Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH GIA

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày 11-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Khi

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Phạm Thị Thương
  • Ông Triệu Tiến Lả

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hà Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Chu Xuân Hải - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Triệu Văn B, sinh ngày: 01/3/1988 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Triệu Văn K, sinh năm 1963 (đã chết) và bà: Lưu Thị K1, sinh năm 1963. Có vợ là Đàm Thị K2, sinh năm 1991 và 02 người con, con thứ nhất sinh năm 2011, con thứ hai sinh năm 2017. Cùng trú tại: thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ hai. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Địa chỉ: Khối phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Hoàng Thị A - Chức vụ: Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lưu Thị K1, sinh năm 1963. Có mặt.
  2. Chị Đàm Thị K2, sinh năm 1991. Có mặt.

Cùng địa chỉ: thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30/12/2023, Công an huyện B phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện B, chính quyền địa phương xã T, huyện B tiến hành kiểm tra khu rừng Nả Lườn thuộc thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Quá trình kiểm tra thực địa tại khu rừng Nả L phát hiện các cây rừng tự nhiên bị cưa, cắt thành từng khúc với chiều dài khoảng 01m. Hiện trạng những cây gỗ đã bị chặt hạ trên rừng gồm các loại cây: Trám và một số cây chưa xác định được thuộc loài gỗ thông thường, tiến hành kiểm đếm số lượng gỗ đã bị cưa cắt trên rừng có khối lượng khoảng 12,022 m³. Sau khi kiểm đếm xong tổ công tác đã lập biên bản sự việc và vận chuyển số gỗ trên về UBND xã T để quản lý. Qua xác minh ban đầu người khai thác gỗ tại khu rừng N là Triệu Văn B, sinh năm 1988, trú tại thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

Quá trình điều tra xác định, khoảng cuối tháng 12/2023, do có nhu cầu khai thác gỗ để làm nhà và để bán lấy tiền phục vụ cuộc sống gia đình nên Triệu Văn B vào khu rừng Nả Lườn (khu rừng của ông Triệu Văn K, là bố đẻ của Triệu Văn B, đã để lại cho Triệu Văn B quản lý và sử dụng) để khai thác mà không được sự cho phép của chính quyền địa phương. Triệu Văn B dùng dao quắm phát các cây bụi xung quanh các cây gỗ to sau đó dùng một chiếc máy cưa xăng cầm tay nhãn hiệu BOONGHAY TN – 687 màu đỏ để cưa hạ các cây gỗ rừng tự nhiên to, để lại các cây nhỏ. Sau khi cưa hạ các cây gỗ, Triệu Văn B tiếp tục cưa các thân cây gỗ thành từng khúc dài khoảng 01 mét để dễ dàng vận chuyển mang về sử dụng và để bán. Khai thác chặt hạ cây trong vòng 3 ngày, Triệu Văn B vẫn để nguyên gỗ tại khu rừng.

Để có căn cứ xử lý, ngày 19/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định số 279a/QĐ-TCGĐ, trưng cầu ông Hoàng Ngọc L, Giám định viên tư pháp theo vụ việc, công tác tại Hạt kiểm lâm huyện B, Chi cục kiểm lâm L1, thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh L, giám định tại khu R, thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, thuộc lô 118, tờ bản đồ lâm nghiệp xã T số 02. Diện tích khu rừng này nằm trong diện tích 46.248 m² đất rừng sản xuất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên ông Triệu Văn K và bà Lưu Thị K1 (là bố mẹ đẻ của Triệu Văn B).

Tại kết luận giám định tư pháp số 01-2024/KL/GĐCN ngày 25/6/2024, kết luận: Trạng thái rừng: Rừng hỗn giao núi đất; Loại rừng bị khai thác: Rừng sản xuất là rừng tự nhiên; Tổng số lượng bị khai thác là 396 khúc, khối lượng: 12,022m³ gỗ tròn, thuộc loài gỗ thông thường, không thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, trong đó: Gỗ Bồ đề 18 khúc = 0,499 m³ (nhóm VIII); Gỗ Bông bạc 11 khúc = 0,878 m³ (nhóm VIII); Gỗ Cheo 07 khúc = 0,405 m³ (nhóm VI); Gỗ Kháo 73 khúc = 2,255 m³ (nhóm VI); Gỗ Trám 13 khúc = 0,340 m³ (nhóm VII); Gỗ Trẩu 66 khúc = 1,533 m³ (nhóm VIII); Gỗ Xoan Đào 41 khúc = 0,954 m³ (nhóm VI); Gỗ chưa xác định được tên loại gỗ (ký hiệu SP) 167 khúc = 5,157 m³.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 21/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Triệu Văn B về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản. Đồng thời ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với bị can Triệu Văn B. Tại Cơ quan điều tra, Triệu Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Ngày 17/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B xác định giá trị đối với 12,022m³ gỗ tròn thuộc loài thông thường nhóm VI đến nhóm VIII.

Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 30/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B kết luận: Giá trị 12,022m³ gỗ tròn thuộc loài thông thường nhóm VI đến nhóm VIII là 4.336.960 đồng (Bốn triệu ba trăm ba mươi sáu nghìn chín trăm sáu mươi đồng).

Ngày 11/10/2024, bà Hoàng Thị A – Trưởng phòng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn huyện B đại diện cho UBND huyện B tham gia với tư cách là Nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự đã có đề nghị Triệu Văn B phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật đã gây ra.

Ngày 11/10/2024, Triệu Văn B đã tự nguyện nộp số tiền 4.336.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia để khắc phục hậu quả.

Tại Cáo trạng số: 30/CT-VKS-BG ngày 06/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Triệu Văn B về tội "Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 232; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự để nghị xử phạt bị cáo Triệu Văn B từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo luật định, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Triệu Văn B cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị ghi nhận bị cáo Triệu Văn B đã nộp số tiền 4.336.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia để khắc phục hậu quả.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: giao cho Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn quản lý, xử lý đối với số vật chứng là 12,022m³ gỗ tròn loài thông thường (nhóm VI đến nhóm VIII) hiện tại đang được bảo quản theo quy định tại trụ sở Công an xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc máy cưa nhãn hiệu BOONGHAY TN – 687; tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao quắm bằng kim loại, màu đen, dài 28cm là các công cụ, phương tiện phạm tội.

Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo nhất trí với bản Cáo trạng, không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của pháp luật Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện có trong hồ sơ là hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của nguyên đơn dân sự Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án vì trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Về hành vi phạm tội, chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Triệu Văn B đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản định giá tài sản, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được công bố, thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Khoảng tháng 12 năm 2023, Triệu Văn B đã khai thác trái phép rừng sản xuất là rừng tự nhiên tổng khối lượng 12,022 m³ gỗ tròn loài thông thường (nhóm VI đến nhóm VIII) tại khu R thuộc thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Do đó hành vi của bị cáo Triệu Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý, bảo vệ rừng của Nhà nước; vị trí rừng mà bị cáo chặt gỗ thuộc trạng thái rừng sản xuất là rừng tự nhiên, gỗ bị cáo khai thác là gỗ tròn thuộc loài thông thường. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường, là nguyên nhân có thể dẫn đến thiên tai, gây hậu quả xấu, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống và có thể gây thiệt hại cả về kinh tế cho xã hội. Nhưng vì lợi ích bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thiệt hại thực tế xảy ra và những thiệt hại có thể xảy ra do hậu quả của hành vi khai thác rừng trái phép để lại. Xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung; mang tính chất tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ rừng trong quần chúng nhân dân.

[5] Về nhân thân: Bị cáo chưa bị xử lý hình sự, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật nên được coi là có nhân thân tốt.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Xét quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đã chủ động khắc phục hậu quả. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự. Ghi nhận bị cáo Triệu Văn B đã tự nguyện nộp số tiền 4.336.000đ (bốn triệu ba trăm ba mươi sáu nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia để khắc phục hậu quả, tiếp tục tạm giữ để nộp ngân sách Nhà nước.

[8] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo Triệu Văn B có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, qua xác minh tại địa phương bị cáo luôn chấp hành tốt các quy định của pháp luật và quy định tại địa phương nơi cư trú, đồng thời bị cáo đã tự nguyện chủ động khắc phục hậu quả. Căn cứ Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP-TANDTC ngày 15/5/2018 và Nghị Quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn, quy định về điều kiện cho hưởng án treo thì bị cáo có đủ điều kiện. Vì vậy, không cần bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội mà áp dụng khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi thường trú để giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện để giúp bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[9] Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh, bị cáo đang sinh sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ cận nghèo và cũng không đảm nhiệm chức vụ gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: giao cho Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn quản lý, xử lý đối với số vật chứng là 12,022m³ gỗ tròn loài thông thường (nhóm VI đến nhóm VIII) hiện tại đang được bảo quản theo quy định tại trụ sở Công an xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc máy cưa nhãn hiệu BOONGHAY TN – 687; tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao quắm bằng kim loại, màu đen, dài 28cm là các công cụ, phương tiện phạm tội.

[11] Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thấy: Bị cáo đang đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[12] Về đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát: Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[13] Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[14] Bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 232; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 262; Điều 292; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Triệu Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.

Xử phạt bị cáo Triệu Văn B 07 (bảy) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Triệu Văn B cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được cho hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã nộp số tiền là 4.336.000₫ (Bốn triệu ba trăm ba mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003557, ngày 11/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn để sung ngân sách Nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng:

  • Giao cho Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn quản lý, xử lý đối với số vật chứng là 12,022m³ gỗ tròn loài thông thường (nhóm VI đến nhóm VIII) (hiện đang được bảo quản tại trụ sở Công an xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn).
  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc máy cưa nhãn hiệu BOONGHAY TN – 687.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao quắm bằng kim loại, màu đen, dài 28cm.

(Các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn).

3. Về án phí: Bị cáo Triệu Văn B được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Công an huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Nguyên đơn dân sự;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Hoàng Văn Khi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng tháng 12 năm 2023, Triệu Văn B đã khai thác trái phép rừng sản xuất là rừng tự nhiên tổng khối lượng 12,022 m3 gỗ tròn loài thông thường (nhóm VI đến nhóm VIII) tại khu rừng N thuộc thôn T, xã T1, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger