TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2024/HSST
Ngày: 06/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Vũ Hải Dương
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Đắc Tỵ và ông Nguyễn Hữu Sinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Thị P; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 28/5/1975 tại: L - Hòa Bình; Nơi ĐKHKTT: khu A, thị trấn C, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên bố: Bùi Sỹ L (đã chết); Họ tên mẹ: Đinh Thị N, sinh năm 1945; có chồng là Nguyễn Văn H, sinh năm 1969; có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2005.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ tạm giam từ ngày 27/01/2024 đến ngày 04/3/2024. Hiện đang được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Chị Đỗ Thị Thu H1, sinh năm 1984. Nơi ĐKTT: khu A, thị trấn C, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt tại phiên tòa. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Chị Vũ Hồng T, sinh năm 1986. Nơi ĐKTT: thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt tại phiên tòa. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1985. Nơi ĐKTT: khu A, thị trấn C, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt tại phiên tòa. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Thị P là người không có giấy phép kinh doanh trong lĩnh vực cấp, cho vay tín dụng. Với hình thức cho vay tín chấp, không có tài sản đảm bảo, khi cho vay sẽ cắt lãi trước, hết thời hạn vay người vay phải trả toàn bộ tiền gốc hoặc gia hạn thêm thời gian vay. Từ tháng 8/2022 đến tháng 01/2024 Bùi Thị P đã cho Đỗ Thị Thu H1, Vũ Hồng T và Nguyễn Thanh T1 vay tổng số tiền là 2.090.000.000₫ (Hai tỷ không trăm chín mươi triệu đồng) với lãi suất từ 4.000 đồng/triệu/ngày đến 100.000 đồng/triệu/ngày tương ứng mức lãi suất từ 109,5%/năm đến 3650%/năm gấp từ 5,48 lần đến 182,5 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền lãi Bùi Thị P thu được là 190.880.000đ (một trăm chín mươi triệu, tám trăm tám mươi nghìn đồng), trong đó:
- Lãi được hưởng là 18.854.795đ (mười tám triệu, tám trăm năm mươi tư nghìn, bảy trăm chín mươi lăm đồng);
- Số tiền thu lợi bất chính là 172.025.205đ (một trăm bảy mươi hai triệu, không trăm hai mươi lăm nghìn, hai trăm linh năm đồng);
- Số tiền thực tế Bùi Thị P đã thu lợi bất chính là 166.545.205đ (một trăm sáu mươi sáu triệu, năm trăm bốn mươi lăm nghìn, hai trăm linh năm đồng).
Quá trình cho vay, thu nợ Bùi Thị P sử dụng số tài khoản 3009205115788 mở tại ngân hàng A1 hoặc số tài khoản 007223250048 mở tại Ngân hàng L2 để giao dịch chuyển tiền, thu nợ với người vay. Ngoài ra Bùi Thị P còn tự ghi chép sổ sách để thuận tiện cho việc theo dõi, quản lý sử dụng số tiền gốc, tiền lãi.
Quá trình điều tra xác định Bùi Thị P đã cho Đỗ Thị Thu H1, Vũ Hồng T và Nguyễn Thanh T1 vay cụ thể như sau:
1. Trường hợp số 1: Đỗ Thị Thu H1, sinh năm 1984. Nơi ĐKTT: khu A, thị trấn C, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Từ tháng 8/2022 đến tháng 10/2022 Bùi Thị P cho Đỗ Thị Thu H1 vay 02 lần:
- Lần thứ nhất: Ngày 04/8/2022 Bùi Thị P cho Đỗ Thị Thu H1 vay 1.000.000.000₫ (một tỷ đồng) với lãi suất 4.000đ/triệu/ngày (tương đương 146%/năm), thời gian vay 10 ngày. H1 đã trả cho P 1.000.000.000đ tiền gốc và 40.000.000đ tiền lãi.
Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, số tiền lãi được hưởng là 20%/năm của khoản tiền vay (tức là tiền gốc).
Số tiền lãi Bùi Thị P được hưởng của khoản vay này là:
1.000.000.000đ tiền gốc x 10 ngày vay x 20% : 365 = 5.479.452đ.
Số tiền Bùi Thị P thu lợi bất chính của khoản vay này là:
40.000.000₫ - 5.479.452d = 34.520.548₫.
- Lần thứ hai: Từ ngày 13/9/2022 đến ngày 21/10/2022 (40 ngày) Bùi Thị P cho Đỗ Thị Thu H1 vay 500.000.000₫ (năm trăm triệu đồng). Trong đó:
+ Từ ngày 13/9/2022 đến ngày 01/10/2022 (20 ngày) cho vay với lãi suất 4.400đ/triệu/ngày (tương đương 161%/năm). H1 đã trả cho P 44.000.000đ tiền lãi.
Số tiền lãi Bùi Thị P được hưởng là:
500.000.000đ tiền gốc x 20 ngày vay x 20% : 365=5.479.452d.
Số tiền Bùi Thị P thu lợi bất chính là:
44.000.000₫ - 5.479.452d = 38.520.548₫.
+ Từ ngày 02/10/2022 đến ngày 21/10/2022 cho vay với lãi suất 5.000đ/triệu/ngày (tương đương 183%/năm). Tổng số tiền lãi là 50.000.000đ, H1 đã trả cho P 45.000.000đ tiền lãi. Ngày 22/10/2021 cả hai thống nhất dừng trả lãi và chốt nợ còn 500.000.000đ tiền gốc và nợ 5.000.000đ tiền lãi.
Số tiền lãi Bùi Thị P được hưởng là:
500.000.000đ tiền gốc x 20 ngày vay x 20% : 365= 5.479.452đ.
Số tiền Bùi Thị P thu lợi bất chính là:
45.000.000₫ - 5.479.452đ + 5.000.000đ= 44.520.548đ. (Trong đó thực tế thu lợi bất chính là 39.520.548đ)
Số tiền lãi Bùi Thị P được hưởng của khoản vay này là:
5.479.452₫ + 5.479.452₫ = 10.958.904₫
Số tiền Bùi Thị P thu lợi bất chính của khoản vay này là:
44.520.548đ + 38.520.548₫ = 83.041.096₫
2. Trường hợp thứ 2: Chị Vũ Hồng T, sinh năm 1986. Nơi ĐKTT: thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Hòa Bình
Ngày 15/9/2022, Bùi Thị P cho Vũ Thị Hồng T2 vay 450.000.000đ (bốn trăm năm mươi triệu đồng) với lãi suất mức 100.000đ/triệu/ngày (tương đương 3650%/năm), thời gian vay 01 ngày. T2 đã trả cho P 450.000.000đ tiền gốc và 45.000.000đ tiền lãi.
Tổng số tiền lãi Bùi Thị P được hưởng của khoản vay này là:
450.000.000đ tiền gốc x 01 ngày vay x 20% : 365 = 246.575d.
Tổng số tiền Bùi Thị P thu lợi bất chính của khoản vay này là:
45.000.000₫ - 246.575đ = 44.753.425₫.
3. Trường hợp thứ 3: Từ tháng 3/2023 đến tháng 01/2024 Bùi Thị P cho Nguyễn Thanh T1 vay 03 lần, cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Ngày 25/3/2023 P cho T1 vay 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) với lãi suất 3000đ/triệu/ngày (tương đương 109,5%/năm), thời gian vay 30 ngày. T1 đã trả cho P 20.000.000đ tiền gốc và 1.800.000đ tiền lãi.
Số tiền lãi Bùi Thị P được hưởng của khoản vay này là:
20.000.000đ tiền gốc x 30 ngày vay x 20% : 365 = 328.767d.
Số tiền Bùi Thị P thu lợi bất chính của khoản vay này là:
1.800.000₫ - 328.767đ = 1.471.233₫.
- Lần thứ hai: Ngày 15/12/2023 P cho T1 vay 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) với lãi suất 3000đ/triệu/ngày (tương đương 109,5%/năm), thời gian vay 44 ngày. Tổng số tiền lãi là 5.280.000₫ T1 đã trả cho P 4.800.000đ tiền lãi, chưa trả tiền gốc và còn nợ 480.000đ tiền lãi.
Số tiền lãi Bùi Thị P được hưởng của khoản vay này là:
40.000.000đ tiền gốc x 44 ngày vay x 20% : 365 = 964.384đ.
Số tiền Bùi Thị P thu lợi bất chính của khoản vay này là:
4.800.000₫ - 964.384₫ + 480.000đ= 4.315.616₫.
- Lần thứ ba: Ngày 15/01/2024 P cho T1 vay 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng) với lãi suất 3000đ/triệu/ngày (tương đương 109,5%/năm), thời gian vay 20 ngày. T1 đã trả cho P 4.800.000đ tiền lãi và chưa trả tiền gốc.
Số tiền lãi Bùi Thị P được hưởng của khoản vay này là:
80.000.000đ tiền gốc x 30 ngày vay x 20% : 365 = 876.712d.
Số tiền Bùi Thị P thu lợi bất chính của khoản vay này là:
4.800.000₫ – 876.712d=3.923.288₫.
Trước Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình, Bùi Thị P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với vật chứng thu giữ, tài liệu thu thập được.
Vật chứng, tài liệu thu giữ gồm:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7 Plus, màu hồng, số IMEI: 353812082882086, máy cũ đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO F7, màu đỏ; Số IMEI 1: 869383035086354; lắp sim số: 0866792055, máy cũ đã qua sử dụng.
- 01 quyển sổ màu đỏ, bên trên bìa có chữ “Futurel”, kích thước 15 x 21cm;
- 01 quyển sổ nhiều màu sắc, bên trên bìa có chữ “Tuổi Ngọc”, kích thước 15,8 x 20,5cm;
- 01 tờ giấy có ghi “Giấy giao tiền nhà” lập ngày 09/12/2021 có chữ ký của: Bùi Thị P, Đinh Thùy D, Hoàng Thị L1;
- 01 tờ giấy có ghi “Giấy cam kết” lập ngày 06/12/2021 có chữ ký của: Bùi Thị P, Mai Công H2, Hoàng Thị L1, Đỗ Thị Thu H1;
- 01 thẻ ngân hàng A1, số thẻ: 9704050890723450, mang tên Bùi Thị P.
- 01 thẻ ngân hàng L3, số thẻ: 3571239062123523, mang tên Bùi Thị P.
Các vật chứng hiện đã được niêm phong đúng quy định và chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện L, bảo quản trong quá trình giải quyết vụ án.
Cáo trạng số 29/CT – VKS, ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình đã truy tố Bùi Thị P về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 của BLHS.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và không kêu oan.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan H1, T2, T1 vắng mặt tại phiên tòa. Lời khai của H1, T2, T1 có trong hồ sơ vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt thể hiện từ tháng 8/2022 đến tháng 01/2024 H1, Thúy T3 đã vay tiền của Bùi Thị P với lãi suất từ 4.000 đồng/triệu/ngày đến 100.000 đồng/triệu/ngày tương ứng mức lãi suất từ 109,5%/năm đến 3650%/năm gấp từ 5,48 lần đến 182,5 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thanh T1 có đơn đề nghị gửi Tòa án với nội dung đã được bị cáo P trả lại cho mình số tiền 9.230.137đ (chín triệu hai trăm ba mươi nghìn, một trăm ba mươi bảy đồng) tiền lãi bị cáo thu lợi bất chính, đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Chị Đỗ Thu H1, chị Vũ Hồng T2 không có yêu cầu, đề nghị gì đối với bị cáo. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giữ nguyên quyết định truy tố, tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Bùi Thị P phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
- Căn cứ khoản khoản 2 Điều 201; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 65 BLHS; xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo
- Phạt bổ sung bị cáo Bùi Thị P: 30.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điều 47, 48 BLHS và Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao. Đề nghị HĐXX:
Truy thu của bị cáo số tiền 1.488.854.795₫ sung quỹ nhà nước trong đó: Số tiền gốc mà bị cáo đã thu của những người vay là 1.470.000.000đ và số tiền lãi tương ứng mức lãi suất 20%/năm mà bị cáo đã thu được là 18.854.795đ.
Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền gốc mà những người vay chưa trả cho bị cáo cụ thể:
- + Truy thu của chị Đỗ Thị Thu H1 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng)
- + Truy thu của chị Nguyễn Thanh T1 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng)
Đối với số tiền lãi bị cáo thu lợi bất chính buộc bị cáo phải trả lại những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
- + Chị Đỗ Thị Thu H1 là 112.561.644đ (một trăm mười hai triệu, năm trăm sáu mươi mốt nghìn, sáu trăm bốn mươi bốn đồng)
- + Chị Vũ Hồng T2 là 44.753.425đ (bốn mươi bốn triệu, bảy trăm năm mươi ba nghìn bốn trăm hai mươi lăm đồng)
- + Bị cáo đã tự nguyện trả lại cho chị Nguyễn Thanh T1 số tiền 9.230.137đ (chín triệu hai trăm ba mươi nghìn, một trăm ba mươi bảy đồng). Đề nghị HĐXX ghi nhận.
Bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 200.000.000₫ để khắc phục hậu quả.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS đề nghị:
- + Tịch thu, phát mại sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, số IMEI: 353812082882086, máy cũ đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO F7, màu đỏ; Số IMEI 1: 869383035086354; lắp sim số: 0866792055, máy cũ đã qua sử dụng
- + Tịch thu tiêu hủy 01 (một) quyển sổ màu đỏ, bên trên bìa có chữ “Futurel”, kích thước 15 x 21cm; 01 (một) thẻ ngân hàng A1, số thẻ: 9704050890723450, mang tên Bùi Thị P và 01 (một) thẻ ngân hàng L3, số thẻ: 3571239062123523, mang tên Bùi Thị P.
- + Trả lại cho bị cáo 01 (một) quyển sổ nhiều màu sắc, bên trên bìa có chữ “Tuổi Ngọc”, kích thước 15,8 x 20,5cm; 01 (một) tờ giấy có ghi “Giấy giao tiền nhà” lập ngày 09/12/2021 có chữ ký của: Bùi Thị P, Đinh Thùy D, Hoàng Thị L1 và 01 (một) tờ giấy có ghi “Giấy cam kết” lập ngày 06/12/2021 có chữ ký của: Bùi Thị P, Mai Công H2, Hoàng Thị L1, Đỗ Thị Thu H1;
* Các ý kiến tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về tố tụng:
Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2].Về hành vi của bị cáo:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi của mình đã thực hiện. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ căn cứ kết luận:
Từ tháng 8/2022 đến tháng 01/2024 bị cáo đã cho Đỗ Thị Thu H1, Vũ Hồng T2 và Nguyễn Thanh T1 vay tổng số tiền là 2.090.000.000đ lãi suất từ 4.000 đồng/triệu/ngày đến 100.000 đồng/triệu/ngày tương ứng mức lãi suất từ 109,5%/năm đến 3650%/năm gấp từ 5,48 lần đến 182,5 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự. Số tiền nhằm mục đích thu lợi bất chính là 172.025.205đ. Số tiền thực tế thu lợi bất chính là 166.545.205₫.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về hoạt động tín dụng; trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ; xâm phạm đến lợi ích tài chính của công dân gây mất trật tự an ninh xã hội.Vì vậy cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét đến tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi Thị P cho vay tiền nhiều lần trong đó có 03 lần có số tiền thu lợi bất chính trên 30.000.000 đồng nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g, khoản 1, điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo đã tự nguyện nộp 200.000.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả, tự nguyện trả lại cho chị Nguyễn Thanh T1 số tiền 9.230.137đ; có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Do đó, HĐXX xét thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vì mục đích lợi nhuận, thu lợi bất chính nên cần áp dụng khoản 3 Điều 201 BLHS phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền nộp vào ngân sách Nhà nước.
[4] Về các biện pháp tư pháp :
Đối với số tiền gốc 2.090.000.000₫ mà bị cáo dùng để cho vay là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu sung công quỹ nhà nước. Trong đó:
- Truy thu của bị cáo sung quỹ nhà nước số tiền gốc mà bị cáo đã thu của những người vay là 1.470.000.000đ.
- Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền gốc mà những người vay chưa trả cho bị cáo cụ thể :
- + Truy thu của chị Đỗ Thị Thu H1 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng)
- + Truy thu của chị Nguyễn Thanh T1 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng).
- Truy thu của bị cáo số tiền lãi tương ứng mức lãi suất 20%/năm mà bị cáo đã thu được là 18.854.795₫.
Đối với số tiền lãi bị cáo thu lợi bất chính cần buộc bị cáo phải trả lại những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Cụ thể:
- + Chị Đỗ Thị Thu H1 là 112.561.644đ (một trăm mười hai triệu, năm trăm sáu mươi mốt nghìn, sáu trăm bốn mươi bốn đồng)
- + Chị Vũ Hồng T2 là 44.753.425đ (bốn mươi bốn triệu, bảy trăm năm mươi ba nghìn bốn trăm hai mươi lăm đồng)
- + Ghi nhận bị cáo đã tự nguyện trả lại cho chị Nguyễn Thanh T1 số tiền 9.230.137₫
Bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 200.000.000₫ để khắc phục hậu quả.
[4] Về vật chứng của vụ án:
- + Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, số IMEI: 353812082882086, máy cũ đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO F7, màu đỏ; Số IMEI 1: 869383035086354; lắp sim số: 0866792055, máy cũ đã qua sử dụng đây là các công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- + Đối với 01 (một) quyển sổ màu đỏ, bên trên bìa có chữ “Futurel”, kích thước 15 x 21cm; 01 (một) thẻ ngân hàng A1, số thẻ: 9704050890723450 (số tài khoản 3009205115788), mang tên Bùi Thị P và 01 (một) thẻ ngân hàng L3, số thẻ: 3571239062123523 (số tài khoản 007223250048), mang tên Bùi Thị P là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
- + Đối với 01 (một) quyển sổ nhiều màu sắc, bên trên bìa có chữ “Tuổi Ngọc”, kích thước 15,8 x 20,5cm; 01 (một) tờ giấy có ghi “Giấy giao tiền nhà” lập ngày 09/12/2021 có chữ ký của: Bùi Thị P, Đinh Thùy D, Hoàng Thị L1 và 01 (một) tờ giấy có ghi “Giấy cam kết” lập ngày 06/12/2021 có chữ ký của: Bùi Thị P, Mai Công H2, Hoàng Thị L1, Đỗ Thị Thu H1 là các giấy tờ tài liệu không liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.
[5] Về các hành vi, tình tiết khác của vụ án:
Đối với nội dung Vũ Hồng T2, Đỗ Thị Thu H1 trình bày vay lãi xuất cao của Bùi Thị H3, Bùi Thị C, Bùi Thị Vân A và Đoàn Nguyên Đ có HKTT tại thị trấn H- huyện Y- Hòa Bình. Quá trình điều tra chưa làm rõ được số tiền cho vay, lãi xuất và số tiền thu lợi bất chính, chưa thu thập được tài liệu làm căn cứ để xử lý nên Cơ quan điều tra Công an huyện L tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Bùi Thị P phạm tội: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Xử phạt:
Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 65 BLHS xử phạt Bùi Thị P 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Bùi Thị P cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện L, tỉnh Hòa Bình tiếp tục giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
* Phạt bổ sung bị cáo Bùi Thị P: 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng sung ngân sách nhà nước.
2. Về biện pháp tư pháp:
Căn cứ Điều 47, 48 BLHS; Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao.
- Truy thu của bị cáo số tiền 1.488.854.795đ (Một tỷ, bốn trăm tám mươi tám triệu, tám trăm năm mươi tư nghìn, bảy trăm chín mươi lăm đồng) sung quỹ nhà nước trong đó: Số tiền gốc mà bị cáo đã thu của những người vay là 1.470.000.000₫ và số tiền lãi tương ứng mức lãi suất 20%/năm mà bị cáo đã thu được là 18.854.795đ.
-Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền gốc mà những người vay chưa trả cho bị cáo cụ thể :
- + Truy thu của chị Đỗ Thị Thu H1 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng)
- + Truy thu của chị Nguyễn Thanh T1 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng).
-Đối với số tiền lãi bị cáo thu lợi bất chính cần buộc bị cáo phải trả lại những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Cụ thể:
- + Chị Đỗ Thị Thu H1 là 112.561.644đ (Một trăm mười hai triệu, năm trăm sáu mươi mốt nghìn, sáu trăm bốn mươi bốn) đồng.
- + Chị Vũ Hồng T2 là 44.753.425đ (Bốn mươi bốn triệu, bảy trăm năm mươi ba nghìn bốn trăm hai mươi lăm) đồng
- + Ghi nhận bị cáo đã tự nguyện trả lại cho chị Nguyễn Thanh T1 số tiền 9.230.137đ (Chín triệu hai trăm ba mươi nghìn, một trăm ba mươi bảy đồng).
Bảo lưu số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu) đồng mà bị cáo đã tự nguyện nộp để khắc phục hậu quả theo Biên lai số 0001189 ngày 12/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự để đảm bảo thi hành án.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về vật chứng:
Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS đề nghị:
- + Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, số IMEI: 353812082882086, máy cũ đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO F7, màu đỏ; Số IMEI 1: 869383035086354; lắp sim số: 0866792055, máy cũ đã qua sử dụng
- + Tịch thu tiêu hủy 01 (một) quyển sổ màu đỏ, bên trên bìa có chữ “Futurel”, kích thước 15 x 21cm; 01 (một) thẻ ngân hàng A1, số thẻ: 9704050890723450 (số tài khoản 3009205115788), mang tên Bùi Thị P và 01 (một) thẻ ngân hàng L3, số thẻ: 3571239062123523 (số tài khoản 007223250048), mang tên Bùi Thị P.
- + Trả lại cho bị cáo 01 (một) quyển sổ nhiều màu sắc, bên trên bìa có chữ “Tuổi Ngọc”, kích thước 15,8 x 20,5cm; 01 (một) tờ giấy có ghi “Giấy giao tiền nhà” lập ngày 09/12/2021 có chữ ký của: Bùi Thị P, Đinh Thùy D, Hoàng Thị L1 và 01 (một) tờ giấy có ghi “Giấy cam kết” lập ngày 06/12/2021 có chữ ký của: Bùi Thị P, Mai Công H2, Hoàng Thị L1, Đỗ Thị Thu H1;
(Toàn bộ các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình và được ghi chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/7/2024 giữa Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình).
4. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Bùi Thị P phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo:
Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Cùng thời hạn trên kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật người bị hại có quyền kháng cáo.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Hải Dương |
Bản án số 32/2024/HSST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 32/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Phượng
