Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST

Ngày 25 - 9 - 2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn San.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Phú Mẫn và bà Nguyễn Thị Huyền.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhật Trung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QÐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn Y, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam; có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Hoàng Trọng T1, sinh năm 1987. Nơi ĐKHKTT: Thôn Y, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Hiện anh T1 đang sinh sống tại: 2-33-3-3-601 TAKASHIMADAIRA, ITABASHI- KU, TOKYO, nước Nhật Bản; vắng mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền của anh Hoàng Trọng T1 là: Chị Hoàng Thị Thu H, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ B, phường H, quận H, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu trong hồ sơ vụ án, các đương sự trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Hoàng Trọng T1 kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 28/10/2011 tại UBND xã M, huyện D (nay là thị xã D), tỉnh Hà Nam.

Theo chị Trần Thị T, vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng từ năm 2019 do bất đồng quan điểm sống và kinh tế gia đình. Cụ thể, anh T1 thường xuyên tụ tập, chơi bời, mỗi lần anh T1 tức giận thì anh ấy đều đập phá đồ đạc, đồ dùng sinh hoạt trong gia đình. Hơn nữa, anh T1 còn có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác, không quan tâm gì đến gia đình. Vợ chồng kinh doanh thua lỗ nhưng anh T1 không tu chí làm ăn cũng không cho chị đi làm để có thu nhập trang trải cuộc sống gia đình làm cho cuộc sống vợ chồng luôn trong tình trạng căng thẳng, mệt mỏi kéo dài. Từ năm 2019, anh T1 đi xuất khẩu lao động tại nước Nhật Bản, vợ chồng sống ly thân đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1.

Theo anh Hoàng Trọng T1, vợ chồng có mâu thuẫn từ năm 2023 nhưng anh đã về nhà nói chuyện với chị T và chị T đồng ý không ly hôn nên anh tiếp tục đi làm ăn tại nước Nhật Bản. Trong thời gian này, anh T1 luôn quan tâm đến gia đình, gửi tiền về để chị T trả nợ và trang trải cuộc sống hằng ngày. Do vợ chồng không có mâu thuẫn gì khác và các con còn nhỏ cần sự quan tâm, chăm sóc của bố mẹ nên anh không đồng ý ly hôn với chị T và đề nghị Tòa án hòa giải cho vợ chồng về đoàn tụ.

- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Hoàng Ngọc Bảo T2, sinh ngày 12/6/2012; cháu Hoàng Bảo L, sinh ngày 08/4/2015 và cháu Hoàng Ngọc H1, sinh ngày 22/10/2018. Hiện cả 03 cháu đang ở cùng chị T.

Chị T có quan điểm: Hiện nay anh T1 đang làm việc tại Nhật Bản, không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, chị đã nuôi dưỡng các con từ khi các cháu còn nhỏ đến nay. Vì vậy, chị xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 03 con chung và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Trường hợp anh T1 về nước và có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tốt hơn chị thì chị đồng ý để anh T1 chăm sóc, nuôi dưỡng các con.

Anh T1 cho rằng chị T không đảm bảo điều kiện về thời gian và kinh tế để chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung. Đồng thời khẳng định điều kiện, khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng của anh tốt hơn chị T nên sau khi kết thúc hợp đồng lao động và về nước thì anh sẽ đón các con về để chăm sóc, nuôi dưỡng. Ngoài ra, anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng để các con có cuộc sống tốt nhất.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và các vấn đề khác: Các đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của cháu Hoàng Ngọc Bảo T2 và cháu Hoàng Bảo L trình bày như sau: Hiện nay các cháu đều đang ở cùng mẹ là Trần Thị T tại thôn Y, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam, cháu Hoàng Ngọc Bảo T2 học tại trường trung học cơ sở M, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Cháu Hoàng Bảo L học tại trường tiểu học M, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Cháu T2 có nguyện vọng ở cùng mẹ cháu là Trần Thị T. Cháu L có nguyện vọng ở cùng mẹ đến thời điểm nào bố cháu về thì cháu ở cùng bố cháu.

Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng anh T1 vắng mặt nên không thể tiến hành hoà giải được.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tại phiên tòa:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, 37, 39 Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử ly hôn chị Trần Thị T và anh Hoàng Trọng T1.

Về con chung: Giao cả 03 con chung là cháu Hoàng Ngọc Bảo T2, sinh ngày 12/6/2012; cháu Hoàng Bảo L, sinh ngày 08/4/2015 và cháu Hoàng Ngọc H1, sinh ngày 22/10/2018 cho chị Trần Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Trần Thị T không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị T phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nhận thấy:

[1] Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn anh Hoàng Trọng T1 đang làm việc tại nước Nhật Bản nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm c khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Nguyên đơn chị Trần Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Hoàng Trọng T1 được triệu tập hợp lệ lần hai mà vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Hoàng Trọng T1 kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 28/10/2011 tại UBND xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn căng thẳng do anh T1 thường xuyên tụ tập, chơi bời, đập phá đồ đạc, quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác và điều kiện kinh tế khó khăn dẫn đến vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng luôn trong tình trạng căng thẳng kéo dài. Kể từ năm 2019 đến nay, vợ chồng sống ly thân nhau. Xét thấy mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T xin ly hôn anh T1 là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Anh chị có 03 con chung là cháu Hoàng Ngọc Bảo T2, sinh ngày 12/6/2012; cháu Hoàng Bảo L, sinh ngày 08/4/2015 và cháu Hoàng Ngọc H1, sinh ngày 22/10/2018. Hiện cả 03 cháu đang ở cùng chị T. Cháu Hoàng Ngọc Bảo T2 có nguyện vọng ở cùng chị T, cháu Hoàng Bảo L có nguyện vọng ở cùng chị T đến thời điểm nào anh T1 về nước thì cháu L ở cùng anh T1.

Nguyện vọng của các đương sự mong muốn chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, nguyện vọng của các cháu ở cùng bố hoặc mẹ đều là chính đáng. Tuy nhiên, chị T đã chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung kể từ khi anh T1 đi xuất khẩu lao động tại nước Nhật Bản (năm 2019) cho đến nay, các cháu có cuộc sống ổn định, đảm bảo phát triển về thể chất và tinh thần cho các cháu. Mặt khác, anh Hoàng Trọng T1 đang làm việc tại nước Nhật Bản nên không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và để tránh sự xáo trộn trong sinh hoạt, học tập của các cháu. Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cả 03 con chung cho chị Trần Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Trường hợp anh T1 có nguyện vọng thay đổi quyền nuôi con thì có quyền đề nghị Toà án thay đổi quyền nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét

[2.3] Về tài sản chung, công nợ và các vấn đề khác: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3] Về án phí: Chị Trần Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 238, 266, 271, 273 và 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân và gia đình

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Hoàng Trọng T1.

2. Về con chung: Giao 03 con chung là cháu Hoàng Ngọc Bảo T2, sinh ngày 12/6/2012; cháu Hoàng Bảo L, sinh ngày 08/4/2015 và cháu Hoàng Ngọc H1, sinh ngày 22/10/2018 cho chị Trần Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng, đối trừ số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai số 0001459 ngày 17/5/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam. Chị T đã nộp đủ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Viện KSND tỉnh Hà Nam;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Nam;
  • - UBND xã Mộc Nam;
  • - Lưu hồ sơ, Bộ phận HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Văn San

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 23/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger