý kỷ luật đối với ông Phạm Hồng T1 theo quy định.
  • + Đối với ông Dương Đình K, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành kiến nghị đến Giám đốc Công an tỉnh Q để xem xét kiểm điểm, rút kinh nghiệm đối với ông Dương Đình K.
  • + Đối với ông Hồ Sĩ T4, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao không đề cập xử lý.

- Về vật chứng: Đề nghị lưu trữ tại hồ sơ vụ án đối với các tài liệu, hồ sơ xử phạt hành chính của vụ việc bắt quả tang các đối tượng đánh bạc tại nhà ông Lê V tối ngày 14/4/2020.

- Về án phí: Đề nghị áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét thấy trong quá trình điều tra, và tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ nên có cơ sở xác định:

Bị cáo Văn Ngọc T, nguyên Trưởng Công an phường A, là người có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc tiếp nhận tin báo về tội phạm, tiến hành xác minh sơ bộ ban đầu, trong quá trình phát hiện, bắt quả tang vụ việc đánh bạc xảy ra tại nhà ông Lê V, ở địa chỉ: Khu phố C, phường A, thị xã Q, vào ngày 14/4/2020. Sau khi ông Phạm Hồng T1 là cảnh sát khu vực gọi điện thoại báo cáo cho bị cáo T về số tiền thu giữ giữa chiếu bạc và vị trí ngồi của các đối tượng thì bị cáo T chỉ đạo: Tiền giữa chiếu bạc, tại vị trí ngồi và trên người đều là tiền đánh bạc, yêu cầu ông T1 lập chung biên bản thu giữ tổng số tiền là 18.200.000 đồng nên ông T1 đã lập Biên bản phạm tội quả tang vào hồi 20 giờ 45 phút ngày 14/4/2020 thể hiện số tiền thu giữ chung gồm tiền thu giữa chiếu bạc, tại vị trí ngồi của các đối tượng, tổng cộng: 18.200.000 đồng, cho 04 đối tượng tham gia đánh bạc ký vào Biên bản. Khi phát hiện ra sai phạm của mình đã chỉ đạo cấp dưới thực hiện sai quy trình nghiệp vụ trong việc lập Biên bản phạm tội quả tang, do sợ cấp trên phê bình, kiểm điểm nên bị cáo đã không báo cáo vụ việc có dấu hiệu phạm tội với Công an thị xã Q theo quy định mà tự ý thực hiện các hành vi làm sai lệch hồ sơ ban đầu, cụ thể là lập lại Biên bản sự việc vào hồi 20 giờ 45 phút ngày 14/4/2020, thể hiện: Hình thức đánh bạc của các đối tượng là đánh "Phỏm", số tiền thu giữ tại vị trí ngồi của các đối tượng trên chiếu bạc là 4.700.000 đồng (bốn triệu bảy trăm nghìn đồng), số tiền trên người của các đối tượng tự nguyện giao nộp là 13.500.000 đồng (mười ba triệu năm trăm nghìn đồng). Tiếp theo, bị cáo T sử dụng mẫu Biên bản ghi lời khai trong tố tụng hình sự để lấy lời khai của các đối tượng, yêu cầu họ ký vào các Biên bản đã lập, trả lại chiếc điện thoại hiệu N đã thu giữ và cho các đối tượng về nhà. Sau đó, bị cáo ký giả chữ ký của ông Hồ Sỹ T2 vào mục Người lập biên bản trong Biên bản sự việc rồi bảo ông Phạm Hồng T1 cùng ký vào mục này. Việc thay đổi nội dung biên bản dẫn đến vụ việc đánh bạc ngày 14/4/2020 tại Khu phố C, phường A, thị xã Q bị sai lệch, không được xử lý kịp thời theo quy định.

Hành vi nêu trên của bị cáo Văn Ngọc T là xâm phạm hoạt động tư pháp, vi phạm pháp luật Hình sự, xâm phạm tính khách quan, đúng đắn của hoạt động điều tra dẫn đến việc giải quyết vụ việc bị sai lệch, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín và hoạt động đúng đắn của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tối cao truy tố bị cáo Văn Ngọc T về tội "Làm sai lệch hồ sơ vụ việc" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 375 Bộ luật Hình sự là có cơ sở.

[3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện nên xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ "Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Thời điểm xảy ra vụ việc, do áp lực về nhiệm vụ của ngành là tuyến đầu tập trung phòng chống dịch covid vừa giữ gìn an ninh, trật tự trên địa bàn, phần khác do thiếu sót trong nhận thức nên trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm bị cáo đã chỉ đạo không đúng quy trình công tác. Quá trình công tác, bị cáo Văn Ngọc T có nhiều thành tích cao, được Chủ tịch nước tặng thưởng Huy chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất và có nhiều Bằng khen, Giấy khen... vì có thành tích xuất sắc trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội... Vợ của bị cáo là bà Trần Thị Ngọc A được Chủ tịch nước tặng thưởng Huy chương Chiến sỹ vẻ vang; có nhiều Bằng khen; Giấy khen... vì có thành tích xuất sắc trong công tác. Bà ngoại của bị cáo là Văn Thị V1 được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Với những lý do này, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, quá trình sinh sống tại địa phương luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật, có nơi ở ổn định. Vì vậy, cần chấp nhận theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, căn cứ khoản 1 Điều 54, Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo mức án thấp và cho bị cáo được hưởng án treo là thoả đáng.

[4] Bị cáo Văn Ngọc T đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, căn cứ khoản 4 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định trả tự do cho bị cáo.

[5] Xử lý vật chứng, tài liệu đã thu giữ: Lưu trữ tại hồ sơ vụ án đối với các tài liệu, hồ sơ xử phạt hành chính của vụ việc bắt quả tang các đối tượng đánh bạc tại nhà Lê V tối ngày 14/4/2020.

Đối với số tiền tang vật liên quan đến việc thu giữ của các đối tượng đánh bạc tại nhà Lê V tối ngày 14/4/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã thụ lý, giải quyết vụ án hình sự nên không đề cập giải quyết.

[6] Về hành vi của những người có liên quan:

Đối với ông Phạm Hồng T1 - nguyên là cán bộ Công an phường A tham gia bắt quả tang vụ việc đánh bạc tại nhà ông Lê V vào ngày 14/4/2020, đã lập Biên bản phạm tội quả tang sai quy trình nghiệp vụ, gộp chung số tiền thu tại chiếu bạc và ở vị trí ngồi của các đối tượng mà không phân tách số tiền thu của từng người tham gia đánh bạc theo chỉ đạo của cấp trên là bị cáo Văn Ngọc T; ký vào Biên bản sự việc vào hồi 20 giờ 45 phút ngày 14/4/2020 theo yêu cầu của bị cáo T và tin tưởng có chữ ký của ông Hồ Sỹ T2 (do bị cáo T giả chữ ký) nên không đọc nội dung; ký vào Báo cáo đề xuất ngày 06/5/2020 gửi Lãnh đạo Công an phường A đề xuất xử lý hành chính đối với các đối tượng tham gia đánh bạc ngày 14/4/2020 do bị cáo T dự thảo và yêu cầu ông T1 ký nên ông T1 ký và cũng không đọc nội dung. Ngoài ra, theo yêu cầu của bị cáo T và hướng dẫn xử lý vi phạm hành chính của Công an thị xã Q, ông T1 đã lập 02 Biên bản xác minh vụ việc về vi phạm hành chính đối với Đoàn Ngọc C và Hoàng Minh Đ1 có nội dung không đúng với Biên bản phạm tội quả tang do mình lập vào ngày 14/4/2020. Tuy nhiên, ông T1 thực hiện các hành vi trên hoàn toàn thụ động theo sự chỉ đạo, yêu cầu của bị cáo Văn Ngọc T, không có động cơ vụ lợi, cá nhân. Do vậy, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành kiến nghị đến Giám đốc Công an tỉnh Q xem xét xử lý kỷ luật đối với ông Phạm Hồng T1 theo quy định là đúng quy định.

Đối với ông Dương Đình K - nguyên là cán bộ Công an phường A, có hành vi lập 02 Biên bản xác minh vụ việc vi phạm hành chính đối với các đối tượng Lê V và Lê T3 có nội dung không đúng sự thật khách quan. Tuy nhiên, ông K hoàn toàn không biết được diễn biến nội dung vụ việc đánh bạc ở nhà ông Lê V ngày 14/4/2020 và viết nội dung biên bản theo yêu cầu của bị cáo Văn Ngọc T. Vì vậy, cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành kiến nghị đến Giám đốc Công an tỉnh Q để xem xét kiểm điểm, rút kinh nghiệm đối với ông Dương Đinh K1 là hợp lý.

Đối với ông Hồ Sĩ T4, là người tham gia bắt quả tang vụ đánh bạc tại nhà ông Lê V nêu trên, đã thực hiện đúng chức trách nhiệm vụ của mình. Quá trình giải quyết vụ việc sau này, ông T4 đi học nên không tham gia và không biết được kết quả giải quyết vụ việc. Vì vậy, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao không đề cập xử lý là phù hợp.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Văn Ngọc T phạm tội "Làm sai lệch hồ sơ vụ việc".
  2. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 375; điểm s, v khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự:

    Xử phạt bị cáo Văn Ngọc T 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/11/2024).

    Giao bị cáo Văn Ngọc T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp các bị cáo Văn Ngọc T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về xử lý vật chứng, tài liệu: Lưu trữ tại hồ sơ vụ án đối với các tài liệu, hồ sơ xử phạt hành chính của vụ việc bắt quả tang các đối tượng đánh bạc tại nhà ông Lê V tối ngày 14/4/2020 (Tài liệu hiện có tại hồ sơ vụ án).
  4. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Văn Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND TX. Quảng Trị;
  • - Cơ quan điều tra VKSNDTC;
  • - Chi cục THA dân sự TX Quảng Trị;
  • - UBND xã Hải Phú, huyện Hải Lăng;
  • - Sở Tư pháp T. Quảng Trị;
  • - Bị cáo; người có QLNVLQ;
  • - Lưu Tổ HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Lê Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ về làm sai lệch hồ sơ vụ việc

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Làm sai lệch hồ sơ vụ việc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Văn Ngọc Tài " Làm sai lệch hồ sơ vụ việc "
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger