Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC KẠN

Bản án số: 32/2024/HS - ST

Ngày: 30/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Hưng;

Thẩm phán: Ông Hà Quang Huy;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vi Thanh Cầm;

2. Ông Lương Mạnh Hà;

3. Bà Nguyễn Thị Yến.

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Kim Dung, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Đậu Xuân Hà và ông Trần Đức Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024; Tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST- HS, ngày 22/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 04/7/2024 đối với bị cáo:

TÔ QUANG HUY;

Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 04 tháng 01 năm 1954 tại huyện B, tỉnh Cao Bằng; Nơi ĐKHKTT: Số A, Bùi Thị X, phường N, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: D, Quốc lộ F, phường F, thành phố T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/10; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tô Minh Đ (đã chết) và con bà Tô Thị H (đã chết); Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T và có 03 con, con lớn sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 20/10/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hà Trung T1 - Luật sư Đoàn luật sư tỉnh B. Có mặt.

* Bị hại: Ông Hạ Sỹ L, sinh năm 1959; Địa chỉ: Khu C, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.

2

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng: Ông Tô Ngọc H1, sinh năm 1961; Địa chỉ: Tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam P, Bộ C2. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Ngọc Á, sinh năm 1973; Địa chỉ: Tổ dân phố số I, xã Đ, quận B, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

* Người tham gia tố tụng khác (Có mặt tại điểm cầu thành phần):

- Ông Lê Trọng C, Phó Đội trưởng - Trại tạm giam của Công an tỉnh B.

- Ông Triệu Kim Đ1, cán bộ chiến sĩ - Trại tạm giam của Công an tỉnh B.

- Ông Ma Thế L1, cán bộ chiến sĩ - Trại tạm giam của Công an tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối tháng 3, đầu tháng 4 năm 2011, trong quá trình khai thác gỗ tại đèo C thuộc huyện N, tỉnh Bắc Kạn, ông Hạ Sỹ L quen biết với Tô Ngọc H1. H1 tự giới thiệu với ông L, H1 là Cảnh sát hình sự săn bắt cướp đang chờ nghỉ hưu (thực tế H1 không phải là Cảnh sát hình sự). Qua nói chuyện, H1 biết ông L đang có dự định xin nạo vét lòng suối M, Ma N thuộc xã T, huyện N để tận thu vàng nên H1 nói với ông L là có anh trai là Tô Quang H2 đang công tác tại Văn phòng C3 ở thành phố Hồ Chí Minh, H2 quen biết nhiều người làm ở các ban, ngành nên có thể xin được dự án nạo vét lòng suối M, Ma N cho ông L. Sau khi nói chuyện với ông L, H1 gặp H2 và nói lại việc ông L muốn xin nạo vét lòng suối M, Ma N cho H2 biết. Sau đó, H1 đã đưa H2 và người đàn ông tên Lê Đức H3 đến nhà ông L chơi, tại đây H2 trao đổi với ông L việc muốn xin được dự án khai thác vàng cho ông L thì phải mất chi phí là 1.200.000.000đ (một tỷ, hai trăm triệu đồng) để H2 lo chạy xin dự án. Do tin tưởng H1 và H2 có thể xin được dự án nạo vét lòng suối M, Ma N nên ông L đã hai lần đưa tiên cho H1 và H2 để chạy dự án với tổng số tiền là 1.200.000.000₫ (một tỷ, hai trăm triệu đồng), cụ thể:

- Lần thứ nhất: Vào ngày 20/9/2011, H1 đưa ông L đến khách sạn K thuộc thành phố Hà Nội để gặp H2, tại đây ông L trực tiếp đưa cho H2 số tiền 980.000.000₫ (Chín trăm, tám mươi triệu đồng) việc giao, nhận tiền giữa ông L với H2 có H1 và Nguyễn Công T2, sinh năm 1964, trú tại thôn L, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên (bạn của ông L) biết.

- Lần thứ hai: Vào ngày 21/11/2011, ông L trực tiếp đưa cho H1 số tiền 220.000.000đ (hai trăm, hai mươi, triệu đồng), sau đó H1 đã đưa số tiền này cho H2 tại khách sạn K thuộc thành phố Hà Nội. Sau khi nhận được tiền từ H1, H2 đã gọi điện thoại cho ông L để xác nhận việc này.

Sau nhiều lần được H2 hứa hẹn nhưng không xin được dự án nạo vét lòng suối M, Ma N nên ông L đã trình báo sự việc trên đến Cơ quan Công an để giải quyết.

Tại Cơ quan điều tra, Tô Quang H2 khai nhận: Mặc dù bản thân không có khả năng, quyền hạn trong việc xin cấp phép dự án khai thác khoáng sản tại tỉnh Bắc Kạn, nhưng H2 vẫn hứa hẹn sẽ xin được dự án nạo vét lòng suối M, Ma N

3

cho ông L để chiếm đoạt số tiền 1.200.000.000đ (một tỷ, hai trăm triệu đồng) của ông L.

H2 khai có quen biết với Lê Đức H3, địa chỉ tại xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Bình Phước và được H3 giới thiệu biết người tên Vũ Ngọc Á có thể xin được dự án tại tỉnh Bắc Kạn. Sau khi nhận được tiền từ ông L, H2 đã đưa số tiền 1.000.000.000₫ (một tỷ đồng) cho người đàn ông tên Vũ Ngọc Á để đi xin dự án cho ông L và đưa số tiền 125.000.000đ (một trăm hai mươi năm triệu đồng) cho Lê Đức H3 là tiền công môi giới, tư vấn lo xin dự án. Bản thân H2 chỉ giữ lại 75.000.000₫ (Bảy mươi năm triệu đồng) để chi tiêu cá nhân. Việc H2 đưa tiền cho Á và H3 không có giấy tờ hay tài liệu nào chứng minh.

Hiện nay, H2 còn giữ 01 (một) giấy vay số tiền 600.000.000₫ (Sáu trăm triệu đồng) giữa Á và H3 (đã giao nộp cho Cơ quan điều tra). Ngoài ra, H2 còn khai: Vào khoảng đầu năm 2012, H2 được Á giới thiệu cho gặp Vũ Văn T3, sinh năm 1980, HKTT K, phường Đ, thành phố Hà Nội và H2 được đưa Vũ Văn T3 đến thị trấn C, huyện B tỉnh Bắc Kạn để gặp ông Hạ Sỹ L và một số người khác (hiện nay không nhớ tên tuổi, địa chỉ cụ thể). Sau đó, xảy ra sự việc Vũ Văn T3 lừa đảo chiếm đoạt tiền của các ông Hạ Sỹ L, Nguyễn Công T2, Nguyễn Đức Y, Lưu Quang H4 thông qua việc kêu gọi vốn làm dự án khai thác vàng tại khu vực xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Tuy nhiên, H2 khẳng định chỉ được đưa T3 đến thị trấn C, huyện B tỉnh Bắc Kạn để gặp ông Hạ Sỹ L và một số người khác, nhưng không được tham gia, bàn bạc với Vũ Văn T3 trong việc thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của những người nêu trên.

Đối với Tô Ngọc H1 là đồng phạm với bị cáo Tô Quang H2 thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 1.200.000.000₫ (một tỷ, hai trăm triệu đồng) của ông Hạ Sỹ L vào năm 2011. Hành vi nêu trên của H1, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã xử phạt 12 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a, khoản 4, Điều 139 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) theo Bản án số 01/2015/HSST ngày 26/11/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn. Hiện nay, Tô Ngọc H1 đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam P, Bộ C2.

Tại Cơ quan điều tra, Vũ Ngọc Á khẳng định không quen biết với bị cáo Tô Quang H2 và không được nhận số tiền 1.000.000.000₫ (một tỷ đồng) từ Tô Quang H2 để xin dự án cho ông Hạ Sỹ L.

Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành Trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh B giám định tài liệu đối với “Giấy vay tiền” do bị cáo Tô Quang H2 cung cấp và bản tự khai của Vũ Ngọc Á. Tại Bản kết luận giám định số: 56/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh B kết luận:

“1. Các chữ viết trên Giấy vay tiền đề ngày 30/10/2011 mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ viết của Vũ Ngọc Á trên mẫu so sánh (ký hiệu M) không đủ cơ sở kết luận là do cùng một người viết ra.

2. Chữ ký không đọc được dưới mục “Người vay” mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký của Vũ Ngọc Á so với mẫu so sánh (ký hiệu M) không đồng dạng nên không đủ cơ sở kết luận là do cùng một người ký ra.

3. Chữ ký không đọc được dưới mục “Người vay” mẫu cần giám định (ký hiệu A) là chữ ký trực tiếp.”

4

Tại Bản cáo trạng số: 26/CT-VKS-P1 ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Tô Quang H2 về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 139 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Điều 139 của Bộ luật Hình sự năm 1999 có nội dung:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 03 năm.

2...

3.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 05 trăm triệu đồng trở lên;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng...”

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như bản Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tô Quang H2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm m, p khoản 1 khoản 2 Điều 46; Điều 20, 33, 53 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Tô Quang H2 12 đến 13 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 20/10/2023.

Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Không phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị HĐXX xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Tô Quang H2 phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo đều nhất trí đối với nội dung truy tố và luận tội của Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người

5

bào chữa, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong năm 2011 bị cáo Tô Quang H2 không có khả năng, quyền hạn trong việc xin cấp phép dự án khai thác khoáng sản tại tỉnh Bắc Kạn, nhưng bị cáo đưa ra thông tin gian dối và hứa hẹn sẽ xin được dự án nạo vét lòng suối M, Ma N (nhằm tận thu vàng) thuộc xã T, huyện N cho bị hại là ông Hạ Sỹ L để chiếm đoạt số tiền 1.200.000.000₫ (một tỷ, hai trăm triệu đồng) của ông Hạ Sỹ L. Cụ thể. Lần thứ nhất: Vào ngày 20/9/2011, Tô Quang H5 đưa ông L đến khách sạn K, thành phố Hà Nội để gặp bị cáo H2, tại đây ông L trực tiếp đưa cho bị cáo H2 số tiền 980.000.000đ (Chín trăm, tám mươi triệu đồng). Lần thứ hai: Vào ngày 21/11/2011, ông L trực tiếp đưa cho Tô Quang H5 số tiền 220.000.000₫ (Hai trăm, hai mươi, triệu đồng), sau đó H5 đã đưa số tiền này cho bị cáo H2 tại khách sạn K, thành phố Hà Nội.

Đối với Tô Ngọc H1 là đồng phạm với bị cáo Tô Quang H2 thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 1.200.000.000₫ (một tỷ, hai trăm triệu đồng) của ông Hạ Sỹ L. Ngày 26/11/2015 bị cáo Tô Quang H5 đã bị Toà án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xử phạt 12 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a, khoản 4, Điều 139 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) Tô Ngọc H1 đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam P, Bộ C2.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Tô Ngọc H1 và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ của vụ án. Bị cáo thực hiện hành vi khi có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo Tô Quang H2 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 139 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương.

[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã đủ 70 tuổi và trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định điểm m, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đó là “Người phạm tội là người già” và “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là ông Tô Minh Đ và mẹ đẻ là bà Tô Thị H là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến và Bảng vàng danh dự. Do vậy, bị cáo còn được

6

hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy, cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời để răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về hình phạt bổ sung (Phạt tiền): Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có điều kiện để thi hành nên không áp dụng.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa ông Hạ Sỹ L yêu cầu bị cáo Tô Quang H2 phải trả lại số tiền đã bị chiếm đoạt là 1.200.000.000đ (một tỷ, hai trăm triệu đồng). Tuy nhiên, tại Bản án số 01/2015/HSST ngày 26/11/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã tuyên: “Buộc bị cáo Tô Ngọc H1 phải hoàn trả cho ông Hạ Sỹ L số tiền 1.200.000.000đ (một tỷ, hai trăm triệu đồng)”, là số tiền mà bị cáo Tô Quang H2 đã chiếm đoạt liên quan đến vụ án này. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của ông Hạ Sỹ L đã được giải quyết bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[7] Về vật chứng của vụ án: Lưu theo hồ sơ vụ án các tài liệu bao gồm:

01 (một) phong bì màu vàng bên ngoài có ghi “Hồ sơ gốc nợ” bên trong chứa:

  • + 01 (một) tập giấy bên trong có 02 (hai) tờ lịch ghi ngày 23/5/2014 và ngày 10/3/2014;
  • + 01 (một) tập giấy có kẹp 06 (sáu) tờ giấy kích thước khác nhau trên các trang giấy có nhiều chữ và số;
  • + 01 (một) tờ giấy có ghi chữ “Chi tiết nhận tiền từ ô Lường”;
  • + 01 (một) tờ giấy có ghi chữ “GIẤY XÁC NHẬN CÔNG NỢ” có kẹp một tờ lịch “thứ 6 ngày 29 tháng 2 năm Ất mùi 2015 tháng Kỷ mão”;
  • + 01 (một) tập giấy bên ngoài có ghi nội dung “Giấy uỷ quyền đòi nợ và nhận tiền nợ”, gồm có 06 tờ giấy;
  • + 01 (một) hợp đồng giao khoán về việc bóc lớp phủ Phi trường Quốc tế Long Thành số 26/HĐGK-TĐ ngày 18/01/2011 của Công ty cổ phần Đ2, gồm 04 tờ;
  • + 01 (một) tập giấy bên ngoài có ghi nội dung “Giấy uỷ quyền đòi nợ và nhận tiền nợ”, gồm có 02 tờ giấy;
  • + 01 (một) tập giấy có ghi nội dung “ĐƠN THƯA KIỆN”, gồm 03 tờ;
  • + 03 (ba) tờ phiếu thu đề ngày 06/6/2012 của Ngân hàng S;
  • + 01 (một) tập giấy có ghi nội dung “Giấy vay tiền”, gồm 05 tờ;
  • + 01 (một) tập giấy gồm 07 tờ trên các tờ có ghi nhiều chữ và số.

[8] Các nội dung khác của vụ án:

Trong quá trình điều tra, ông Hạ Sỹ L còn tố giác, khoảng tháng 3/2012 Tô Quang H2 và Vũ Văn T3, sinh năm 1980, HKTT K, phường Đ, thành phố Hà Nội

7

còn có hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng) của ông L; Ông Ô Kim C1, sinh năm 1962, trú tại thôn N, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn tố giác Tô Quang H2 lừa đảo chiếm đoạt số tiền 200.000.000 đồng của ông C1 và ông Ma Thế T4, sinh năm 1964, trú tại thôn T, xã T, huyện B tố giác Tô Quang H2 lừa đảo chiếm đoạt số tiền 203.000.000 đồng của ông T4 thông qua việc góp vốn vào dự án làm vàng tại xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Tuy nhiên, quá trình điều tra không có tài liệu, chứng cứ chứng minh các nội dung tố giác nêu trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý trong vụ án này.

Đối với Vũ Văn T3, sinh năm 1980, HKTT K, phường Đ, thành phố Hà Nội. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định T3 không liên quan đến việc lừa đảo chiếm đoạt số tiền 1.200.000.000₫ (một tỷ, hai trăm triệu đồng) của ông Hạ Sỹ L nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với T3 là có căn cứ.

Đối với Vũ Ngọc Á, sinh năm 1973, HKTT tổ dân phố số A, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội. Theo lời khai của Tô Quang H2 thì sau khi nhận số tiền 1.200.000.000đ (một tỷ, hai trăm triệu đồng) từ ông Hạ Sỹ L, H2 đã đưa cho Á số tiền 1.000.000.000 đồng để lo chạy dự án cho ông L. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra Á khẳng định không quen biết Tô Quang H2 và không được nhận số tiền nêu trên từ H2 để chạy dự án cho ông L. Do đó, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xem xét xử lý đối với Á trong vụ án này, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau.

Đối với người đàn ông tên Lê Đức H3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Quá trình điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét, xử lý.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng điều luật, tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt chính và xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Tô Quang H2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm m, p khoản 1 khoản 2 Điều 46; Điều 20, 33, 53 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Tô Quang H2 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 20/10/2023.

Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Không phạt tiền đối với bị cáo Tô Quang H2.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Điều 42 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Điều 76 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 .

Lưu theo hồ sơ vụ án các tài liệu bao gồm: 01 (một) phong bì màu vàng bên ngoài có ghi “Hồ sơ gốc nợ” bên trong chứa; 01 (một) tập giấy bên trong có 02 (hai) tờ lịch ghi ngày 23/5/2014 và ngày 10/3/2014; 01 (một) tập giấy có kẹp 06 (sáu) tờ giấy kích thước khác nhau trên các trang giấy có nhiều chữ và số; 01 (một) tờ giấy có ghi chữ “Chi tiết nhận tiền từ ô Lường”; 01 (một) tờ giấy có ghi chữ “GIẤY XÁC NHẬN CÔNG NỢ” có kẹp một tờ lịch “thứ 6 ngày 29 tháng 2 năm Ất mùi 2015 tháng Kỷ mão”; 01 (một) tập giấy bên ngoài có ghi nội dung “Giấy uỷ quyền đòi nợ và nhận tiền nợ”, gồm có 06 tờ giấy; 01 (một) hợp đồng giao khoán về việc bóc lớp phủ Phi trường Quốc tế Long Thành số 26/HĐGK-TĐ ngày 18/01/2011 của Công ty cổ phần Đ2, gồm 04 tờ; 01 (một) tập giấy bên ngoài có ghi nội dung “Giấy uỷ quyền đòi nợ và nhận tiền nợ”, gồm có 02 tờ giấy; 01 (một) tập giấy có ghi nội dung “ĐƠN THƯA KIỆN”, gồm 03 tờ; 03 (ba) tờ phiếu thu đề ngày 06/6/2012 của Ngân hàng S; 01 (một) tập giấy có ghi nội dung “Giấy vay tiền”, gồm 05 tờ; 01 (một) tập giấy gồm 07 tờ trên các tờ có ghi nhiều chữ và số.

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Tô Quang H2 phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 – TANDTC;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Phòng Hồ sơ CA tỉnh;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh;
  • - Cục THADS tỉnh;
  • - THAHS;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ đồng thời là NLC;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu: Hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Đình Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS - ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 32/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong năm 2011 bị cáo Tô Quang H không có khả năng, quyền hạn trong việc xin cấp phép dự án khai thác khoáng sản tại tỉnh Bắc Kạn, nhưng bị cáo đưa ra thông tin gian dối và hứa hẹn sẽ xin được dự án nạo vét lòng suối Ma Nòn, Ma Nu (nhằm tận thu vàng) thuộc xã Thượng Quan, huyện N cho bị hại là ông Hạ Sỹ L để chiếm đoạt số tiền 1.200.000.000đ (một tỷ, hai trăm triệu đồng) của ông Hạ Sỹ L. Cụ thể. Lần thứ nhất: Vào ngày 20/9/2011, Tô Quang H1 đưa ông L đến khách sạn Kim Liên, thành phố Hà Nội để gặp bị cáo H, tại đây ông L trực tiếp đưa cho bị cáo H số tiền 980.000.000đ (Chín trăm, tám mươi triệu đồng). Lần thứ hai: Vào ngày 21/11/2011, ông L trực tiếp đưa cho Tô Quang H1 số tiền 220.000.000đ (Hai trăm, hai mươi, triệu đồng), sau đó H1 đã đưa số tiền này cho bị cáo H tại khách sạn Kim Liên, thành phố Hà Nội.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger