TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2024/HS-ST Ngày 21-08-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trịnh Điển;
Bà Lê Thị Thúy Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình - Thư ký TAND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện VKSND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn H - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Minh Đ, tên gọi khác “Không”; sinh ngày 26/01/2004 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Tổ B, khu phố F, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Thợ sửa xe máy; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê C, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1971, cả hai hiện trú tại tổ B, khu phố F, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; vợ, con: chưa có; tiền sự: không.
Tiền án: Bản án số 23/2021/HSST ngày 16/12/2021 của TAND thị xã Quảng Trị xử phạt bị cáo Lê Minh Đ 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Tạm giam” từ ngày 19/4/2024 đến nay; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Đoạn Duy B, sinh năm 1970; địa chỉ: thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Sĩ T1, sinh năm 1999; địa chỉ: thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1
Vào khoảng 18 giờ 20 phút ngày 12/3/2024, Lê Minh Đ (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74F1- 399. 62, thuộc sở hữu của anh Trương Sỹ T2, trú tại: thôn P, xã H, huyện H đi trên Quốc lộ A A theo hướng từ thành phố Đ vào thị xã Q. Khi đến thị trấn Á, huyện T, Đ đi theo đường dẫn vào cầu T Quảng Trị, do trời đã tối, trên đường không có đèn chiếu sáng nên Đ bật đèn chiếu sáng của xe mô tô và chạy với tốc độ khoảng 60km đến 70km/h. Khi đến đoạn ngã ba rẻ vào chùa X, thuộc địa phận xã T, huyện T, Đức phát hiện phía trước có bà Đoạn Thị B1, sinh năm 1959, trú tại thôn N, xã T, huyện T đang đi bộ qua đường cùng chiều bên phải làn đường theo hướng đi của Đ, cách xe Đ khoảng 5 mét. Do chạy với tốc độ nhanh, tầm nhìn bị hạn chế và khoảng cách với bà B1 quá gần nên Đ hoảng loạn không kịp xử lý. Vì vậy, để xe mô tô va chạm vào phía sau người bà B1 dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả: Bà Đoạn Thị B2 chết trên đường đưa đi cấp cứu, xe mô tô hư hỏng.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số: 379/KL-KTHS ngày 18 tháng 03 năm 2024 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Q, kết luận: “Nguyên nhân chết của bà Đoạn Thi B3 là: Đa chấn thương”.
Tại Bản kết luận giám định dấu vết cơ học số: 475/KL-KTHS ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Q, kết luận:
“1. Vị trí va chạm giữa xe mô tô BKS 74F1: 399.62 với cơ thể bà Đoạn Thị B2 là phần trước xe mô tô biển số: 74F1- 399.62 gồm các bộ phận bánh trước, chắn bùn bánh trước, phuộc trước bên trái, mặt nạ đầu xe, cánh mang trái, kính chiếu hậu hai bên va chạm phù hợp với phần sau cơ thể bà Đ1 Thi Bít bao gồm các bộ phận chân trái, chân phải, vùng mông, khuỷu tay phải, trái.
- Dấu vết va chạm trên phần trước xe mô tô BKS 74F1- 39962 có chiều hướng từ trước ra sau, dấu vết va chạm trên cơ thể bà Đoạn Thị B2 có chiều hướng từ sau về trước.
2. Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô BKS 74F1- 39962 với cơ thể bà Đoạn Thị B1 trên hiện trường là: khu vực phía trước gần với dấu vết số (1) được ghi nhận và mô tả trong hồ sơ khám nghiệm hiện trường, thuộc phần đường hướng đi từ Quốc lộ A đến thị xã Q”.
Tại Bản kết luận định giá số: 03/KLĐG ngày 10/4/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện T, kết luận: “Tổng thiệt hại của xe mô tô BKS: 74F1:399.62 là: 900.000 đồng (Chín trăm ngàn đồng)”.
Cáo trạng số: 29/CT-VKSTP ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, truy tố Lê Minh Đức, về tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Minh Đ từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
2
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã chủ động đến gia đình bị hại để lo toàn bộ chi phí mang táng. Nay, đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo:
+ 01(một) giấy phép lái xe hạng A1 số: [...] mang tên Lê Minh Đ, nơi cư trú phường C, thị xã Quảng Trị, cấp ngày 18/03/2022; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 74005980, mang tên chủ sở hữu Trương Sĩ T1, địa chỉ thôn P, xã H, huyện H BS, 74F1- 399.62.
+ 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 74F1- 399.62, nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER màu sơn: Đỏ trắng đen, số khung RLCE1S9407Y012955, số máy: 1S94012955, xe qua sử dụng, hư hỏng do tai nạn giao thông.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 18h 20 phút, ngày 12/3/2024, Lê Minh Đ có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74F1- 399.62, lưu thông trên đường dẫn nối thị trấn Á và thị xã Q. Khi đến ngã ba rẻ vào chùa X thuộc địa phận xã T, huyện T do không chú ý quan sát; không giảm tốc độ khi tầm nhìn bị hạn chế; khi có người đi bộ qua đường nên đã gây ra vụ tai nạn giao thông làm bà Đoạn Thị B2 chết.
Tại khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ quy định: “Những nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, nếu thấy người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường thì phải giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường bảo đảm an toàn".
Tại khoản 2 và khoản 6 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/08/2019 của Bộ G vận tải quy định người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
“2.)...tầm nhìn bị hạn chế; ...6.) Khi có người đi bộ qua đường...”.
Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Lê Minh Đ đã vi phạm khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ; khoản 2 và khoản 6 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/08/2019 của Bộ G; hậu quả làm bà Đoàn Thị B4 chết.
3
Vì vậy, VKSND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Lê Minh Đ về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đối với bà Đoàn Thị B4 đi bộ qua đường không chú ý quan sát phương tiện đang lưu thông dẫn đến vụ tại nạn giao thông. Hành vi của bà Đoàn Thị B4 đã vi phạm vào khoản 3 Điều 32 Luật giao thông đường bộ. Tuy nhiên, bà Đoàn Thị B4 đã chết nên không xem xét trách nhiệm.
[3]. Về tính chất mức độ: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã chủ động đến gia đình bị hại để lo toàn bộ chi phí mang táng; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; người bị hại cũng có lỗi gây ra thiệt hại; năm 2021, bị cáo có thành tích là đạt giải tư cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp tỉnh, được Sở GD & ĐT tỉnh Q cấp chứng nhận; ông nội của bị cáo Đ là ông Lê D được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại”, “Thành khẩn khai báo” tại điểm b, s, khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.
Xét thấy, bị cáo 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS và có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS; hành vi của bị cáo là do lỗi vô ý và người bị hại cũng có lỗi để xảy ra tai nạn. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt thì cũng đủ sức răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[5]. Về trách nhiệm dân sự:
- Bị cáo đã bồi thường cho gia đình người bị hại. Nay, đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu nên không xem xét
[6]. Về xử lý vật chứng: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 74F1- 399.62, nhãn hiệu YAMAHA, số khung RLCE1S9407Y012955, số máy: 1S94012955 mặc dù đứng tên chủ sở hữu là ông Trương Sỹ T2. Tuy nhiên, ông Trương Sỹ T2 đã lập hợp đồng mua bán chiếc xe mô tô này cho bị cáo Đ; các bên đã giao nhận xe và tiền. Do đó, cần công nhận quyền sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 74F1- 399.62, nhãn hiệu YAMAHA cho bị cáo Đ. Bị cáo Đ sử dụng 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 74F1- 399.62, nhãn hiệu YAMAHA, số khung RLCE1S9407Y012955, số máy: 1S94012955 với mục đích để làm phương tiện lưu thông trên đường và vô ý gây tai nạn giao thông. Vì vậy, chiếc xe mô tô này không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần trả lại cho chủ sở hữu.
4
+ 01(một) giấy phép lái xe hạng A1 số: [...] mang tên Lê Minh Đ, nơi cư trú phường C, thị xã Quảng Trị, cấp ngày 18/03/2022; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 74005980, mang tên chủ sở hữu Trương Sĩ T1, địa chỉ thôn P, xã H, huyện H BS, 74F1-399.62. Khi bản án có hiệu lực pháp luật thì trả lại cho bị cáo.
[7] Về việc tạm giam bị cáo: Do thời gian tạm giam bị cáo còn lại dưới 45 ngày nên cần tiếp tục ban hành Quyết định tạm giam mới đối với bị cáo Lê Minh Đ để đảm bảo thi hành án
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Lê Minh Đ, phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1,2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo: 12 (Mười hai) tháng tù, thời gian thi hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 19/4/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 74F1- 399.62, nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCTTER màu sơn: đỏ, trắng, đen, số khung RLCE1S9407Y012955, số máy: 1S94012955, xe đã qua sử dụng, hư hỏng do tai nạn.
(Vật chứng có tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Phong theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Phong).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Bị cáo Lê Minh Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Hùng |
5 | |
Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 32/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án Lê Minh Đức phạm tội "Vi phạm quy định về điềun khiển phương tiện giao thông đường bộ"
