Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẮK GLONG,

TỈNH ĐẮK NÔNG

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày 25/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Lượng
  2. Ông Lê Khắc Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Văn - Kiểm sát viên.

Ngày 25/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 35/2024/TLST-HS ngày 05/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 11/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, đối với:

Bị cáo Thái Văn Đ (Có mặt), tên gọi khác: không, sinh năm 1982 tại tỉnh N; nơi cư trú trước khi bị bắt: Bon K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: công giáo; trình độ học vấn: 05/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Thái Văn H (sinh năm 1940) và bà Trần Thị N (sinh năm 1938), hiện đang sinh sống tại xóm Q, xã Q, huyện Y, tỉnh N; gia đình bị cáo có 06 anh em bị cáo là con út; có vợ là Trần Thị N (sinh năm 1984), hiện đang sinh sống tại bon K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ; có 02 người con, con lớn sinh năm 2010 và con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/01/2024, sau đó chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

- Người làm chứng:

  1. Chị Trần Thị N (Có mặt), sinh năm 1984
  2. Nơi cư trú: Bon K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ.

  3. Chị H (Vắng mặt), sinh năm 1996
  4. Nơi cư trú: Bon K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Thái Văn Đ, trú tại bon K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ là người nghiện ma tuý. Đ bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2022, Đ mua ma túy của một số người nghiện trên địa bàn huyện Đắk Glong (không xác định được nhân thân, lai lịch) đưa về nhà cất giấu và sử dụng.

Khoảng 17 giờ ngày 15/01/2024, trên đường đi làm về, Đ gặp người đàn ông tên D (không rõ nhân thân lại lịch, trước đây có đôi lần cho Đ ma tuý để sử dụng) hỏi mua 600.000 đồng ma túy (loại Methamphetamine). D đồng ý và hẹn đến 20 giờ cùng ngày gặp nhau tại khu vực “dốc Fulro” trên Quốc lộ 28B (thuộc địa phận thôn A, xã Đ) để trao đổi việc mua bán ma túy. Sau đó, Đ điều khiển xe từ nhà đến địa điểm đã hẹn, đưa số tiền 600.000 đồng cho Dương và lấy 01 túi zipper chỉ đỏ bên trong có chứa ma tuý rồi đưa về nhà lấy một phần ra để sử dụng, phần còn lại Đ cất giấu vào nhà kho sát bên nhà ở của Đ. Sau đó, Đ bỏ số ma tuý vừa chia ra vào bộ dụng cụ tự chế để sử dụng. Sử dụng xong, Đ cất giấu bộ dụng cụ sử dụng ma túy ở trong nhà vệ sinh, lấy khăn phủ lên trên để tránh bị phát hiện của người trong gia đình.

Khoảng 17 giờ ngày 19/01/2024, Đ tiếp tục sử dụng ma túy còn lại trong bộ dụng cụ. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an phát hiện khám xét và thu giữ toàn bộ số ma túy mà Đ đã cất giấu tại nóc tủ và trong nhà kho cùng bộ dụng cụ sử dụng ma túy trên, bao gồm: 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong; 01 túi nilon bên trong có 01 miếng nhựa cứng, thành túi nilon có bám dính chất rắn dạng tinh thể màu trắng được niêm phong trong bì thư ký hiệu “M1”; 01 đoạn nhựa được hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất rắn màu trắng được niêm phong trong bì thư ký hiệu “M2"; 01 túi zipper chỉ đỏ bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng được niêm phong trong bì thư ký hiệu “M3”; 01 ống thủy tinh được uốn cong, một đầu được thổi thành hình cầu bên trong có bàm dính chất rắn màu vàng nhạt được niêm phong trong bì thư ký hiệu “M4”.

Ngoài ra, Cơ quan Công an huyện Đắk Glong còn thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, loại cảm ứng, có lắp sim số 0388434748 và sim số 0395434748; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, loại bàn phím cứng, có lắp sim số 0766899574; 01 camera màu trắng – đen, nhãn hiệu IMOU; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius RC, màu đen, biển số 49C1-047.42.

Tại Kết luận giám định số 70/KL-KTHS ngày 25/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, xác định:

  • Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bám dính bên trong 01 gói nilon được niêm phong trong bì thư ký hiệu “M1” là ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng mẫu là 0,0179 gam;
  • Chất rắn màu trắng đựng trong 01 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu được niêm phong trong bì thư ký hiệu “M2” là ma túy; loại Heroine (Heroin), có khối lượng mẫu là 0,1454 gam;
  • Chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi zipper chỉ đỏ được niêm phong trong bì thư ký hiệu “M3” là ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng mẫu là 2,3779 gam;
  • Chất rắn màu vàng bám dính trong 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong, một đầu ống thủy tinh có dạng hình cầu được niêm phong trong bì thư ký hiệu “M4” là ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng mẫu là 0,1135 gam;
  • Không đủ căn cứ kết luận bên trong 01 đoạn ống thủy tinh uốn cong được niêm phong trong bì thư ký hiệu “M1” có chất ma túy;

Tổng khối lượng Heroine là 0,1454 gam; tổng khối lượng Methamphetamine là 2,5093 gam. Tổng khối lượng của hai loại ma túy là 2,6547 gam.

Tại Bản cáo trạng số 33/CT-VKS, ngày 04/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Đắk Glong, để xét xử bị cáo Thái Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015:

- Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Thái Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/01/2024.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy số ma tuý hoàn lại sau giám định và các vật chứng có liên quan đã thu giữ gồm: 04 bì thư có kích thước 16 cm x 23 cm, mặt trước bì thư có ghi mẫu lần lượt là M1, M2, M3 và M4 có ký hiệu số 70/KL-KTHS; 01 nắp chai nhựa màu vàng; 01 vỏ chai nhựa nhãn hiệu STING là vật chứng, công cụ liên quan đến hành vi phạm tội, cấm lưu thông.
  • + Đối với 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius RC, màu đen, biển số 49C1-047.42; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, loại cảm ứng, có lắp sim số 0388434748 và sim số 0395434748; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, loại bàn phím cứng, có lắp sim số 0766899574 và 01 camera màu trắng – đen, nhãn hiệu IMOU, hiện có liên quan đến một nguồn tin khác về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Glong đã tách ra, tiếp tục tạm giữ để xác minh điều tra, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

- Về án phí: Bị cáo Thái Văn Đ phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Đối với người đàn ông tên D (không xác định được nhân thân, lai lịch) đã bán ma túy cho Thái Văn Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong cần tiếp tục xác minh khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

- Đối với chị Trần Thị N và những người trong gia đình không biết việc Thái Văn Đ "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" nên không có căn cứ xử lý.

- Đối với các đối tượng Mai Văn T (sinh năm 1973), Nguyễn Văn H (sinh năm 1969), Lê Văn S (sinh năm 1966) và Nguyễn Văn N (sinh năm 1994, cùng trú tại xã Đ, huyện Đ) có khai nhận đã từng mua ma tuý của Đ để sử dụng. Tuy nhiên, Đ không thừa nhận và không có chứng cứ khác để chứng minh nên chưa có căn cứ để xử lý Đ về hành vi mua bán trái phép chất ma túy; vì vậy, cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Glong đã tách ra tiếp tục điều tra xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa hay tranh luận gì thêm, khi được nói lời sau cùng đã đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Glong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Thái Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 15/01/2024, tại dốc Fulro Quốc lộ 28B, thuộc thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ, Thái Văn Đ đã mua 600.000 đồng ma túy (loại Methamphetamine) của một người đàn ông tên D (không rõ nhân thân, lai lịch) để sử dụng. Sau đó, Đ mang ma túy về nhà tại Bon K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ lấy một phần để ra sử dụng, phần ma túy còn lại Đ cất giấu trong nhà kho sát nhà. Ngoài ra, trước đó (không xác định được thời gian cụ thể), Đ đã mua ma túy (loại Heroine) của một số đối tượng (không rõ được nhân thân, lai lịch) trên địa bàn huyện Đắk Glong về sử dụng và cất dấu trên nóc tủ trong phòng ngủ của mình. Đến 19 giờ 00 phút ngày 19/01/2024, lực lượng Công an huyện Đắk Glong khám xét khẩn cấp phát hiện Thái Văn Đ đang cất dấu 2,5093 gam Methamphetamine và 0,1454 gam Heroine để sử dụng; Tổng khối lượng hai loại ma tuý là 2,6547 gam. Hành vi của bị cáo Thái Văn Đ đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự cho nên hành vi của bị cáo Thái Văn Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"

[4] Hành vi mà bị cáo Thái Văn Đ đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp nghiêm trọng, không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước mà còn gây ảnh hưởng rất xấu đến trật tự trị an tại địa phương, đồng thời đây cũng là tiền đề phát sinh các tệ nạn xã hội khác; do đó, cần phải được xử lý nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

[5] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Thái Văn Đ đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; ngoài ra, bị cáo có bố và ông ngoại là người có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Về nhân thân của bị cáo: Tiền án, tiền sự không.

[6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy vẫn cần thiết phải cách ly bị cáo Thái Văn Đ ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội; có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

  • + Đối với số ma tuý hoàn lại sau giám định và các vật chứng có liên quan đã thu giữ gồm: 01 đoạn ống thủy tinh và gói nilon đựng mẫu được niêm phong trong bì thư ghi mẫu M1; 0,1234 gam Heroine, 01 đoạn ống nhựa được niêm phong trong bì thư ghi mẫu M2; 2,3303 gam Methamphetamine được đựng trong 01 gói zipper chỉ đỏ được niêm phong trong bì thư có ghi mẫu M3; 0,1026 gam Methamphetamine, 01 đoạn ống thủy tinh được niêm phong trong bì thư có ghi mẫu M4; 01 nắp chai nhựa màu vàng; 01 vỏ chai nhựa nhãn hiệu STING là vật chứng, công cụ liên quan đến hành vi phạm tội, cấm lưu thông, không có giá trị sử dụng nên cân tịch thu tiêu hủy.
  • + Đối với 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius RC, màu đen, biển số 49C1-047.42; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, loại cảm ứng, có lắp sim số 0388434748 và sim số 0395434748; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, loại bàn phím cứng, có lắp sim số 0766899574 và 01 camera màu trắng – đen, nhãn hiệu IMOU, hiện có liên quan đến một nguồn tin khác về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Glong đã tách ra, tiếp tục tạm giữ để xác minh điều tra, khi có căn cứ sẽ xử lý sau nên không đề cập xử lý.

[8] Về án phí hình sự: Do bị cáo bị kết án nên bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Đối với người đàn ông tên D (không xác định được nhân thân, lai lịch) đã bán ma túy cho Thái Văn Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục xác minh khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

[10] Đối với chị Trần Thị N và những người trong gia đình của chị N không biết việc bị cáo Thái Văn Đ "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" nên không đề cập xử lý.

[11] Đối với các đối tượng Mai Văn T (sinh năm 1973), Nguyễn Văn H (sinh năm 1969), Lê Văn S (sinh năm 1966) và Nguyễn Văn N (sinh năm 1994, cùng trú tại xã Đ, huyện Đ) quá trình điều tra có khai nhận từng mua ma tuý của Đ để sử dụng; Tuy nhiên, Đ không thừa nhận và không có chứng cứ khác để chứng minh nên chưa có căn cứ để xử lý Đ về hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Glong tách ra tiếp tục điều tra xác minh, nếu đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

[12] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tại phiên tòa là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Thái Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Thái Văn Đ 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/01/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma tuý hoàn lại sau giám định và các vật chứng có liên quan đã thu giữ gồm: 04 bì thư có kích thước 16 cm x 23 cm, mặt trước bì thư có ghi mẫu lần lượt là M1, M2, M3, M4 và có ký hiệu số 70/KL-KTHS; 01 nắp chai nhựa màu vàng; 01 vỏ chai nhựa nhãn hiệu STING.

(Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Glong và Chi cục THADS huyện Đắk Glong)

3. Về án phí hình sự: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Thái Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đ;
  • - VKSND huyện Đắk Glong (02);
  • - Chi cục THADS huyện Đ;
  • - Công an huyện Đắk Glong
  • (Đội điều tra, Bộ phận NVHS,
  • Đội THAHS);
  • - Bị cáo, người liên quan;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Trung Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thái Văn Đ phạm tội tàng trứ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger