Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRỰC NINH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 32/2024/HS -ST

Ngày: 11 - 06 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Thái Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Chuyết

Ông Trương Quốc Khánh

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thanh Hiếu - Thư ký TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 06 năm 2024 tại Trụ sở TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 05 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Vũ Văn H; tên gọi khác: Không; Sinh năm 1973 tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT, cư trú: Xóm A, xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Văn T (đã chết); con bà: Lê Thị R ; Vợ: Vũ Thị H1; Có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 1999. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 09/01/2004, TAND tỉnh Nam Định xử 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đến ngày 25/9/2005 chấp hành xong hình phạt và các Quyết định của Bản án.

Ngày 13/7/2009, TAND tỉnh Hà Nam xử 36 tháng tù, phạt tiền bổ sung 2.000.000 đồng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đến ngày 07/10/2011 25/9/2005 chấp hành xong hình phạt và các Quyết định của Bản án.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2024, bị tạm giam từ ngày 25/01/2024 đến nay.(Có mặt)

2. Phạm Văn T1; tên gọi khác: Không; Sinh năm 1971 tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT: Thôn X, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Thôn X, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Hữu R1 ; con bà: Bùi Thị K (đã chết) ; Vợ: Nguyễn Thị H2 ; Có 03 con, con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 2004. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 06/3/2014, Toà án nhân dân huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định xử 30 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đến ngày 12/01/2016 chấp hành xong hình phạt và các Quyết định của Bản án.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2024, bị tạm giam từ ngày 25/01/2024 đến nay. (Có mặt).

Người làm chứng: Anh Đoàn Mạnh H3, A Vũ Đình T2. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 16/01/2024, Vũ Văn H đến nhà Phạm Văn T1. Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nhưng không biết địa điểm mua ma túy nên H rủ T1 đi mua ma túy để cả hai cùng sử dụng. T1 đồng ý. Trước khi đi, T1 lấy dưới chiếu giường ngủ của mình 01 bơm kim tiêm nhựa, 01 ống Novocain cất vào trong túi quần để khi mua được ma túy sẽ dùng để sử dụng bằng hình thức tiêm chích. T1 lấy xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 18K1-316.12 chở H đi theo đường D ra Quốc lộ B rồi xuống đường đê xã V, huyện T để tìm mua ma tuý. Khi đến gần cầu L, T1 dừng xe bảo H đưa tiền và xuống đứng đợi để T1 đi mua ma tuý. Hánh đưa cho T1 300.000 đồng. T1 đi xe máy đến đoạn đường đê dưới gầm cầu L thì gặp một người đàn ông không quen biết,T1 đi đến hỏi và mua của người này 03 gói Heroin với giá 300.000 đồng và đi xe quay lại chỗ H đang đứng đợi. T1 bảo H xuống bờ đê để cùng sử dụng ma túy. T1 dựng xe máy trên đường đê rồi cùng H đi bộ xuống bờ đê T1 lấy trong người ra 01 bơm kim tiêm nhựa, 01 ống Novocain là dụng cụ để cả hai sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: Thu trên nền đất ngay chỗ T1 đứng 03 gói giấy nhỏ màu trắng bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng đã tiến hành niêm phong (ký hiệu M), T1 và H khai đó là H4, T1 vừa mua để cả hai sử dụng; 01 bơm kim tiêm nhựa; 01 ống Novocain đều chưa qua sử dụng. Ngoài ra còn tạm giữ 01 xe máy nhãn hiệu Hon da Airblade, biển số 18K1-316.12.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Văn H và Phạm Văn T1 thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Bản kết luận giám định số: 327/GĐKTHS, ngày 19/01/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh N đã kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong 03 gói giấy nhỏ màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định đều là ma túy, loại ma túy: Heroine. Tổng khối lượng mẫu M là 0,191 gam.

Cáo trạng số 26/CT - VKS - TN ngày 23 tháng 04 năm 2024 của VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã truy tố các bị cáo Vũ Văn H và Phạm Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.

Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử :

Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn H và Phạm Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Các Điều 38; 58 BLHS xử phạt bị cáo Vũ Văn H từ 24 - 30 tháng tù.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 38; 58 BLHS xử phạt bị cáo Phạm Văn T1 từ 18 - 24 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a,c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy đã thu giữ của các bị cáo trong quá trình điều tra còn lại sau giám định.

Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Lời nói sau cùng các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải và xin HĐXX giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo sớm được đoàn tụ cùng gia đình, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đối với vụ án đều hợp pháp.

Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra người làm chứng đã có lời khai đầy đủ được lưu trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của BLTTHS.

[2] Về quan điểm của Đại diện VKS, các bị cáo tại phần thủ tục tranh luận: HĐXX thấy việc tranh luận, đối đáp đúng trình tự quy định của pháp luật, các bên đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình khi tranh tụng và đều giữ nguyên quan điểm tranh tụng. Quan điểm của các bên đã được HĐXX cân nhắc, đánh giá khi nghị án. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[3] Hành vi của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ trực tiếp xâm hại tới trật tự quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý - là quan hệ xã hội thuộc khách thể đã được BLHS ghi nhận và bảo vệ. Các bị cáo thừa nhận vật chứng mà Cơ quan CSĐT đã thu giữ là ma túy, các bị cáo tàng trữ để sử dụng. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại Cơ quan CSĐT.

Ngoài lời khai nhận tội của các bị cáo, hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang; Biên bản ghi lời khai người làm chứng; Kết luận giám định.

Từ những chứng cứ nêu trên - HĐXX nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận:

Hành vi tàng trữ trái phép 0,191 gam Heroin mục đích để sử dụng của Vũ Văn H, Phạm Văn T1 ngày 16/01/2024 đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - Tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 249 BLHS.

Ma tuý là một trong nguyên nhân phát sinh tình hình tội phạm, trực tiếp ảnh hưởng tới sức khoẻ, kinh tế của bản thân, của gia đình bị cáo và của toàn xã hội, là tệ nạn đã và đang bị toàn xã hội lên án mạnh mẽ. Chính vì thế Nhà nước - thông qua hệ thống pháp luật đã nghiêm cấm hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là hành vi vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

Vì vậy, để đảm bảo trật tự pháp luật, phòng ngừa chung tình hình tội phạm, việc áp dụng biện pháp trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là điều cần thiết.

Việc VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định truy tố các bị cáo Vũ Văn H, Phạm Văn T1 về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản Cáo trạng số 26/CT - VKS - TN ngày 23 tháng 04 năm 2024, là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo đã gây ra, xét nhân thân của các bị cáo, HĐXX thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tiếp tục cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo tác dụng giáo dục phòng ngừa chung tình hình tội phạm.

Trong vụ án này Vũ Văn H là người khỏi xướng, rủ rê và đưa tiền cho Phạm Văn T1 đi mua ma túy nên xếp vai trò số 1; Phạm Văn T1 là người chở Vũ Văn H, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma tuý và trực tiếp đi mua, tàng trữ ma tuý nên xếp vai trò thứ 2

[4] Về tình tiết tăng nặng TNHS: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo Điều 52 BLHS.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét tới tình tiết: Các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải - Để giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để vừa thể hiện tính nhân đạo, công bằng của pháp luật, vừa đảm bảo tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo.

Đối với bị cáo Phạm Văn T1 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, mắc bệnh AIDS, suy thận nặng đã phải phẫu thuật cắt một bên thận (Có xác nhận của chính quyền địa phương) cũng được xem xét giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 51BLHS.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là người nghiện ma túy, tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng, nên HĐXX thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về vật chứng của vụ án là những vật nhà nước cấm lưu hành, không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T1, Cơ quan CSĐT đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được là ai nên không có căn cứ xem xét.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Hon da Airblade, biển số18K1-316.12 là phương tiện T1 đã sử dụng để đi mua ma túy. Qua xác minh là tài sản của chị Nguyễn Thị H2, (là vợ T1). Ngày 16/01/2024, chị H2 để xe máy ở nhà, không biết việc T1 lấy chiếc xe máy để đi mua ma túy nên Cơ quan CSĐT đã trả lại chiếc xe máy trên cho chị H2. HĐXX xét thấy việc xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT là đúng theo quy định pháp luật nên không xem xét.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn H, Phạm Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt Vũ Văn H 21 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 01 năm 2024.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt Phạm Văn T1 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 01 năm 2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

Tuyên tịch thu tiêu huỷ: Toàn bộ số ma túy đã thu giữ của các bị cáo trong quá trình điều tra còn lại sau giám định đựng trong 01 bì thư số 327/KL - KTHS của Phòng KTHS - Công an tỉnh N; 01 bơm kim tiêm; 01 ống Novocain. (Vật chứng trên đây có đặc điểm như biên bản bàn giao giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Nam Định với Chi cục THADS huyện T, tỉnh Nam Định ngày 10 tháng 6 năm 2024).

3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Vũ Văn H, Phạm Văn T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo Vũ Văn H, Phạm Văn T1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND tỉnh Nam Định, huyện Trực Ninh;
  • - Công an huyện Trực Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Trực Ninh;
  • - UBND xã Đồng Sơn, huyện Trực Ninh
  • - UBND xã Nam Thanh, huyện Trực Ninh
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VP, Hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Thái Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger