Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VÂN CANH

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày: 02-12-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN CANH, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Toàn và Bà Trần Thị Hoa

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Sen là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Mộc Ngọc B, tên gọi khác: Không, sinh ngày 07/9/1988 tại xã C, huyện V, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: thôn H, xã C, huyện V, tỉnh Bình Định; CCCD số: [...]; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mộc Long A, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1963; anh, chị, em ruột: có 03 người; vợ, con: Không; tiền án: 01 tiền án. Ngày 20/9/2023, bị TAND huyện Vân Canh xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 19/10/2006, bị TAND huyện Vân Canh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999; đã chấp hành xong; Ngày 25/3/2010, bị TAND huyện Vân Canh xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999; đã chấp hành xong; Ngày 27/12/2011, bị TAND huyện Vân Canh xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999; đã chấp hành xong; Ngày 27/11/2015, bị TAND huyện Vân Canh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999; đã chấp hành xong. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17 tháng 5 năm 2024 đến nay, tại xã C, huyện V, tỉnh Bình Định. Bị cáo có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, “có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt”.

- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Lê Cẩm D, sinh năm 1995; nơi cư trú: 162/15/1 N, thành phố Q, tỉnh Bình Định, “có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt".

- Người làm chứng:

  1. Anh Lê Thanh T2, sinh năm 1986; nơi cư trú: KP. H, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định, “có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt”;
  2. Anh Đoàn Văn T3, sinh năm 1985, “có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt”.
  3. Anh Đoàn Văn H, sinh năm 1991, “có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt”.
    Đồng cư trú: Thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định;
  4. Anh Phạm Văn V, sinh năm 1993, “vắng mặt”;
  5. Anh Đào Duy T4, sinh năm 1993, “vắng mặt”;
  6. Anh Nguyễn Trường Q, sinh năm 1986, “vắng mặt”;
  7. Anh Phạm Văn H1, sinh năm 1992, “vắng mặt”;
  8. Anh Ngô Văn Đ, sinh năm 1986, “vắng mặt”;
  9. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1982, “vắng mặt”;
  10. Anh Nguyễn Công V1, sinh năm 1999, “vắng mặt”;
  11. Anh Huỳnh Thanh H2, sinh năm 1980, “vắng mặt”;
  12. Anh Ngô Hoàng Đ1, sinh năm 1980, “vắng mặt”;
  13. Chị Lê Thị N, sinh năm 1997, “có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt”;
  14. Chị Bùi Thị Bích L1, sinh năm 1989, “có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt”;
  15. Bà Mai Thị H3, sinh năm 1952, “vắng mặt”;
  16. Chị Mai Thị E, sinh năm 1978, “vắng mặt”;
  17. Chị Phạm Thị P, sinh năm 1972, “vắng mặt”.
    Đồng cư trú: Thôn H, xã C, huyện V, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11/5/2024, vì biết Mộc Ngọc B đang dự đám cưới tại sân nhà ông Nguyễn Bảo D1 ở thôn H, xã C, huyện V nên Lê Thanh T2 rủ theo Đoàn Văn T3 đi cùng mình đến gặp B để đòi tiền. T3 gọi điện rủ Nguyễn Văn T1 đi chung. Khoảng 13 giờ ngày 11/5/2024, T2 điều khiển xe máy đến đám cưới trước, T1 và T3 đi chung xe ôtô Kia K3 màu đỏ, biển số: 77A-23598 đến sau. T2, T1, T3 cùng đi vào trong sân nhà ông D1 và đi về phía rạp cưới. Tại đây, B đang ngồi dự tiệc cưới cùng với Phạm Văn V, Đào Duy T4, Lê Thị N, Nguyễn Trường Q. Lê Thanh T2 đi đến kéo B ra ngoài rạp cưới, cách vị trí bàn Bửu ngồi ban đầu khoảng 02m, V, Đào Duy T4 thấy vậy thì cũng đi theo vì sợ đánh nhau. Tiếp đó, khi Lê Thanh T2 cùng B đi lại khu vực nhà vệ sinh gần đó để nói chuyện thì giữa V và T1, T3 xảy ra xô xát. Tại vị trí sân đất nhà ông D1, nơi để nhiều cây sắt chéo giàn giáo và ván gỗ, T1 và V vật lộn, xô xát bằng tay. T3 chạy đến định cầm lấy 01 cây sắt chéo giàn giáo thì Đào Duy T4 can ngăn. Khi thấy nhiều người từ trong rạp cưới chạy ra thì T3 bỏ chạy trước ra cổng rồi tiếp tục chạy theo hướng thị trấn D trên Quốc lộ A, T1 cũng bỏ chạy ra ngoài cổng rồi chạy theo T3. Vuôi chạy đuổi theo T1 và T3. Lúc này Phạm Văn H1 đi xe máy chạy hướng từ D đến thị trấn V, thấy vậy H1 xuống xe rồi cũng chạy đuổi theo T1 và T3 cùng với V nhưng không kịp. Bửu khi thấy hai bên xô xát thì chạy vào trong rạp cưới lấy 01 (một) xô đựng đá bằng inox rồi chạy đuổi theo T1 và T3 ra đến ngoài cổng. Tiếp đó, B chạy ra ngoài đường Quốc lộ 19C theo hướng về thị trán Vân Canh để đuổi đánh Lê Thanh T2 nhưng không được. Vì bực tức nên B đã cầm xô đựng đá bằng inox ném trúng vào phần kính chắn gió phía sau xe ôtô Kia K3 màu đỏ, biển số: 77A-23598 đang đỗ trên lề đường Quốc lộ 19C, gây hư hỏng.

Hậu quả: Nguyễn Văn T1 bị gây thương tích chảy máu ở vùng đầu phải nhập viện điều trị. Xe ôtô Kia K3 màu đỏ, biển số: 77A-23598 bị gây hư hỏng phần kính chắn gió phía sau. Ngày 07/6/2024, Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T1 là 07%.

Ngày 31/5/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: 01 (một) kính chắn gió phía sau có kích thước (1,15x0,6)m của xe ô tô biển số 77A-235.98, nhãn hiệu KIA, loại xe K3, có tổng trị giá thiệt hại: 4.708.800 đ (Bốn triệu bảy trăm lẻ tám nghìn tám trăm đồng).

Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã tạm giữ và trả lại xe ô tô biển số 77A-235.98 cho chủ sở hữu Hoàng Lê Cẩm D. Hiện còn tạm giữ: 01 (một) xô đá inox có quai đã bị móp méo, biến dạng.

Bản Cáo trạng số: 27/CT-VKSVC ngày 03 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Mộc Ngọc B về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Canh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Mộc Ngọc B về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự và đề nghị:

Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Mộc Ngọc B từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có thu nhập không ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự. T5 tịch thu tiêu hủy 01 (một) xô đá inox có quai đã bị móp méo, biến dạng;

Về dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt cho bị hại xong và bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng và thống nhất luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Canh đã truy tố và không có ý kiến tranh luận.

Tại Cơ quan Điều tra Công an huyện V, bị hại đã nhận bồi thường thiệt hại xong; không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm; có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đều không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Canh đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng; vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: vào ngày 11/5/2024, Mộc Ngọc B đã có hành vi dùng xô đá inox ném vào kính xe ô tô biển số 77A-235.98, nhãn hiệu KIA, loại xe K3 của chị Hoàng Lê Cẩm D đang do Nguyễn Văn T1 thuê sử dụng, khi xe ô tô này đang đậu trên lề đường Quốc lộ 19 C tại thôn H, xã C, huyện V, tỉnh Bình Định, gây hư hỏng xe với tổng trị giá thiệt hại 4.708.800 đồng. Hành vi của Mộc Ngọc B đã phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Canh truy tố đối với bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội nhằm có tác dụng đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu thể hiện việc bị cáo đã bị kết án về các tội vào các thời gian sau: Ngày 19/10/2006, bị TAND huyện Vân Canh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999; ngày 25/3/2010, bị TAND huyện Vân Canh xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999; đã chấp hành xong; ngày 27/12/2011, bị TAND huyện Vân Canh xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999; đã chấp hành xong; ngày 27/11/2015, bị TAND huyện Vân Canh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 và ngày 20/9/2023, bị TAND huyện Vân Canh xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, chưa chấp hành xong mà tiếp tục phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; có cha ruột là người có công với cách mạng và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, đây là những tình tiết giảm nhẹ được qui định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nên cần áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo có thu nhập thấp, không ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) xô đá inox có quai đã bị móp méo, biến dạng là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng, theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự, cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận bồi thường thiệt hại xong và không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: Căn cứ các Điều 135 và 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23; Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Đối với thương tích 07% của Nguyễn Văn T1, anh T1 tự nguyện không yêu cầu khởi tố, không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V căn cứ Điều 155 và khoản 8 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[10] Căn cứ vào biên bản xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V cho thấy vụ việc xảy ra ngày 11/5/2024 tại thôn H, xã C, huyện V. “Vụ án xảy ra không gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân nào, không gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường nơi công cộng tại thôn H, C. Thời điểm sau khi xảy ra cho đến nay và tại nơi xảy ra vụ án không có dư luận hay tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư phản ánh khi vụ án nêu trên xảy ra, tại địa phương không có sự hoang mang, ảnh hưởng đến trật tự công cộng. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không xem xét về hành vi “gây rối trật tự cộng” là có căn cứ, đúng pháp luật.

[11] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Canh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Mộc Ngọc B phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 178 ; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Mộc Ngọc B 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự. Tuyên tịch tiêu hủy 01 (một) xô đá inox có quai đã bị móp méo, biến dạng. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/10/2024 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Canh).
  4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135 và 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Mộc Ngọc B phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Vân Canh;
  • - CQCSĐT Công an huyện Vân Canh;
  • - CQTHAHS Công an huyện Vân Canh;
  • - Chi cục THADS huyện Vân Canh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mai Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN CANH, TỈNH BÌNH ĐỊNH về cố ý làm hư hỏng tài sản

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN CANH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: MỘC NGỌC BỬU PHẠM TÔI CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger