Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẾ SƠN

TỈNH QUẢNG NAM

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày 27-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trương Thị Sen.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Văn Thêm;
  2. Ông Nguyễn Công Tài.

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Hồ Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Hướng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Hải N, sinh ngày 10/7/1991; nơi sinh: huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; bị cáo không có cha, con bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1966; có chồng Huỳnh Công P, sinh năm 1989 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền sự: không;

Tiền án: ngày 29/8/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 33/2022/HS-ST.

Nhân thân:

  • Ngày 24/9/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 36/2013/HSST;
  • Ngày 11/11/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 29/2015/HSST;
  • Ngày 25/11/2015 bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 117/2015/HSST.
  • Ngày 08/5/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 11/2024/HS-ST.
  • Ngày 14/6/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 46/2024/HS-ST.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 05/9/2024 trong vụ án khác. Có mặt.

Bị hại: bà Dương Thị Hồng L, sinh năm 1958. Địa chỉ: tổ dân phố L, thị trấn Đ, huyện Q, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Phạm Văn T, sinh năm 1992. Nơi thường trú: thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Nam. Chỗ ở hiện nay: tổ A, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 25/3/2024, bị cáo N điều khiển xe môtô (không rõ biển số) của anh T (gửi tại nhà bị cáo từ chiều ngày 24/3/2024) đi từ nhà xuống thị trấn Đ, huyện Q. Khi đi ngang quán tạp hóa của bà L, bị cáo thấy nhà bà L đang xây dựng nên quay xe lại đi vào đường T (bên hông nhà bà L) dựng xe bên đường. Bị cáo đi vào bên trong thì thấy cửa trước nhà bà L khép lại và được buộc bằng một sợi dây dù. Bị cáo nhìn thấy dưới đất bên cạnh cửa có một cái kéo nên bị cáo nhặt cái kéo cắt đoạn dây dù rồi mở cửa đi vào bên trong nhà bà L. Bị cáo đi theo đường luồng đến vị trí bán hàng tạp hóa của nhà bà L thì nhìn thấy có một cái bàn bằng gỗ, bị cáo kéo ngăn kéo của bàn ra thì phát hiện có một cọc tiền được buộc bằng dây su, bị cáo cầm lấy bỏ vào trong túi áo của mình. Tiếp tục bị cáo nhìn xuống dưới bàn thấy có một hộp kim loại hình tròn màu đỏ, bị cáo mở ra xem thì thấy có nhiều Card điện thoại nên lấy hộp kim loại đi ra cửa chính nhà bà L rồi điều khiển xe về nhà ngủ. Khoảng 05 giờ sáng cùng ngày, bị cáo đang ngủ trong nhà thì R đến gọi, bị cáo trả lời “chìa khóa để ngoài xe” rồi tiếp tục ngủ.

Đến khoảng 06 giờ ngày 25/3/2024, bà L ngủ dậy phát hiện tài sản bị mất nên đã làm đơn báo cáo gửi đến cơ quan Công an. Công an thị trấn Đ đến nhà bị cáo mời làm việc thì bị cáo đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình và tự nguyện giao nộp lại toàn bộ số tài sản vừa trộm cắp được tại nhà bà L.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q kết luận: số Card điện thoại bị mất có giá trị định giá là: 6.320.000 đồng.

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:

  • Tiền mặt: 6.906.000 đồng;
  • Card điện thoại Viettel với các mệnh giá: 10 cái mệnh giá 50.000 đồng; 153 cái mệnh giá 20.000 đồng.
  • Card điện thoại Mobifone với các mệnh giá: 12 cái mệnh giá 50.000 đồng; 39 cái mệnh giá 20.000 đồng.
  • Card điện thoại Vinaphone với các mệnh giá: 13 cái mệnh giá 100.000 đồng; 04 cái mệnh giá 20.000 đồng.
  • 01 cái kéo được làm bằng kim loại có cán bằng nhựa; 01 con dao làm bằng kim loại dài 39cm; 01 hộp sắt màu xanh đỏ, hình hộp chữ nhật có kích thước 21cmx31cmx11cm, bên trên hộp có chữa GOUTE màu đen.
  • 01 đĩa DVD bên trong có chứa 03 đoạn video ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ trộm cắp tài sản tại nhà bà L.

Tại Cáo trạng số 23/CT-VKSQS ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hải N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và trong phần luận tội đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hải N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù; về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cáo bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét; về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xem xét xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo thống nhất như nội dung bản cáo trạng và bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không tham gia tranh luận gì thêm.

Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử kết luận:

Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 25/3/2024 tại thị trấn Đ, huyện Q, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, bị cáo N đã lén lút trộm cắp tài sản của bà Dương Thị Hồng L gồm: 6.906.000 đồng tiền mặt; card điện thoại các loại trị giá 6.320.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo N đã trộm cắp là 13.226.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo: quyền sở hữu tài sản của mọi công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo nhận thức rõ hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng với bản chất lười lao động và thích hưởng thụ, bị cáo vẫn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để có tiền tiêu xài. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

[4]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: bị cáo có nhân thân xấu và có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chưa chấp hành án lại phạm tội mới nên thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhưng phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo học tập, cải tạo trở thành người công dân tốt.

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam xử phạt bị cáo 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của bị cáo trong vụ án này với bản án số 46/2024/HS-ST buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về xử lý vật chứng:

Đối với 231 card điện thoại các loại, 01 cái kéo được làm bằng kim loại có cán bằng nhựa; 01 hộp sắt màu xanh đỏ, hình hộp chữ nhật có kích thước 21cm x 31cm x 11cm, bên trên hộp có chữa GOUTE màu đen và số tiền 6.906.000 đồng đã trả lại cho chủ sở hữu là bà L.

- Đối với 01 con dao làm bằng kim loại dài 39cm của bị cáo N không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 đĩa DVD bên trong có chứa 03 đoạn video ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ trộm cắp tài sản tại nhà bà Dương Thị Hồng L và 01 đĩa DVD ghi hình hỏi cung bị can cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[7]. Những vấn đề khác trong vụ án:

Đối với xe môtô (không rõ biển số) bị cáo dùng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản: đây là xe của anh T gửi tại nhà bị cáo, bị cáo tự ý sử dụng xe môtô này làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Qua xác minh, anh T không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra không triệu tập để làm việc được.

[8]. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[9]. Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị Hải N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Hải N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt chung của bản án này với bản án số 46/2024/HS-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 05/9/2024).

  1. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 con dao làm bằng kim loại dài 39cm của bị cáo N, không còn giá trị sử dụng.
  • (Vật chứng trên đang tạm gửi tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 02/8/2024).
  • - Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD bên trong có chứa 03 đoạn video ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ trộm cắp tài sản tại nhà bà Dương Thị Hồng L và 01 đĩa DVD ghi hình hỏi cung bị can.
  1. Về án phí: căn cứ Điều 135 Bộ luật Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  1. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (27-9-2024). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  1. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ Giám đốc kiểm tra;
  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND huyện Quế Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Quế Sơn;
  • - Văn phòng Công an huyện Quế Sơn;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Quế Sơn;
  • - Phòng Hồ sơ CA huyện Quế Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Bị cáo, người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Sen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hải N phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger