Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÔNG HINH

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày: 30-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Châu Kha;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thúy và ông Ksor Y Thư.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Lương Công Luân – Thư ký Tòa án nhân dân (TAND) huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Lương Như Hoàn – Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân (TAND) huyện S, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 và quyết định thay đổi hội thẩm số 26.1/2024/QĐ-TA ngày 17 tháng 9 năm 2024 của TAND huyện Sông Hinh đối với các bị cáo:

  1. Triệu Văn N, sinh ngày 30-6-1966; tại Lạng Sơn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 7/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn C, đã chết và bà Triệu Thị M, sinh năm 1940; có vợ tên Lành Thị T, sinh năm 1969 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • - Ngày 28-9-1994, bị TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên xử phạt 06 (sáu) tháng tù giam về tội “Tổ chức dùng chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 203 BLHS năm 1985, theo Bản án số 15/HSST. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 16-3-1995; không xác định được thông tin về thi hành phần án phí.
    • - Ngày 29-9-2005, bị TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên xử phạt 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm về tội “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 248 BLHS, theo Bản án số 11/2005/HS-ST, không thu thập được giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt, xác minh tại địa phương trong thời gian thử thách Triệu Văn N không vi phạm gì. Không xác định được thông tin thi hành về phần án phí và hình phạt bổ sung.
    • - Ngày 28-10-2021, bị Công an huyện S, tỉnh Phú Yên ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Đánh bạc”. Đã nộp phạt vào ngày 29-10-2021.

    Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

  2. Phạm Thị L, sinh ngày 14-12-1978; tại Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Q, đã chết và bà Trịnh Thị H, sinh năm 1955; có chồng tên Phạm Văn T1, sinh năm 1969, đã chết và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền sự: Không.

    Tiền án:

    • - Ngày 19-6-2023, bị TAND huyện Ea Ka, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 (một) năm cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS, theo Bản án số 21/2023/HS-ST. Tính đến ngày phạm tội mới, bị cáo còn phải chấp hành 02 (hai) ngày cải tạo không giam giữ. Đã nộp án phí ngày 18-9-2023.

    Nhân thân:

    • - Ngày 14-3-2016, bị Công an thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Đánh bạc”. Đã nộp phạt vào ngày 19-4-2016.

    Bị cáo bị tạm giam từ ngày 18-4-2024 đến ngày 28-5-2024.

    Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

  3. Nguyễn Văn C1, sinh ngày 01-01-1983; tại Phú Yên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C2, sinh năm 1969 và bà Phạm Thị H1, sinh năm 1972; có vợ tên Trần Thị O, sinh năm 1986 (đã ly hôn năm 2014) và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • - Ngày 29-12-2020, bị TAND huyện M'Đrắk, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm về tội “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS, theo Bản án số 37/2020/HS-ST. Đã chấp hành xong hình phạt ngày 29-9-2021, đã nộp án phí ngày 27-4-2021.

    Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

  4. Nguyễn Ngọc M1 (tên gọi khác: Năm M1), sinh ngày 19-4-1964; tại Phú Yên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T2, đã chết và bà Phan Thị H2, sinh năm 1925; có vợ tên Huỳnh Thị S, sinh năm 1965 và 04 con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • - Ngày 25-4-2016, bị Công an huyện S, tỉnh Phú Yên ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000₫ (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Đánh bạc”. Đã nộp phạt vào ngày 27-4-2016.
    • - Ngày 28-10-2021, bị Công an huyện S, tỉnh Phú Yên ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Đánh bạc”. Đã nộp phạt vào ngày 29-10-2021.

    Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

  5. Lê Minh A, sinh ngày 06-3-1987; tại Phú Yên; Nơi ĐKHKTT: Khu phố I, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên và chỗ ở hiện nay: Khu phố D, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không xác định và bà Đặng Thị S1, sinh năm 1951; có vợ tên Nguyễn Thị Kim T3, sinh năm 1995 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • - Ngày 13-8-2007, bị TAND tỉnh Phú Yên xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999, theo Bản án số 74/2007/HS-PT. Đã nộp án phí sơ thẩm ngày 05-9-2007.
    • - Ngày 11-6-2008, bị TAND tỉnh Phú Yên xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại khoản 2 Điều 104 BLHS năm 1999, theo Bản án số 56/2008/HS-PT. Đã nộp án phí sơ thẩm và phúc thẩm ngày 14-7-2008. Tổng hợp hình phạt cả 02 bản án là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23-01-2011.

    Bị cáo bị tạm giam từ ngày 18-4-2024 đến ngày 27-4-2024.

    Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

  6. Nguyễn Văn L1 (tên gọi khác: L2), sinh ngày 23-4-1991; tại Phú Yên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T4, sinh năm 1962 và bà Đoàn Thị H3, sinh năm 1963 (đã chết); có vợ tên Võ Thị Tường V, sinh năm 1999 và 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

  7. Hà Thị Hồng T5, sinh ngày 23-7-1986; tại Phú Yên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn C3, sinh năm 1963, đã chết và bà Đặng Thị L3, sinh năm 1964; có chồng tên Nguyễn Hữu T6, sinh năm 1987 và 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17-4-2024 đến ngày 26-4-2024.

    Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

  8. Huỳnh Thị T7, sinh ngày 25-7-1988; tại Bình Định; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh P, sinh năm 1969 và bà Ngô Thị Kim P1, sinh năm 1970; có chồng tên Nguyễn Văn B, sinh năm 1985 (đã ly hôn năm 2021) và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17-4-2024 đến ngày 26-4-2024.

    Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

  9. Nguyễn Chí C4, sinh ngày 03-01-1988; tại Bắc Ninh; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H4, sinh năm 1950 và bà Hoàng Thị N1, sinh năm 1950; vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

  10. Trương Văn H5 (tên gọi khác: Út E), sinh ngày 30-4-2004; tại Phú Yên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn H6, sinh năm 1962 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1967; vợ con: Không; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17-4-2024 đến ngày 26-4-2024.

    Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

    Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Tấn Đ; sinh ngày 01-01-1981; chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (có đơn đề nghị xử vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Tấn L4; sinh năm 1983; chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (có đơn đề nghị xử vắng mặt).
  3. Ông Ngụy Văn C5; sinh ngày 30-8-1992; chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (có đơn đề nghị xử vắng mặt).
  4. Ông Lê Quang H7; sinh ngày 10-9-1953; chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  5. Ông Lê Quốc L5; sinh ngày 16-8-1984; chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (gia đình có đơn xin vắng và có xác nhận của chính quyền địa phương, vì đang điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ, đã có quyết định tách vụ án để xử lý sau).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 17-4-2024, N mang theo một số vật dụng gồm: 01 bộ chén đĩa, 01 bộ bài tây, chiếu, bạt vào khu vực rẫy mía của ông Lê Quang H7 thuộc Buôn Z, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên cùng với L1, T5, T7, Mỹ, A, C1, Lê Quốc L5, L, C4 tham gia đánh bạc. Cách thức chơi cụ thể: Người chơi sử dụng 01 bộ chén đĩa; 04 con vị hình tròn (02 đỏ, 02 đen) được cắt ra từ lá bài tây; 01 tấm nhựa màu trắng có hình vẽ 04 ô vuông, trong đó: lần lượt 01 ô vuông vẽ 04 hình tròn không tô màu, 01 ô vuông vẽ 03 hình tròn không tô màu, 01 ô vuông vẽ 04 hình tròn tô màu xanh và 01 ô vuông vẽ 03 hình tròn tô màu xanh. Cao có nhiệm vụ xóc đĩa (bỏ 04 con vị trên đĩa, úp chén lại và xóc), sau khi Cao xóc xong thì người chơi bắt đầu chọn ô chẵn, lẻ để đặt tiền cược (chẵn là: 04 mặt sấp, 04 mặt ngửa hoặc 02 mặt sấp, 02 mặt ngửa; lẻ là: 01 mặt sấp, 03 mặt ngửa hoặc 03 mặt sấp, 01 mặt ngửa). Sau khi đặt cược xong, sẽ có 01 người bất kỳ mở chén và người đó làm cái, những người chơi còn lại nếu thắng thì sẽ được người làm cái chung số tiền bằng với số tiền đã đặt cược, thua thì mất số tiền đã đặt cược cho người làm cái. Tại khu vực đánh bạc, Trương Văn H5 được một người tên T8 (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) giao nhiệm vụ cảnh giới, báo động cho các con bạc. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S kiểm tra phát hiện, bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc số tiền 6.900.000₫ (sáu triệu chín trăm nghìn đồng). Ngoài ra, N còn khai nhận, sử dụng 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) để đánh bạc nhưng chưa tham gia đặt cược thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang, N bỏ chạy cùng với số tiền trên nên đã tự nguyện giao nộp.

Cáo trạng số 26/CT-VKS-SH, ngày 05-9-2024 của VKSND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên truy tố các bị cáo N, L, C1, Mỹ, A, L1, T5, T7, C4 và H5 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa,

Các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như hồ sơ vụ án đã phản ánh và bản cáo trạng đã truy tố, đều đã biết tội, ăn năn hối cải, mong hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét khoan hồng. Các bị cáo (N, L, C1, Mỹ và A) xin được hưởng án treo, các bị cáo (L1, T5, T7, C4 và H5) xin hình phạt chính là phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ. Các bị cáo (N, C1, Mỹ, L1 và T5) đều xin HĐXX xem xét cho nhận lại xe mô tô đang bị tạm giữ. Bị cáo N xin nhận lại điện thoại bị tạm giữ, các bị cáo cho rằng không sử dụng xe mô tô, điện thoại vào việc phạm tội.

*Trình bày của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Tấn Đ (tên gọi khác là L6) vắng mặt, tại bút lục số 753 đến 758 trình bày: Ngày 17-4-2024, ông Đ đi xe máy vào rẫy để phát gốc mía. Khi đến rẫy chuẩn bị phát thì nghe rẫy bên cạnh cách khoảng 300 m có một nhóm người đang tụ tập, đến gần thì thấy đang đánh bạc thắng thua bằng tiền. Khi nghe có tiếng súng nổ thì mọi người bỏ chạy, ông Đào S2 liên lụy nên cũng bỏ chạy về rẫy rồi lấy xe máy đi về nhà.
  2. Ông Nguyễn Tấn L4 vắng mặt, tại bút lục số 770 trình bày: Ngày 17-4-2024 tại rẫy mía Buôn Zô, có nhóm người tụ tập để đánh bạc. Ông L4 đi chặt mía thuê cả ngày, tối về ông L4 mới biết một số người như ông M1, L1, H5 (út em), C1 có liên quan việc đánh bạc, ông L4 chỉ biết ông T8 khoảng 50 tuổi đến gặp ông xin đi bốc mía thuê, bốc một xe thì ông T8 không làm nữa, hiện tại ông T8 đi đâu, làm gì ông L4 không thấy, không biết.
  3. Ông Ngụy Văn C5 vắng mặt, tại bút lục số 782 đến 786 trình bày: Ông C5 không tham gia đánh bạc, ông C5 đến rẫy mục đích đi mua mía giống về trồng. Khi đến rẫy mía thì thấy khoảng 7 đến 8 người có cả nam và nữ đang tụ tập dưới gốc cây xoan, bìa rừng, đánh bạc hình thức xóc đĩa, thắng thua bằng tiền, trong đó có ông N, L1, Chúc, Năm M2, qua nhận dạng thì mới biết có bà L cùng tham gia đánh bạc và người thanh niên là Lê Quốc L5 ở xã Đ. Người cầm cái xóc đĩa là ông C4. Ông C5 không tham gia đánh bạc.
  4. Ông Lê Quang H7, vắng mặt, tại bút lục số 768 đến 769 trình bày: Nơi các bị cáo đánh bạc là rẫy mía của ông H7, mía ông H7 đã chặt vào tháng 4 năm 2024, khi công an gọi ông H7 để xác nhận thì lúc đó trời đã tối, chỉ thấy khoảng 6 đến 7 người, ông H7 không biết ai, ông H7 không nghe ai mượn rẫy để đánh bạc, nếu có thì cũng không cho mượn, khoảng cách từ nhà ông H7 đến rẫy quá xa nên không thể biết được các bị cáo tự ý đến dùng làm nơi đánh bạc, ông H7 hoàn toàn không biết và ông H7 cho rằng mình không liên quan gì nên không đến tòa.
  5. Ông Lê Quốc L5, vắng mặt, tại bút lục số 647 đến 725 trình bày: Ông L5 có tham gia đánh bạc và đã có tiền án (tại bản án số 15/2024/HS-ST, ngày 14-6-2024 của TAND huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên, tuyên bố Lê Quốc L5 phạm tội “Đánh bạc”, áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Lê Quốc L5 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Trong quá trình điều tra, truy tố Lê Quốc L5 có chứng cứ đang điều trị tâm thần. Vì vậy, tại bút lục số 819 Quyết định tách vụ án hình sự số 356, ngày 19-8-2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S tách hành vi “Đánh bạc” của Lê Quốc L5 theo quyết định khởi tố vụ án hình sự số 13, ngày 19-4-2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S để xác minh điều tra, truy tố, xử lý sau.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích mức độ, tính chất, hậu quả hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố, đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo đều phạm tội “Đánh bạc”.

* Hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 321 BLHS và điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Các bị cáo M2, L1, T5, T7, C4 và H5 được áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng Điều 36, Điều 65 BLHS. Bị cáo L thuộc trường hợp tái phạm nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Xử phạt:

  1. Bị cáo Triệu Văn N từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
  2. Bị cáo Phạm Thị L từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 18-4-2024 đến ngày 28-5-2024.
  3. Bị cáo Nguyễn Văn C1 từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
  4. Bị cáo Nguyễn Ngọc M1 (N) từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
  5. Giao bị cáo Nguyễn Ngọc M1 (tên gọi khác: Năm M1) cho UBND xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp UBND xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo M1.
  6. Bị cáo Lê Minh A từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
  7. Giao bị cáo Lê Minh A cho UBND thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp UBND thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo A.
  8. Bị cáo Nguyễn Văn L1 (L2) từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án.
  9. Giao bị cáo Nguyễn Văn L1 (L2) cho UBND xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp UBND xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo L1.
  10. Bị cáo Hà Thị Hồng T5 từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
  11. Giao bị cáo Hà Thị Hồng T5 cho UBND xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp UBND xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo T5.
  12. Bị cáo Huỳnh Thị T7 từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
  13. Giao bị cáo Huỳnh Thị T7 cho UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định trong việc giám sát, giáo dục bị cáo T7.
  14. Bị cáo Nguyễn Chí C4 từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.
  15. Giao bị cáo Nguyễn Chí C4 cho UBND xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp UBND xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo C4.
  16. Bị cáo Trương Văn H5 (tên gọi khác: Út E) từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo H5 được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 17-4-2024 đến 26-4-2024 là 09 ngày, bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ.
  17. Giao bị cáo Trương Văn H5 (Út E) cho UBND xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp UBND xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo H5.
  18. Thời gian các bị cáo Nguyễn Chí C4 và Trương Văn H5 (Út E), bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện S, tỉnh Phú Yên nhận được quyết định thi hành án.
  19. Các bị cáo Nguyễn Chí C4 và Trương Văn H5 (Út E) được miễn trừ thu nhập.

* Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 BLHS, đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo N, M1, C1, L1, T5, T7. Mỗi bị cáo phải nộp 10.000.000đ (mười triệu đồng) để sung quỹ nhà nước.

* Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo A, vì gia đình thuộc diện hộ cận nghèo; bị cáo L vì thường xuyên bị bệnh phải nằm viện, có chứng từ nằm viện, chồng chết và đang nuôi con nhỏ; bị cáo H5 có vai trò cảnh giới và bị cáo C4 xóc đĩa nhưng không làm cái, không tham gia cá cược.

* Về trách nhiệm dân sự: Không.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47; Điều 48 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

  1. Đề nghị tuyên thu sung quỹ nhà nước số tiền 7.200.000đ (bảy triệu hai trăm nghìn đồng) tiền sử dụng vào việc đánh bạc (gồm: số tiền 6.900.000₫ thu tại chiếu bạc; bị cáo N nộp 300.000₫).
  2. Đề nghị tuyên tiêu hủy, vì là công cụ phạm tội:
    • 01 (một) chén nhựa; 01 (một) đĩa sứ; 04 (bốn) mảnh nhựa lá bài Tây được cắt tròn;
    • 01 (một) mảnh nhựa màu trắng, trên có ghi dòng chữ “ủng hộ bão lụt miền trung liên hệ anh T8” và hình vẽ ô tròn;
    • 01 (một) tấm bạt màu xanh, kích thước (500 x 350) cm;
    • 01 (một) chiếu nhựa màu trắng-vàng-đỏ, kích thước (203 x 160) cm;
    • 04 (bốn) đôi dép các loại;
  3. Đề nghị tuyên trả các tài sản, vì các bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội:
    • 3.1. 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Janus, biển số 81K1-093.88 trả cho bị cáo T5;
    • 3.2. 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 78G1-297.87 trả cho bị cáo L1;
    • 3.3. 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Future, biển số 78M1-022.15 trả cho bị cáo Mỹ;
    • 3.4. 01 (một) xe mô tô hiệu Superhalim 100, biển số 78H2-8260 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme màu xanh trả cho bị cáo N;
    • 3.5. 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 78M1-051.72 trả cho bị cáo C1.

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) và điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm (HSST) theo quy định pháp luật.

Bị cáo N, L, C1, Mỹ, A, L1, T5, T7, C4 và H5 không tranh luận về tội danh, chỉ xin HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ, nộp tiền phạt.

Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và bản luận tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được lưu trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn thực tế khách quan.

Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Triệu Văn N mang theo một số vật dụng gồm: 01 bộ chén đĩa, 01 bộ bài tây, chiếu, bạt đến khu vực rẫy mía của ông Lê Quang H7 thuộc Buôn Z, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên cùng với 09 bị cáo khác gồm: L, C1, Mỹ, A, L1, T5, T7, C4, H5 tham gia đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa (riêng bị cáo C4 là người trung gian, xóc đĩa nhưng không làm cái, có vai trò giúp sức thứ yếu, không trực tiếp tham gia cá cược và bị cáo Trương Văn H5 có vai trò làm nhiệm vụ cảnh giới). Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi các đối tượng nêu trên đang đánh bạc thì bị Công an huyện S phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 6.900.000₫ (sáu triệu chín trăm nghìn đồng) và bị cáo Triệu Văn N còn khai nhận, sử dụng 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) để đánh bạc đã tự nguyện giao nộp. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 7.200.000đ (bảy triệu hai trăm nghìn đồng). Do đó, hành vi của các bị cáo Triệu Văn N, Phạm Thị L, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Ngọc M1, Lê Minh A, Nguyễn Văn L1 (Lắc), Hà Thị Hồng T5, Huỳnh Thị T7, Nguyễn Chí C4 và Trương Văn H5 (Út E) đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.

Tại Khoản 1 Điều 321 BLHS quy định:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000đ đến dưới 50.000.000đ hoặc dưới 5.000.000đ nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này, hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000đ đến 100.000.000đ, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Xét tính chất, vai trò, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi để biết được rằng, việc đánh bạc bằng hình thức được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng là khách thể được pháp luật quan tâm bảo vệ, các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, là hệ lụy phát sinh các loại tội phạm khác tại địa phương, làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế gia đình và xã hội.

[3.1] Về tính chất, vai trò của các bị cáo trong vụ án: Xuất phát từ việc đam mê đánh bạc, sát phạt nhau được thua bằng tiền. Trong vụ án có 08 bị cáo trực tiếp tham gia đánh bạc chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn. HĐXX cần xem xét tính chất, mức độ vai trò tham gia, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo để lượng hình.

3.1.1. Đối với Triệu Văn N là bị cáo có hành vi mang dụng cụ của mình gồm: Chén, đĩa, bài tây, chiếu, bạt, để cho các bị cáo khác tham gia đánh bạc, không có mục đích thu tiền xâu. Bị cáo N mang theo 2.350.000₫ để đánh bạc, bị cáo cho T5 mượn 2.000.000₫ (hai triệu đồng) để đánh bạc, không lấy lãi, không có căn cứ xử lý bị cáo N về tội “Tổ chức đánh bạc” theo Điều 322 BLHS. Còn lại 350.000đ, bị cáo N đánh hai ván, trong đó một ván đặt cược 50.000đ thắng, một ván đặt cược 100.000₫ thua, số tiền còn lại 300.000₫ định chơi tiếp thì bị bắt quả tang. Sau đó, số tiền 300.000đ bị cáo N tự nguyện giao nộp. Bị cáo N có nhân thân về hành vi “Đánh bạc”: Ngày 29-9-2005, bị TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên xử phạt 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm về tội “Đánh bạc”; ngày 28-10-2021, bị Công an huyện S ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, bị phạt số tiền 1.500.000₫ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Do đó, HĐXX chấp nhận mức án mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa, áp dụng mức phạt tù cao nhất so với đồng phạm khác cùng tội danh.

3.1.2. Đối với Phạm Thị L, mang theo 380.000₫ để đánh bạc, đặt cược một ván 100.000đ thua, còn lại 280.000₫ dùng để chi tiêu ăn uống cá nhân. Bị cáo L có một tiền án (ngày 19-6-2023, bị TAND huyện Ea Ka, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 (một) năm cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, như vậy tính đến ngày phạm tội mới (17-4-2024) bị cáo L còn hai ngày cải tạo không giam giữ chưa chấp hành xong, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS), không đủ điều kiện cho hưởng án treo. Bị cáo L có nhân thân về hành vi “Đánh bạc”: Ngày 14-3-2016, bị Công an thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000₫ (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Đánh bạc”. HĐXX chấp nhận mức án mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa, áp dụng mức phạt tù thấp hơn bị cáo N.

3.1.3. Đối với Nguyễn Văn C1, mang theo 300.000₫ để đánh bạc, tham gia đánh bạc hai ván, đặt cược một ván 100.000₫ thua, đặt cược một ván 200.000₫ thua hết số tiền mang theo để đánh bạc. Bị cáo C1 có nhân thân về hành vi “Đánh bạc”: Ngày 29-12-2020, bị TAND huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm về tội “Đánh bạc”. HĐXX chấp nhận mức án mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa, vì có lần đã bị xử tù về tội “Đánh bạc”, nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện trở thành công dân tốt mà tiếp tục phạm tội cùng loại, áp dụng mức phạt tù, ngang bằng bị cáo L.

3.1.4. Đối với Nguyễn Ngọc M1 (N), mang theo 1.100.000₫ để đánh bạc, không nhớ rõ tham gia bao nhiêu ván, khi tham gia đánh bạc có đặt cược, có ván thắng, có ván thua, kết quả thua hết số tiền mang theo đánh bạc. Bị cáo M1 có nhân thân về hành vi “Đánh bạc”: Ngày 25-4-2016, bị Công an huyện S ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” bị phạt số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) và ngày 28-10-2021, bị Công an huyện S ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” bị phạt số tiền 1.500.000₫ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Cả hai lần bị xử phạt đều đã nộp phạt. Mặc dù bị cáo M1 có nhân thân về hành vi “Đánh bạc” nhưng chưa lần nào bị ra tòa xử phạt tù, thỏa mãn điều kiện áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng chống tội phạm nói chung. HĐXX chấp nhận mức án mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa, bằng mức án bị cáo C1.

3.1.5. Đối với Lê Minh A, mang theo 800.000₫ để đánh bạc, tham gia đánh bạc ba ván, ván đầu đặt cược 200.000đ thua, hai ván sau đặt cược mỗi ván 300.000đ, kết quả ba ván thua hết số tiền mang theo đánh bạc. Bị cáo Anh có nhân thân: Ngày 13-08-2007, bị TAND tỉnh Phú Yên xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và ngày 11-06-2008, bị TAND tỉnh Phú Yên xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Cả hai bản án nêu trên, bị cáo A đã chấp hành xong vào ngày 23-01-2011. Mặc dù bị cáo A đã bị phạt tù nhưng đều không phạm tội “Đánh bạc”, hơn nữa đã chấp hành xong đến nay đã mười ba năm, tất cả bản án đều đương nhiên xóa án tích, thỏa mãn điều kiện áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng chống tội phạm nói chung. HĐXX chấp nhận mức án mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa, bằng mức án bị cáo M1.

3.1.6. Đối với Nguyễn Văn L1 (Lắc), mang theo 1.500.000đ để đánh bạc, tham gia đánh bạc bốn ván, kết quả thua hết 1.200.000đ, còn lại 300.000₫ dự định tiếp tục chơi nhưng bị rơi mất trong lúc hỗn loạn, bỏ chạy khi bị Công an truy bắt phạm tội quả tang. Mặc dù bị cáo L1 rủ bị cáo N nhưng HĐXX xét vai trò, mức độ tham gia đồng phạm cần giảm thấp hơn mức án mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa, vì bị cáo L1 có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thỏa mãn điều kiện áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng chống tội phạm nói chung, bằng mức án bị cáo A.

3.1.7. Đối với Hà Thị Hồng T5, dùng số tiền 2.000.000₫ mượn từ bị cáo Triệu Văn N để đánh bạc, không nhớ rõ tham gia bao nhiêu ván, khi tham gia đánh bạc có đặt cược, có ván thắng, có ván thua, kết quả thua hết số tiền mượn để đánh bạc.

3.1.8. Đối với Huỳnh Thị T7, mang theo số tiền hơn 2.000.000đ để đánh bạc, tham gia đánh bạc ba ván, mỗi ván cược 100.000đ, trong đó một ván thua, hai ván thắng, kết quả thắng được 100.000đ, số tiền còn lại dự định tiếp tục chơi nhưng bị rơi mất lúc bỏ chạy do Công an truy bắt phạm tội quả tang.

HĐXX xét nhân thân, vai trò, mức độ tham gia đồng phạm của bị cáo T5 và bị cáo T7 không áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo như mức án mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa, vì bị cáo T5 và bị cáo T7 có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thỏa mãn điều kiện áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ để bị cáo T5 và bị cáo T7 thấy được sự nghiêm minh của pháp luật và lượng khoan hồng của nhà nước mà yên tâm cải tạo tốt.

3.1.9. Đối với Nguyễn Chí C4, không mang theo tiền để đánh bạc, làm nhiệm vụ xóc đĩa, không làm cái, không đặt cược, biết rõ các bị cáo đánh bạc thắng thua bằng tiền nhưng khi được nhờ, đã tự nguyện xóc đĩa cho các bị cáo đánh bạc.

3.1.10. Đối với Trương Văn H5 làm nhiệm vụ cảnh giới, chưa nhận tiền thuê, biết rõ hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng khi được đối tượng tên “Tô” nhờ làm nhiệm vụ cảnh giới cho tụ điểm đánh bạc xóc đĩa và hứa sẽ cho tiền, nên H5 đã có vai trò cảnh giới cho các bị cáo đánh bạc.

HĐXX xét nhân thân, vai trò đồng phạm của bị cáo C4 và bị cáo H5, chấp nhận như mức án mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa, vì bị cáo C4 và bị cáo H5 lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thỏa mãn điều kiện áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ để bị cáo C4 và bị cáo H5 thấy được chính sách khoan hồng của nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Ngoài ra, khi áp dụng hình phạt, HĐXX cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho tất cả các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Đối với Lê Quốc L5, trong quá trình điều tra đã trình bày bản thân bị bệnh tâm thần phân liệt do di chứng tai nạn giao thông và cung cấp giấy tờ, tài liệu liên quan bệnh án. Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với Lê Quốc L5 để xác định L5 có đủ năng lực trách nhiệm hình sự hay không nhưng chưa có kết quả, nên chưa đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với L5. Vì vậy, cơ quan điều tra có quyết định tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra, xử lý sau.

Đối với đối tượng tên T8, theo lời khai của Trương Văn H5 có hành vi phân công H5 cảnh giới cho các con bạc đánh bạc, có dấu hiệu của tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại Điều 322 BLHS. Tuy nhiên, lời khai của Nguyễn Văn L1, Nguyễn Tấn L4, Lê Tấn Đ và Trương Văn H5 không biết cụ thể về lý lịch của đối tượng T8, ngoài ra không có lời khai nào khác biết về đối tượng này nên Cơ quan cảnh sát điều tra chưa xác định được lai lịch và chưa làm việc được đối tượng T8. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Đối với Lê Quang H7 không biết các bị cáo đã sử dụng địa điểm là rẫy mía của ông H7 để làm tụ điểm đánh bạc, nên cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự.

Ngoài hình phạt chính, HĐXX xét vai trò đồng phạm, hoàn cảnh gia đình, cần thiết chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, áp dụng khoản 3 Điều 321 BLHS, phạt bổ sung đối với các bị cáo: Triệu Văn N, Nguyễn Ngọc M1, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn L1 (Lắc), mỗi bị cáo phải nộp 10.000.000đ (mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Minh A, vì gia đình thuộc hộ cận nghèo, hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo Phạm Thị L đang điều trị bệnh, gia đình khó khăn; bị cáo Nguyễn Chí C4 và bị cáo Trương Văn H5 chỉ đồng phạm với vai trò giúp sức thứ yếu; bị cáo Hà Thị Hồng T5 và bị cáo Huỳnh Thị T7, đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Không.

[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47; Điều 48 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

  1. Tịch thu và sung quỹ nhà nước, vì đây là số tiền do thu lợi bất chính: Số tiền 7.200.000₫ (bảy triệu hai trăm nghìn đồng) tiền sử dụng vào việc đánh bạc (trong đó số tiền 6.900.000₫ thu tại chiếu bạc; bị cáo N nộp 300.000₫).
  2. Tịch thu tiêu hủy, vì là những công cụ, phương tiện phạm tội:
    • 5.2.1. 01 (một) chén nhựa; 01 (một) đĩa sứ; 04 (bốn) mảnh nhựa lá bài Tây được cắt tròn;
    • 5.2.2. 01 (một) mảnh nhựa màu trắng, trên có ghi dòng chữ “ủng hộ bão lụt miền trung liên hệ anh T8” và hình vẽ ô tròn;
    • 5.2.3. 01 (một) tấm bạt màu xanh, kích thước (500 x 350) cm;
    • 5.2.4. 01 (một) chiếu nhựa màu trắng-vàng-đỏ, kích thước (203 x 160) cm;
    • 5.2.5. 04 (bốn) đôi dép các loại;
  3. Tuyên trả các tài sản cho các bị cáo, vì không có đủ căn cứ để chứng minh liên quan đến việc phạm tội:
    • 5.3.1. 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Janus, biển số 81K1-093.88 trả cho bị cáo T5;
    • 5.3.2. 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 78G1-297.87 trả cho bị cáo L1;
    • 5.3.3. 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Future, biển số 78M1-022.15 trả cho bị cáo M1;
    • 5.3.4. 01 (một) xe mô tô hiệu Superhalim 100, biển số 78H2-8260 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme màu xanh trả cho bị cáo N;
    • 5.3.5. 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 78M1-051.72 trả cho bị cáo C1.

    (tất cả vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 05-9-2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh).

[6] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Triệu Văn N, Phạm Thị L, Nguyễn Ngọc M1 (tên gọi khác: Năm Mỹ), Nguyễn Văn C1, Lê Minh A, Nguyễn Văn L1 (tên gọi khác: L2), Hà Thị Hồng T5, Huỳnh Thị T7, Nguyễn Chí C4 và Trương Văn H5 (tên gọi khác: Út E), mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Triệu Văn N, Phạm Thị L, Nguyễn Ngọc M1 (tên gọi khác: Năm Mỹ), Nguyễn Văn C1, Lê Minh A, Nguyễn Văn L1 (tên gọi khác: L2), Hà Thị Hồng T5, Huỳnh Thị T7, Nguyễn Chí C4 và Trương Văn H5 (tên gọi khác: Út E) đều phạm tội “Đánh bạc”.

[1] Về hình phạt:

  • *Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Triệu Văn N. Xử phạt:
    1. Bị cáo Triệu Văn N 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
    2. Phạt bổ sung đối với bị cáo Triệu Văn N số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.
  • *Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS đối với bị cáo Phạm Thị L. Xử phạt:
    1. Bị cáo Phạm Thị L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 18-4-2024 đến ngày 28-5-2024.
  • *Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 đối với bị cáo Nguyễn Văn C1. Xử phạt:
    1. Bị cáo Nguyễn Văn C1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
    2. Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn C1 số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.
  • *Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Ngọc M1 (tên gọi khác: Năm Mỹ). Xử phạt:
    1. Bị cáo Nguyễn Ngọc M1 (tên gọi khác: Năm Mỹ) 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    2. Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Ngọc M1 số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.
    3. Giao bị cáo Nguyễn Ngọc M1 (tên gọi khác: Năm M1) cho UBND xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp UBND xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo M1.
  • *Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS đối với bị cáo Lê Minh A. Xử phạt:
    1. Bị cáo Lê Minh A 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    2. Giao bị cáo Lê Minh A cho UBND thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp UBND thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo A.
  • *Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Văn L1 (tên gọi khác: L2). Xử phạt:
    1. Bị cáo Nguyễn Văn L1 (tên gọi khác: L2) 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    2. Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn L1 số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.
    3. Giao bị cáo Nguyễn Văn L1 (L2) cho UBND xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp UBND xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo L1.

    Trong trường hợp, các bị cáo phạt tù cho hưởng án treo có thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục các bị cáo thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.

  • *Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 BLHS đối với các bị cáo Hà Thị Hồng T5; bị cáo Huỳnh Thị T7; bị cáo Nguyễn Chí C4 và Trương Văn H5 (Ú). Xử phạt:
    1. Bị cáo Hà Thị Hồng T5 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo T5 được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 17-4-2024 đến 26-4-2024 là 09 ngày bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo Hà Thị Hồng T5 còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ.
    2. Giao bị cáo Hà Thị Hồng T5 cho UBND xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp UBND xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo T5.
    3. Thời gian bị cáo Hà Thị Hồng T5 bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện S, tỉnh Phú Yên nhận được quyết định thi hành án.
    1. Bị cáo Huỳnh Thị T7 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo T7 được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 17-4-2024 đến 26-4-2024 là 09 ngày bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo Huỳnh Thị T7 còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ.
    2. Giao bị cáo Huỳnh Thị T7 cho UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định trong việc giám sát, giáo dục bị cáo T7.
    3. Thời gian bị cáo Huỳnh Thị T7 bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện P, tỉnh Bình Định nhận được quyết định thi hành án.
    1. Bị cáo Nguyễn Chí C4 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.
    2. Giao bị cáo Nguyễn Chí C4 cho UBND xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp UBND xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo C4.
    1. Bị cáo Trương Văn H5 (tên gọi khác: Út E) 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo H5 được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 17-4-2024 đến 26-4-2024 là 09 ngày bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo Trương Văn H5 (Út E) còn phải chấp hành 08 (tám) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ.
    2. Giao bị cáo Trương Văn H5 (Út E) cho UBND xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp UBND xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo H5.
    3. Thời gian các bị cáo Nguyễn Chí C4 và Trương Văn H5 (Út E), bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện S, tỉnh Phú Yên nhận được quyết định thi hành án.
    4. Các bị cáo Hà Thị Hồng T5, Huỳnh Thị T7, Nguyễn Chí C4 và Trương Văn H5 (Ú) được miễn trừ thu nhập.

[2] Về trách nhiệm dân sự: Không.

[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47; Điều 48 BLHS; Khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

  1. Tịch thu và sung quỹ nhà nước: Số tiền 7.200.000₫ (bảy triệu hai trăm nghìn đồng) tiền sử dụng vào việc đánh bạc (trong đó số tiền 6.900.000₫ thu tại chiếu bạc; bị cáo N nộp 300.000₫) theo biên lai thu tiền số 001334 ngày 05-9-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
  2. Tịch thu tiêu hủy:
    • 2.1. 01 (một) chén nhựa; 01 (một) đĩa sứ; 04 (bốn) mảnh nhựa lá bài Tây được cắt tròn;
    • 2.2. 01 (một) mảnh nhựa màu trắng, trên có ghi dòng chữ “ủng hộ bão lụt miền trung liên hệ anh T8” và hình vẽ ô tròn;
    • 2.3. 01 (một) tấm bạt màu xanh, kích thước (500 x 350) cm;
    • 2.4. 01 (một) chiếu nhựa màu trắng-vàng-đỏ, kích thước (203 x 160) cm;
    • 2.5. 04 (bốn) đôi dép các loại;
  3. Tuyên trả các tài sản lại các bị cáo:
    • 3.1. 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Janus, biển số 81K1-093.88 trả lại bị cáo T5;
    • 3.2. 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 78G1-297.87 trả lại bị cáo L1;
    • 3.3. 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Future, biển số 78M1-022.15 trả lại bị cáo M1;
    • 3.4. 01 (một) xe mô tô hiệu Superhalim 100, biển số 78H2-8260 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme màu xanh trả lại bị cáo N;
    • 3.5. 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 78M1-051.72 trả lại bị cáo C1.

    (tất cả vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 05-9-2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh).

[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Triệu Văn N, Phạm Thị L, Nguyễn Ngọc M1 (tên gọi khác: Năm Mỹ), Nguyễn Văn C1, Lê Minh A, Nguyễn Văn L1 (tên gọi khác: L2), Hà Thị Hồng T5, Huỳnh Thị T7, Nguyễn Chí C4 và Trương Văn H5 (tên gọi khác: Út E), mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Quyền kháng cáo:

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Công an, VKSND H.Sông Hinh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục THADS H. Sông Hinh;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Châu Kha

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN về hình sự về tội "đánh bạc"

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Đánh bạc"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Triệu Văn N, Phạm Thị L, Nguyễn Ngọc M1 (tên gọi khác: Năm Mỹ), Nguyễn Văn C1, Lê Minh A, Nguyễn Văn L1 (tên gọi khác: L2), Hà Thị Hồng T5, Huỳnh Thị T7, Nguyễn Chí C4 và Trương Văn H5 (tên gọi khác: Út E) đều phạm tội “Đánh bạc”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger