Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày 12 - 06 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tuấn

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thanh Hải

2. Ông Vũ Văn Hoàn

-Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Ngô Thuý Vi - Thư ký, Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ tham gia phiên toà: Bà Ma Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 12 tháng 06 năm 2024 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLHS-ST, ngày tháng 05 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 14/12/1983; Nơi cư trú và đăng ký HKTT: Xóm H, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Bố đẻ: Lý Văn B, sinh năm 1951; Mẹ đẻ: Triệu Thị Đ, sinh năm 1952; Bị cáo có vợ: Triệu Thị H, sinh năm 1990; Con: 03 con (con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2016); Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại:

  1. Chị Phan Thị B1, sinh năm 1973. (Vắng mặt)
  2. Chị Nghiêm Thị T1, sinh năm 1992. (Vắng mặt)

Đều trú tại: Xóm S, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Triệu Hữu M – sinh năm 1987. (Vắng mặt).

Trú tại: Xóm S, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

* Người làm chứng:

Chị Đặng Thị N, sinh năm 1980. (Vắng mặt)

Trú tại: Xóm S, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 23/9/2023, Lý Văn T (có giấy phép lái xe theo quy định), sau khi uống rượu xong, một mình điều khiển xe môtô BKS: 20B1-174.17 đi trên đường liên xã theo hướng xã V đi thị trấn T. Khi đến đoạn đường thuộc xóm C, xã C, thì phát hiện khoảng 10m phía ngược chiều có 01 xe môtô BKS: 29L1-344.35, do chị Nghiêm Thị T1 (sinh năm: 1992 trú tại xóm S, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) điều khiển, phía sau chở chị Phan Thị B1 (sinh năm 1973) cùng địa chỉ với T1 và bị chói mắt do đèn của chị T1 nên đã đi sang phần đường bên trái theo chiều đi của mình, khiến bánh trước xe mô tô của T đâm va vào phần đầu xe bên phải xe môtô của chị T1 gây tai nạn. Hậu quả: T, B1, T1 bị thương tích được mọi người đưa đi viện cấp cứu, điều trị, 2 xe mô tô bị hư hỏng nhẹ.

Sau khi xảy ra vụ tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm các phương tiện có liên quan, kết quả như sau:

Biên bản khám nghiệm hiện trường xác định: Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, mặt đường phẳng trải nhựa rộng 3,52m, sát hai bên mép đường là lề đất; lề đường bên phải theo hướng thị trấn T đi xã V rộng 0,9m; lề đường bên trái rộng 1,1m. Lấy mép đường bên phải theo hướng thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đi xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên làm mép đường chuẩn; lấy cột điện số 12.1 TBA Cây Thị 5 phía trong lề đường chuẩn làm mốc cố định. Tại đoạn đường xảy ra tai nạn không phát hiện có biển báo hiệu giao thông.

Xe môtô BKS: 20B1-174.17 đổ nghiêng bên trái, trên mặt đường và phần lề đường phải theo hướng thị trấn T, huyện Đ đi xã V, huyện Đ, đầu xe quay hướng đi thị trấn T và lề đường bên trái theo chiều đi thị trấn T, đuôi xe quay hướng đi xã V và phía trong lề đường chuẩn; tâm trục bánh lốp trước của xe nằm trên mép đường chuẩn; đo từ tâm trục bánh lốp sau của xe đến mép đường chuẩn là 0,7m; đo từ tâm trục bánh lốp trước của xe đến điểm mốc cố định (cột điện 1.12 TBA Cây Thị 5) là 13,1m và đo đến điểm đầu đoạn đường cong trái về phía đi thị trấn T là 15,5m. Trên lề đường chuẩn phát hiện vết cầy xước lề đất KT (0,22 x 0,15) m, có chiều từ mép đường vào phía trong lề đường chạy đến đầu của giá để chân trước bên trái xe môtô BKS: 20B1-174.17, đo từ điểm đầu của vết đến mép đường chuẩn là 0,23m.

Xe môtô nhã hiệu HONDA-WAVE gắn BKS 29L1-344.35 đổ nghiêng bên trái trên mặt đường, đầu xe quay hướng đi xã V, đuôi xe quay hướng đi thị trấn T. Đo từ tâm trục bánh lốp trước của xe đến mép đường chuẩn là 1,18m; đo từ tâm trục bánh lốp sau của xe đến mép đường chuẩn là 1,54m và đo đến tâm trục bánh lốp trước xe môtô BKS 20B1-174.17 là 1,5m. Trên mặt đường phát hiện vết cầy xước mặt đường dài 0,13m có điểm cuối nằm tại vị trí đầu để chân trước bên trái của xe môtô gắn BKS 29L1-344.35, đo từ điểm đầu của vết đến mép đường chuẩn là 1,4m. Tại vị trí phía sau môtô gắn BKS 29L1-344.35 trên mặt đường có vùng máu KT (0,95x0,29)m, đo từ tâm vùng máu đến mép đường chuẩn là 2,66m và đo đến tâm trục bánh lốp sau xe môtô gắn BKS 29L1- 344.35 là 0,33m.

- Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông xác định: Xe mô tô BKS: 20B1-17417: Lốp trước, xăm xe bị tuột khỏi vành xe. Vành bánh trước bị lực tác động làm cong gập có chiều từ ngòai vào trong tâm trục, kích thước (20x60)cm, vị trí vành cong gập làm cong xô lệnh 4 nan hoa, điểm gần nhất của dấu vết cong gập vành xe cách chân van là 20 cm tính theo chiều quay lại của bánh xe. Nửa đầu chắn bùn bánh trước có dấu vết trượt xước, kích thước (37x18)cm, dấu vết có chiều từ trước về sau xe, điểm thấp nhất của vết cao cách mặt đất 49,5cm. Mặt trước phần dưới của giảm sóc bên phải bánh trước có dấu vết trượt xước kim loại, kích thước (3,5 x 1,5)cm, dấu vết có chiều từ trước về sau, điểm thấp nhất của dấu vết cao cách mặt đất 18cm. Mặt ngoài của giảm sóc bên phải bánh lốp trước có dấu vết tì trượt, bám dính vật chất màu đen, kích thước (19 x 1,5)cm, dấu vết có chiều từ trước về sau, điểm thấp nhất của dấu vết cao cách mặt đất 29cm. Ốp nhựa mặt nạ đầu xe có vùng trượt xước kích thước (19,5 x 10)cm, dấu vết có chiều từ trước về sau, điểm thấp nhất của dấu vết cao cách mặt đất 65,5cm. Cánh yếm bên phải xe có vùng dấu vết trượt xước nứt vỡ, kích thước (64 x 24)cm, dấu vết có chiều từ trước về sau, điểm thấp nhất của dấu vết cao cách mặt đất 17cm, điểm cao nhất của dấu vết cao cách mặt đất 80cm. Tay phanh bên phải bị gẫy điểm thấp nhất của vị trí gẫy cao cách mặt đất 95cm. Ốp nhựa đèn pha bị vỡ, rơi khỏi xe. Tay phanh bên phải bị gẫy. Để chân trước bên phải xe bị gẫy rời khỏi xe. Bàn đạp chân phanh bị bung rơi chốt cố định.

Xe mô tô BKS: 29L1-34435: Mặt trước phần dưới của giảm sóc bên phải bánh trước có dấu vết trượt xước kim loại, bám dính vật chất màu đen, kích thước (08 x 04) cm, dấu vết có chiều từ trước về sau, từ trái sang phải xe. điểm cao nhất của dấu vết cao cách mặt đất 25,5cm. Mặt ngoài của giảm sóc bên phải bánh lốp trước có dấu vết tì trượt sạch bụi bẩn, bám dính vật chất màu đen kích thước (18 x 2,25) cm, dấu vết có chiều từ trước về sau, điểm thấp nhất của dấu vết cao cách mặt đất 29cm. Má lốp bên phải bánh lốp trước và cách vành tiếp giáp có vùng dấu vết móp méo kim loại, kích thước (3x1) cm. Phần bên phải của nửa đầu chắn bùn bánh lốp trước có vùng trượt xước, bám dính vật chất màu đỏ, kích thước (34 x 16) cm, dấu vết có chiều từ trước về sau, điểm thấp nhất của dấu vết cao cách mặt đất 53cm. Ốp nhựa phần mặt nạ đầu xe bị nứt vỡ kích thước (25 x 13)cm, dấu vết có chiều từ trước về sau, điểm thấp nhất của dấu vết cao cách mặt đất 71,5cm. Toàn bộ cánh yếm bên phải xe bị nứt vỡ rời khỏi xe, điểm thấp nhất của dấu vết cao cách mặt đất 21cm. Mặt gương chiếu hậu bên phải bị trượt khỏi tay gương. Mặt ngoài buồng máy bên phải có vết tì trượt, bám dính vật chất màu đỏ, kích thước (12 x 11)cm điểm thấp nhất của dấu vết cao cách mặt đất 26cm. Để chân phanh bị lực tác động theo chiều từ trước về sau. Để chân trước bên phải bị gãy rời khỏi xe, để chân trước bên trái xe có dấu vết trượt xước.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 987 ngày 23/11/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh T, đối với Lý Văn T kết luận: Gãy xương hàm bên phải, hiện có 03 sẹo phần mềm vùng mặt kích thước nhỏ và 03 sẹo phần mềm kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên hiện tại là 19%.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã hộ trợ tiền viện phí và bồi thường thương tích cho chị T1 10.000.000đ, chị B1 15.000.000đ. Phần dân sự đã giải quyết xong.

Vật chứng của vụ án:

  • Xe môtô BKS: 20B1-174.17 hiện đã trả cho chủ sở hữu là Lý Văn T quản lý, sử dụng;
  • Xe môtô nhãn hiệu HONDA WAVE, gắn BKS: 29L1-344. Hiện đang được bảo quản theo quy định chờ xử lý;
  • 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Lý Văn Thắng do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 12/4/2017 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 032287, được chuyển theo hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSĐH ngày 26 tháng 04 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ truy tố bị cáo Lý Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Do đó,Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo thể hiện qua bản cáo trạng và đề nghị mức hình phạt như sau: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lý Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260 BLHS; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử bị cáo mức án 36 tháng tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định.

Trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong, các bên không có yêu cầu đề nghị gì nên không xem xét.

Vật chứng: Xe môtô BKS: 20B1-174.17 hiện đã trả cho chủ sở hữu là Lý Văn T quản lý, sử dụng; 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Lý Văn Thắng do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 12/4/2017 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 032287. Quá trình chuẩn bị xét xử đã trả lại cho bị cáo Lý Văn Thắng tại quyết định xử lý vật chứng số 02/2024/ QĐ-TA ngày 10/05/2024.

Đề nghị áp dụng 46; 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Hoàn trả anh Triệu Hữu M 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA WAVE, gắn BKS: 29L1-344.35 do không có đủ căn cứ xác định vi phạm của anh M.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Trong lời nói sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và bị truy tố, xét xử là không oan, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương bởi bị cáo hoàn cảnh của gia đình hiện rất khó khăn trực tiếp chăm sóc ba con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tại phiên tòa hôm nay, các bị hại chị T1, chị B1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh M có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra họ đã có đầy đủ lời khai, phần bồi thường trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với những người trên.

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ nào theo quy định của pháp luật; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị cáo Lý Văn T thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ đã truy tố đối với bị cáo là đúng, không oan. Lời khai nhận tội của bị cáo là khách quan phù hợp với biên bản hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định pháp y, vật chứng, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 23/9/2023, tại đoạn đường liên xã thuộc xóm C, xã C, huyện Đ (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe môtô BKS: 20B1-174.17 trong tình trạng đã uống rượu đi hướng xã V đi thị trấn T nên đã đi sang phần đường bên trái theo chiều đi của mình, đâm va với xe môtô BKS: 29L1-344.35 do chị Nghiêm Thị T1 (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển, phía sau chở chị Phan Thị B1 đi ngược chiều gây tai nạn. Hậu quả: T bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 19%, chị B1 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 57%, chị T1 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 26%, 2 xe mô tô bị hư hỏng nhẹ. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của B1T1 là 83%.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 988 ngày 28/11/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh T, đối với chị Phan Thị B1 kết luận: Vỡ xương vòm sọ, tổn thương nhu mô não, tụ máu dưới màng cứng, xuất huyết dưới nhện, gãy các thành xoang hàm bên phải, gãy thành ngoài ổ mắt, gãy cung tiếp bên phải, hiện tại có 01 sẹo phần mềm vùng mặt kích thước nhỏ và 02 sẹo phần mềm kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên hiện tại là: 57%.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 997 ngày 04/12/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh T, đối với chị Nghiêm Thị T1 kết luận: Gãy 1/3 dưới hai xương cẳng tay phải, gãy mỏm trâm trụ căng tay phải, hiện tại có 01 sẹo phần mềm KT lớn, 01 sẹo phần mềm kích thước trung bình và 03 sẹo phần mềm kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên hiện tại là: 26%.

Tại kết quả xét nghiệm định lượng cồn trong máu của Bệnh viện T3 ngày 24/9/2023 đối với Lý Văn T, kết luận là: 35.90mmol/L.

Hành vi của Lý Văn T đã vi phạm khoản 8 Điều 8, Điều 9 Luật Giao thông đường bộ, cụ thể:

Điều 8 Các hành vi bị nghiêm cấm

“1...

8. Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong ... hơi thở có nồng độ cồn”.

Điều 9. Quy tắc chung

“1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ ...”

Hành vi nêu trên của Lý Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật như sau:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) ...

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong ... hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định...”

Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra theo điều luật nói trên.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý nhưng đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại về sức khoẻ của người khác nên cần phải xử mức án tương ứng với mức độ, hậu quả hành vi phạm tội đối với bị cáo.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy:

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan Điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi sự việc xảy ra đã tự nguyện bồi thường khắc phục bồi thường toàn bộ hậu quả cho gia đình các bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, các bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, chị T1 cũng có một phần lỗi khi điều khiển phương tiện nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 BLHS.

Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội với lỗi vô ý, là người dân tộc thiểu số hiểu biết pháp luật hạn chế, sống vùng sâu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có đơn xin cải tạo tại địa phương được chính quyền xác nhận. Hội đồng xét xử thấy rằng không cần cách ly bị cáo khỏi xã hội mà có thể áp dụng Điều 65 BLHS, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Cho bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong và không có đề nghị gì. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vật chứng của vụ án:

Xe môtô BKS: 20B1-174.17 quá trình điều tra đã trả cho chủ sở hữu là Lý Văn T quản lý, sử dụng; Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Lý Văn Thắng do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 12/4/2017 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 032287, được chuyển theo hồ sơ vụ án. Quá trình chuẩn bị xét xử đã trả lại cho bị cáo Lý Văn Thắng tại quyết định xử lý vật chứng số 02/2024/ QĐ-TA ngày 10/05/2024 (có biên bản bàn giao riêng) do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Áp dụng: Điều 46; 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Đối với Xe môtô nhãn hiệu HONDA WAVE, gắn BKS: 29L1-344.35. Xét thấy, đây là chiếc xe do anh Triệu Hữu M chồng chị Nghiệm Thị T2 mua lại của một người không quen biết vào khoảng tháng 04/2018 thời điểm mua không có giấy chứng nhận đăng ký và sử dụng từ đó đến nay, ngày 23/9/2023 anh M đi làm để chiếc xe tại nhà thì vợ anh là chị T2 đi và bị tai nạn anh không biết nay anh xin lại chiếc xe trên để đi lại. Quá trình điều tra thấy số máy, số khung, biển kiểm soát có đấu hiệu không đúng nguyên thuỷ nên Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định thì tại bản kết luận giám định số 139/KL-KTHS ngày 05/01/2024 và kết luận giám định số 211/KL-KTHS ngày 17/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: biển kiểm soát 29L1-344.35 không phải do cùng khuôn dập do Công an thành phố H cung cấp, số máy, số khung bị tẩy xoá cơ học không tìm được số máy, số khung nguyên thuỷ. Do đó, không có đủ căn cứ xác định vi phạm của anh M, anh M có đơn xin lại chiếc xe nên cần trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Triệu Hữu M quản lý là phù hợp quy định.

Đối với chị Nghiêm Thị T1 (sinh năm: 1992 trú tại xóm S, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) điều khiển xe môtô biển kiểm soát 29L1-344.35 không có giấy phép lái xe theo quy định phía sau chở chị Phan Thị B1 (sinh năm 1973) cùng địa chỉ với T1 nên Công an huyện Đ đã xử phạm hành chính đối với vi phạm trên là phù hợp quy định của pháp luật.

Với phân tích trên, xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lý Văn T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi tháng) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lý Văn T cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 46; 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho anh Triệu Hữu M 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA WAVE, gắn biển kiểm soát 29L1-344.35 không phải do cùng khuôn mẫu dập ra, không xác định được số máy, số khung (Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao vật chứng ngày 04/05/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ).

Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại chị T1, chị B1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh M vắng mặt có quyền kháng có bản án trọng hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhân:

  • - VKSND tỉnh và huyện Đồng Hỷ;
  • - Công an huyện Đồng Hỷ;
  • - Chi cục THADS huyện Đồng Hỷ;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên
  • - UBND xã Cây Thị;
  • - Bị cáo, bị hại, người liên quan
  • - Lưu: Hồ sơ, bộ phận Hình sự .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Quang Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: : Bị cáo Lý Văn Thắng phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lý Văn Thắng 36 (Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi tháng) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger