Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGÂN SƠN

TỈNH BẮC KẠN

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày: 12-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Út Lệ

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Văn Sín

Ông Lý Văn Trường

- Thư ký phiên tòa: Bà La Quỳnh Anh - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nông Thiêm Mẫn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nông Văn H, (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 09 tháng 10 năm 1986 tại huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Khu C, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nông Văn G, sinh năm 1959 và bà Nông Thị C, sinh năm 1963; Bị cáo có vợ là Quách Thị Q, sinh năm 1986 và 01 con, sinh năm 2009.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 30/5/2024 đến ngày 07/6/2024 thì chuyển biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang được tại ngoại tại Khu C, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Quách Thị Q, sinh năm 1986; Nghề nghiệp: Lao động tự do - Địa chỉ: Khu C, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau

Hồi 12 giờ 30 phút ngày 30/5/2024 tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch tổ chức xét nghiệm chất ma túy trên địa bàn xã B, huyện N khi đến nhà của Nông Văn H tại Khu C, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn thấy H đang ngồi tại ghế trong phòng khách. H khai nhận là vừa sử dụng xong ma túy và tự nguyện giao nộp 01 gói chất bột màu trắng dạng cục và bột được gói bằng một mảnh ni lon màu hồng để tại lỗ thủng khung gỗ mặt bàn trong phòng khách, H trình bày là ma túy loại heroine. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H, thu giữ gói ma túy (niêm phong trong phong bì ký hiệu H2) và tạm giữ số tiền 970.000 đồng để tại túi quần đằng trước bên phải của H đang mặc (niêm phong trong phong bì ký hiệu C2). Ngoài ra không thu giữ, tạm giữ gì thêm, sau đó đưa người cùng tang vật về trụ sở Công an huyện để làm việc.

Hồi 15 giờ 50 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tiến hành khám xét chỗ ở và các công trình phụ cận có liên quan của H. Kết quả khám xét, thu giữ 01 chiếc cân điện tử, màu đen, trên bề mặt có chữ POCKET SCALE, cũ đã qua sử dụng để ở trong khe tường góc trong cùng phía bên trái nhìn từ cửa phòng vệ sinh (niêm phong trong phong bì ký hiệu M1); 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Redmi, có ốp lưng bằng nhựa bị úa vàng, cũ đã qua sử dụng, thu giữ ở trên mặt bàn uống nước trong phòng khách (niêm phong trong phong bì ký hiệu M2); Số tiền 1.000.000 đồng, thu giữ tại túi quần bò phía sau bên phải treo ở giá quần áo trong phòng ngủ của H (niêm phong trong phong bì ký hiệu M3), người ra không thu giữ gì thêm.

Hồi 18 giờ 05 phút ngày 30/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N tiến hành mở, đóng niêm phong và cân xác định khối lượng số chất màu trắng dạng cục, bột trong phong bì ký hiệu H2 niêm phong trong phong bì ký hiệu T1 để gửi giám định. Tại Kết luận giám định số 189/KL-KTHS ngày 05/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu T1 là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,17g (không phẩy một bảy gam).

Quá trình điều tra H khai nhận: Khoảng 00 giờ 00 phút sáng ngày 30/5/2024, H một mình điều khiển xe mô tô từ nhà ở thôn K, xã B đi theo đường QL 3 lên thôn P, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực thôn P thì gặp 01 người đàn ông (không biết họ tên, tuổi, địa chỉ) trông giống người nghiện nên H hỏi mua ma túy thì được người đàn ông đó đồng ý bán cho, H để số tiền 300.000 đồng ở cọc tiêu ven đường QL 3, rồi người đó chỉ chỗ để 01 gói ma túy cho H lấy. Sau khi mua được ma túy H cầm ma túy bằng tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà và cất ma túy ở lỗ thủng khung gỗ mặt bàn ở phòng khách. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày H lấy một ít ma túy ra sử dụng, số còn lại cất vào vị trí cũ. Sau khi sử dụng xong thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện, lập biên bản.

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS-NS, ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố bị cáo Nông Văn H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử lý bị cáo như sau:

* Về trách nhiệm hình sự:

- Về hình phạt chính: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ.

- Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy (H) hoàn lại sau khi giám định, mảnh nilon cũ, phong bì niêm phong cũ có trong các phong bì niêm phong ký hiệu T115, T2, Q1; Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 cân điện tử, 01 điện thoại có trong phong bì ký hiệu M1, M2; Tạm giữ số tiền 1.970.000 đồng để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo khai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố và nhất trí với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên; Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận. Lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo

Tại phiên tòa, bị cáo Nông Văn H khai nhận: Do nghiện ma túy nên ngày 30/5/2024, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) gói ma túy (Heroine) có tổng khối lượng 0,17g (không phẩy mười bảy gam) tại lỗ thủng khung gỗ mặt bàn trong phòng khách của nhà bị cáo mục đích sử dụng cho bản thân và đã bị tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn phát hiện bắt quả tang, tiến hành thu giữ toàn bộ tang vật.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 30 phút, ngày 30/5/2024; biên bản khám xét lập hồi 15 giờ 50 phút ngày 30/5/2024; biên bản mở đóng niêm phong, cân xác định khối lượng chất màu bột trắng nghi là chất ma túy và gửi mẫu giám định ngày 30/5/2024; phù hợp với Kết luận giám định số 189/KL-KTHS ngày 05/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B; phù hợp với các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị can và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không có mâu thuẫn, không làm phát sinh tình tiết, chứng cứ mới.

Vì vậy, có đầy đủ cơ sở kết luận hành vi của Nông Văn H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Điều luật có nội dung:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine........ có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”

[3] Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng do ý thức coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng đạo đức, lối sống, bị cáo đã nghiện ma túy và đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,17 gam (không phẩy mười bảy gam) ma túy (Heroine).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông, buôn bán ma túy, là nguyên nhân làm lây lan, phát sinh nhiều tệ nạn nguy hiểm xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn quyết định truy tố bị cáo trước Tòa án để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng quy định của pháp luật, đúng với diễn biến khách quan của vụ án, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo có ông nội là Nông Công T, ông ngoại là Nông Văn K được Nhà nước tặng thưởng huân, huy chương và có bác ruột là Nông Công  là liệt sỹ. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Từ những nhận định trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Đề nghị mức hình phạt của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có việc làm, thu nhập ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng.

[6] Về xử lý vật chứng trong vụ án:

Số ma túy (Heroine) hoàn lại sau khi giám định, mảnh nilon cũ và phong bì niêm phong cũ là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với một chiếc cân điện tử và một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi bị tạm giữ là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội xét cần trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị cáo không đề nghị lấy lại nên cần tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 1.970.000 đồng, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Quách Thị Q (vợ bị cáo) đều khai nhận là tài sản chung của vợ chồng, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó cần trả lại cho bị cáo và bà Q. Tuy nhiên, cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

[7] Các vấn đề liên quan trong vụ án:

Đối với người đàn ông theo bị cáo khai nhận được bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 97F7-8251 qua điều tra xác định được chiếc xe là tài sản của bà Q (vợ của bị cáo) mua trước khi kết hôn. Quá trình bị cáo sử dụng xe vào việc đi mua ma túy bà Q không biết nên không có căn cứ để xử lý đối với bà Q. Cơ quan điều tra không tạm giữ đối với chiếc xe là có căn cứ.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)

    Xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 30/5/2024 đến ngày 07/6/2024.

  2. Về xử lý vật chứng trong vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
    1. Tịch thu tiêu hủy:
      • 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T115.
      • 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T2.
      • 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu Q1.
    2. Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách nhà nước:
      • 01 (một) cân điện tử có trong 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M1.
      • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi có trong 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2
    3. Tạm giữ số tiền 1.970.000đ (Một triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng) có trong 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu Q2 để đảm bảo thi hành án cho bị cáo. Sau khi thi hành xong các khoản phải thi hành, số tiền còn lại trả cho bị cáo Nông Văn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Quách Thị Q, sinh năm 1986 - Địa chỉ: Khu C, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

      (Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 21/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngân Sơn).

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

    “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

  4. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười năm ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNV liên quan;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Út Lệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger