TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21 – 5 – 2024 V/v tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung, nợ chung khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Nhàn
- Bà Nguyễn Thị Đẹp.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Kim Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 3 năm 2024 và ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 23/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2023 về “Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình về ly hôn, chia tài sản chung và nợ chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 02/2024/QÐST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 và thông báo mở lại phiên tòa số 55/TB-TA ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc D, sinh năm 1973.
Nơi ở hiện nay: Số H, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. - Bị đơn: Ông Đỗ Công H, sinh năm: 1959.
Nơi ở hiện nay: Số A P, khóm S, phường T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng T1 (V1).
Trụ sở: Số H, L, phường L, quận ĐÐ, TP ..
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D1 - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Tuấn V - Cán bộ Xử lý nợ V1.
Địa chỉ: Tầng A, số I C, Phường D, Quận C, TP . (Văn bản ủy quyền ngày 29/01/2024).
Tại phiên tòa có mặt bà D, đại diện ngân hàng (anh V); Vắng mặt ông H (có đơn vắng)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông H tổ chức đám cưới và vợ chồng chung sống với nhau vào năm 2000, trước khi chung sống có thời gian tìm hiểu khoảng 03 tháng. Đến ngày 29/3/2017 bà D, ông H mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố S.
Bà D và ông H chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, kinh tế gia đình nên vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cự cãi, ông H có những lời nói xúc phạm bà D và có hành vi bạo lực gia đình (đánh bà D). Ngoài ra, bản thân ông còn tình cảm với người phụ nữ khác, không quan tâm chăm sóc vợ con. Từ đầu năm 2021 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc, lo lắng cho nhau.
Nay bà D nhận thấy không còn tình cảm không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, nên yêu cầu ly hôn ông H.
Về nuôi con chung: Bà D và ông H chung sống có 02 con chung tên Đỗ Thục U, sinh năm 2000 và Đỗ Kiến H1, sinh ngày 28/01/2010. Khi ly hôn bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con cháu Đỗ Kiến H1 (hiện đang sống với bà D) và yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đồng cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi. Đối với con chung Đỗ Thục U đã trưởng thành và có khả năng lao động, nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Bà D xác định không có. Đối với yêu cầu chia tài sản chung của ông H, bà D không đồng ý vì:
Nhà và đất tại số B KDC khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp là tài sản riêng của bà D. Nguồn gốc đất do bà D nhận chuyển nhượng của bà Võ Thị Mỹ H2 vào ngày 28/3/2008 với giá 75.000.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng bà D tiến hành xây dựng nhà ở. Năm 2014 bà D xin phép xây dựng nhà (xây dựng thêm 01 tầng), ngày 10/6/2015 Ủy ban nhân dân thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho cá nhân bà D. Từ sau khi bà D và ông H đăng ký kết hôn ngày 29/3/2017 thì giữa bà D và ông H không có thỏa thuận xác nhập phần đất và nhà là tài sản chung của bà D, ông H trong thời kỳ hôn nhân.
Ngày 24/6/2021, bà D bán nhà và đất này cho ông Phạm Thanh B với giá 2.150.000.000đồng để trả nợ ông H vay tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á (phòng G) số tiền là 1.550.000.000 đồng còn lại 600.000.000đồng bà D quản lý và đã sử dụng hết số tiền này vào việc chi tiêu cho sinh hoạt hàng ngày cho gia đình, lo cho cháu U đi lao động ở Singapore và nuôi cháu H1 học tập. Hiện số tiền này đã không còn nên không đồng ý chia theo yêu cầu của ông H.
Ngoài ra, trong quá trình sống chung từ năm 2000 bà D và ông H có mua các vật dụng để sử dụng chung trong gia đình từ tiền chung của bà D và ông H như: Máy lạnh, máy giặt sấy, tủ lạnh, ti vi, ampli, tủ mát, máy hút mùi, máy nước nóng, bàn ủi ...
Về số lượng tài sản (Máy lạnh, máy giặt sấy, tủ lạnh, ti vi, ampli, tủ mát, máy hút mùi, máy nước nóng, bàn ủi) bà D thống nhất theo tài liệu chứng cứ mà ông H cung cấp cho Tòa án. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng các vật dụng này đã hư hỏng và hiện không còn. Việc ông H cho rằng sau khi bán nhà đất tại số B, một số bà D đã bán và một số đem đi nơi khác là không đúng sự thật. Do đó, bà D không đồng ý chia các tài sản (vật dụng) này theo yêu cầu của ông H.
Về nghĩa vụ nợ chung: Bà D xác định không có.
Bà D xác định có ký tên trong Hợp đồng tín dụng số SME/DTP/17/0008/HDTD và Hợp đồng thế chấp ngày 24/02/2017, nhưng do ông H yêu cầu nên bà D ký, còn Khế ước nhận nợ ngày 24/02/2017 thì bà D không có ký tên. Đối với Hợp đồng cho vay hạn mức ngày 20/8/2019 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế số SME/VLG/19/004/TTD không có tài sản bảo đảm ngày 29/8/2019, bà D không có ký tên. Bà D xác định tất cả các khoản nợ trên là nợ riêng ông H, không liên quan đến bà D, bà D không có sử dụng chung các khoản tiền này với ông H.
Nay bà D không đồng ý liên đới cùng ông H - Chủ doanh nghiệp tư nhân H3 trả cho Ngân hàng T1 tổng số nợ còn thiếu theo Hợp đồng tín dụng ngày 24/02/2017, Hợp đồng cho vay hạn mức ngày 20/8/2019 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm ngày 29/8/2019 tạm tính đến ngày 21/5/2024 là 2.444.310.675đồng (trong đó nợ gốc là 1.047.155.405đồng, nợ lãi là 1.397.155.270đồng) và không đồng ý tiếp tục trả lãi quá hạn, lãi chậm trả, lãi bổ sung từ ngày 22/5/2024 theo các hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng mà ông H đã ký kết.
Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, biển số 66A-04837 là tài sản riêng của ông H, nên bà D không có yêu cầu chia.
Ngoài ra, bà D không còn yêu cầu ý kiến gì khác.
Theo đơn kiện yêu cầu chia tài sản chung, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Đỗ Công H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông H thống nhất theo trình bày của bà D về thời gian chung sống, tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến tháng 4/2020 phát sinh mâu thuẫn. Do bà D có biểu hiện của bệnh tâm thần nói chuyện không bình thường và thường hay gây gỗ với ông H. Do đó, từ năm 2021 ông H đi nơi khác sinh sống và vợ chồng sống ly thân. Nay ông H nhận thấy tình cảm không còn, vợ chồng không thể hòa giải, hàn gắn chung sống lại với nhau nên ông H đồng ý ly hôn bà D.
Về nuôi con chung: Ông H thống nhất có 02 con chung tên Đỗ Thục U, sinh năm 2000 và Đỗ Kiến H1, sinh ngày 28/01/2010 (đang sống chung với bà D). Khi ly hôn, ông H đồng ý giao cháu H1 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, ông H cấp dưỡng nuôi cháu H1 mỗi tháng 2.000.000đồng cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi. Đối với Đỗ Thục U đã trưởng thành và có khả năng lao động không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Trong quá trình sống chung, ông H và bà D có tạo lập được số tài sản như sau:
Nhà và đất tại số B, KDC khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp đất có diện tích 85m². Nguồn gốc đất là do ông H nhận chuyển nhượng của ông B1 (không nhớ rõ họ tên) vào khoảng năm 2007 – 2008. Sau khi nhận chuyển nhượng thì xây dựng nhà ở, đến năm 2015 thì xin phép xây dựng thêm 01 lầu. Khi nhận chuyển nhượng ông H thỏa thuận miệng để cho bà D đứng tên nhà và đất.
Trước đây bà D và ông H có thế chấp nhà, đất này cho Ngân hàng Á (A) để vay tiền. Đến năm 2021 do không có khả năng thanh toán nên bà D và ông H bán tài sản này cho ông B với giá là 2.250.000.000đồng. Tiền bán nhà sau đó trả nợ cho Ngân hàng 1.550.000.000đồng, số tiền còn lại 700.000.000đồng bà D đang quản lý. Tại phiên tòa ngày 27/9/2023, ông H thống nhất số tiền bán nhà còn lại là 600.000.000đồng.
Các máy lạnh, tủ lạnh, tủ đông, máy lọc nước, bếp gas, máy hút mùi ... (theo tài liệu đã cung cấp cho Tòa án) mua trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2018 từ nguồn tiền của ông H. Sau khi bán nhà đất tại số B, bà D đã bán và đem các tài sản này đi nơi khác.
Nay ông H yêu cầu bà D chia ½ số tiền bán nhà còn lại là 300.000.000đồng và ½ số tiền mua sắm các vật dụng là 104.856.500đồng. Ông H đồng ý giao cho bà D được quyền quản lý, sở hữu các vật dụng theo bản kê mua sắm.
Đối với yêu cầu chia tài sản là vật dụng như máy lạnh, tủ lạnh, tủ đông, máy lọc nước, bếp gas, máy hút mùi. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có thông báo yêu cầu ông H thực hiện các thủ tục xem xét thẩm định, định giá nêu trên để có căn cứ giải quyết nhưng ông H không đồng ý.
Ngoài ra, tài sản chung của vợ chồng còn có xe mô tô hiệu Honda loại SH More biển số 66S1 – 411.78 (bà D đã bán). Tại đơn khởi kiện phản tố ông H yêu cầu bà D chia cho ông H ½ số tiền bán xe là 25.000.000đồng. Tuy nhiên, sau đó ông H thay đổi, không yêu cầu chia tài sản chung đối với chiếc xe Honda loại SH.
Đối với số tiền trước đây ông H mua bảo hiểm của Công ty B2 cho Đỗ Thục U đến nay chưa hết hạn hợp đồng, nên ông H không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Doanh nghiệp tư nhân H3 do ông H đại diện có ký các Hợp đồng tín dụng số SME/DTP/17/0008/HDTD ngày 24/02/2017, Hợp đồng cho vay hạn mức số VLG/19/001/HĐHM ngày 20/8/2019 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế số SME/VLG/19/004/TTD ngày 29/8/2019 (không có tài sản đảm bảo) vay vốn tại Ngân hàng T1 để mua xe và kinh doanh tấm, cám.
Quá trình giải quyết vụ án ông H thừa nhận các khoản nợ vay tại Ngân hàng T1 là nợ chung của vợ chồng. Trước đây Ngân hàng T1 đã không tạo điều kiện để ông H bán tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, biển số 66A-04837 để trả nợ. Do đó, nay ông H không đồng ý trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 2.444.310.675đồng (trong đó nợ gốc là 1.047.155.405đồng, nợ lãi là 1.397.155.270) và không đồng ý tiếp tục trả lãi quá hạn, lãi chậm trả, lãi bổ sung từ ngày 22/5/2024 theo các hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng mà ông H đã ký kết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng T1 ủy quyền cho anh Nguyễn Tuấn V trình bày:
Ngày 24/02/2017, ông Đỗ Công H - Chủ doanh Nghiệp Tư Nhân H3 và bà Lê Thị Ngọc D có ký Hợp đồng tín dụng số SME/DTP/17/0008/HDTD vay vốn tại Ngân hàng T1 số tiền 919.200.000đồng, thời hạn vay là 60 tháng; lãi suất cho vay ưu đãi 7,5%/năm cố định trong vòng 12 tháng. Mục đích vay vốn thanh toán tiền mua xe ô tô nhãn hiệu Toyota.
Để đảm bảo khoản vay này ngày 24/02/2017 giữa Ngân hàng T1 và ông H - Chủ doanh nghiệp tư nhân H3, bà D có ký Hợp đồng thế chấp số SME/DTP/17/0008/HDTC. Tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu Toyota, biển số 66A-04837 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của doanh nghiệp tư nhân H3. Việc thế chấp được thực hiện đúng theo quy định pháp luật và có đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ ngày 25/05/2020, Ngân hàng T1 đã chuyển khoản nợ trên thành nợ quá. Tính đến ngày quá hạn ông H - Chủ doanh nghiệp tư nhân H3 và bà D có trả số tiền vốn gốc là 551.520.000đồng, tiền lãi là 215.930.916 đồng. Tính đến ngày 21/5/2024 tổng số tiền gốc + lãi còn phải trả là 759.724.560đồng (trong đó vốn gốc là 367.680.000đồng, lãi 392.044.560đồng).
Ngày 20/08/2019, ông H tiếp tục ký Hợp đồng cho vay hạn mức số VLG/19/001/HĐHM ký và Khế ước nhận nợ Lần 01/số: VLG/19/0001/HDHM-01 vay vốn tại Ngân hàng T1 số tiền 700.000.000đồng, hình thức vay tín chấp, thời hạn vay là 04 tháng, lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 18,9%/năm, điều chỉnh 01 tháng một lần. Mục đích vay vốn bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động mua bán tấm, cám.
Từ ngày 20/12/2019 Ngân hàng T1 đã chuyển khoản nợ trên thành nợ quá hạn. Tính đến ngày quá hạn ông H đã trả số tiền gốc là 50.524.596đồng, tiền lãi 38.921.504đồng. Tổng số tiền gốc và lãi còn phải trả tạm tính đến ngày 21/5/2024 là 1.602.759.060đồng (trong đó vốn gốc là 649.475.404đồng, lãi 953.283.656đồng.
Ngày 29/08/2019 Ngân hàng T1 và ông H ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm số SM E/VLG/19/004/TTD cấp thẻ tín dụng cho ông H hạn mức 30.000.000đồng, lãi suất trong hạn 29.5%/năm, thời hạn hạn mức thẻ là 60 tháng. Đến ngày 27/06/2020 Ngân hàng đã chuyển khoản nợ trên thành nợ quá hạn. Số tiền vốn gốc phải trả là 30.000.000đồng, lãi là: 51.827.054đồng. Tổng số tiền gốc và lãi còn phải trả tạm tính đến ngày 20/01/2024 là 81.827.054đồng (trong nợ gốc là 30.000.000đồng, nợ lại là 51.827.054đồng).
Nay Ngân hàng T1 yêu cầu:
Ông H - Chủ Doanh Nghiệp Tư Nhân H3 và bà D liên đới trả số nợ gốc là 1.017.155.404đồng, nợ lãi tạm tính đến ngày 21/5/2024 là 1.345.328.216đồng, tiếp tục trả lãi quá hạn, lãi chậm trả theo hợp đồng tín dụng ngày 24/02/2017, khế ước nhận nợ ngày 24/02/2017 và hợp đồng cho vay hạn mức ngày 20/8/2019 đã ký kể từ ngày 22/5/2024 cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng.
Yêu cầu ông H (cá nhân) chịu trách nhiệm trả khoản vay Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm tiền vốn gốc là 30.000.000đồng, tiền lãi là: 51.827.054đồng. Tổng số tiền gốc + lãi quá hạn còn phải trả tạm tính đến ngày 21/5/2022 là 81.827.054đồng và tiếp tục trả lãi quá hạn, lãi chậm trả kể từ ngày 22/5/2024 cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng theo các thỏa thuận đã ký kết.
Đối với Hợp đồng thế chấp số SME/DTP/17/0008/HDTC ngày 24/02/2017 và tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu Toyota, biển số 66A-04837, số loại FORTUNER, Ngân hàng T1 không có tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.
Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tham gia phiên tòa sơ thẩm hôm nay. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của bà Lê Thị Ngọc D và ông Đỗ Công H.
- Về con chung: Công nhận sự tự thỏa thuận của các đương sự về việc nuôi dưỡng con chung và cấp dưỡng nuôi con. Bà Lê Thị Ngọc D được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Đỗ Kiến H1, sinh ngày 28/01/2010, ông Đỗ Công H cấp dưỡng nuôi con với mức 2.000.000đồng/tháng.
- Về chia tài sản chung:
Không chấp nhận yêu cầu của ông Đỗ Công H về việc yêu cầu bà Lê Thị Ngọc D chia 50% giá trị các tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân với số tiền là 479.856.500đồng.
Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Ngân hàng T1.
Buộc ông Đỗ Công H - Chủ Doanh nghiệp tư nhân H3 và bà Lê Thị Ngọc D liên đới trả số tiền vốn vay và lãi phát sinh còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số SME/DTP/17/0008/HDTD và Khế ước nhận nợ số SME/DTP/17/0008/HDTD-01 ngày 24/02/2017 cho Ngân hàng T1.
Buộc ông Đỗ Công H - Chủ Doanh nghiệp tư nhân H3 trả số tiền vốn vay và lãi phát sinh còn nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số VLG/19/001/HĐHM ngày 20/8/2019 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm số SME/VLG/19/004/TTD ngày 29/8/2019 cho Ngân hàng T1.
- Về án phí và các chi phí tố tụng (nếu có) đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật (có bài phát biểu kèm theo).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Trên cơ sở Đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc D; Yêu cầu chia tài sản chung của bị đơn ông Đỗ Công H và yêu cầu trả nợ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng thương mại Cổ phần T1. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp phải giải quyết là “Ly hôn, chia tài sản chung và nợ chung”. Bị đơn ông H hiện cư trú tại thành phố S nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại Điều 30, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Tại phiên tòa, bị đơn ông Đỗ Công H có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy trường hợp vắng mặt của bị đơn không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa. Do đó, căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân:
Xét thấy bà D, ông H chung sống vợ chồng từ năm 2000 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn vào ngày 29/3/2017 tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp nên quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông H được xác định là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống, giữa bà D và ông H đã phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, thiếu sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Từ đó, làm cho tình cảm ngày càng bị tổn thương, rạn nứt không thể hàn gắn. Bà D và ông H đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nay bà D và ông H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, hai bên không thể hàn gắn tiếp tục trở lại chung sống với nhau. Bà D yêu cầu ly hôn, ông H cũng đồng ý. Do đó căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của bà D, cho bà D và ông H ly hôn.
[2.2] Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung:
Bà D và ông H cùng trình bày có 02 con chung tên Đỗ Thục U, sinh năm 2000 và Đỗ Kiến H1, sinh ngày 28/01/2010 (hiện cháu H1 đang sống với bà D). Khi ly hôn, bà D và ông H thỏa thuận giao cho bà D được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1, ông H đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu H1 mỗi tháng là 2.000.000đồng. Xét thấy sự thỏa thuận này của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật cũng như nguyện vọng của cháu H1 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Giao cho bà D được trực tiếp nuôi cháu H1, ông H cấp dưỡng nuôi nuôi cháu H1 mỗi tháng 2.000.000đồng. Ông H có quyền nghĩa vụ đến thăm con, không ai được quyền cản trở.
Đối với con chung tên Đỗ Thục U, sinh năm 2000 đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.
[2.3] Về chia tài sản chung
[2.4.1] Xét yêu cầu của ông H yêu cầu bà D chia tài sản chung là ½ số tiền bán nhà, đất tại số B, khu dân cư K, phường A, thành phố S là 300.000.000đồng. Bà D xác định nhà đất là tài sản riêng nên không đồng ý chia, Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo lời trình bày của các đương sự cùng với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Căn nhà và phần đất đã bán thuộc thửa 290 tờ bản đồ 30 tọa lạc tại số B KDC khóm T, phường A, thành phố S; bà D nhận chuyển nhượng của bà Võ Thị Mỹ H2 vào ngày 28/3/2008, sau khi bà D và ông H tổ chức đám cưới và chung sống với nhau. Ngày 21/4/2008, bà D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S chỉnh lý trang 4).
Sau khi nhận chuyển nhượng, đến tháng 7/2008 bà D và ông H xây cất nhà ở. Ngày 10/6/2015, bà D được Ủy ban nhân dân thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.
Bà D cho rằng tiền nhận chuyển nhượng đất và cất nhà là tiền cá nhân bà D, nên số tiền còn lại sau khi bán nhà, đất không đồng ý chia cho ông H; còn ông H cho rằng tiền của ông H nhận chuyển nhượng đất và cất nhà, là tài sản chung của vợ chồng, nhưng để cho bà D đứng tên trên giấy tờ, nên yêu cầu chia đôi số tiền bán nhà đất còn lại. Hội đồng xét xử xét thấy, bà D và ông H tổ chức đám cưới và chung sống với nhau từ năm 2000, đến năm 2008 bà D đứng tên trên hợp đồng chuyển nhượng (bên nhận chuyển nhượng đất), sau đó hai vợ chồng cất nhà trên diện tích đất này để ở. Như vậy, thời gian nhận chuyển nhượng đất, cất nhà đều trong thời gian vợ chồng bà D ông H đã tổ chức cưới và chung sống với nhau. Mãi đến năm 2017 vợ chồng bà D mới đi đăng ký kết hôn; đồng thời trong suốt thời gian sống chung cho đến khi xảy ra mâu thuẫn ly thân vào năm 2021, giữa bà D ông H không có văn bản thỏa thuận về việc xác định nhà đất trên, là tài sản riêng của bà D.
Mặt khác, trước đây ông H và bà D có vay vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á (ngân hàng Á). Để đảm bảo cho khoản vay 1.150.000.000đồng ông H và bà D có thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên. Năm 2021, không có khả năng trả nợ, bà D ông H đã bán tài sản nhà đất trên cho ông Phạm Thanh B, để trả nợ ngân hàng.
Do đó, không thể căn cứ vào thời gian đăng ký kết hôn, để cho rằng tài sản đất và nhà bà D đứng tên, là tài sản có trước hôn nhân, là tài sản của cá nhân bà D. Bên cạnh đó, việc mang nhà và đất làm tài sản thế chấp cho ngân hàng để đảm bảo cho khoản vay chung của vợ chồng và đã bán nhà đất để trả nợ. Điều đó đã chứng minh nhà và đất bà D đứng tên (đã bán) là tài sản chung của vợ chồng.
Quá trình giải quyết vụ án bà D và ông H thống nhất bán nhà đất trên, đã bán với giá 2.150.000.000đồng. Tiền bán nhà trả nợ cho ngân hàng Á là 1.550.000.000đồng còn lại 600.000.000đồng bà D quản lý. Tuy nhiên, bà D cho rằng số tiền còn lại bà D đã sử dụng hết vào việc chi tiêu cho sinh hoạt hàng ngày cho gia đình cụ thể chi trả tiền thuê nhà, lo cho cháu U đi lao động ở Singapore chi phí 300.000.000đồng, chi phí sinh hoạt, nuôi dưỡng cháu H1 ăn học (số tiền cụ thể không nhớ). Nhưng bà D không cung cấp được tài liệu hay giấy tờ gì để chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ. Mặt khác, tại thời điểm bán nhà con gái lớn của bà D và ông H là Đỗ Thục U đã trưởng thành, có khả năng lao động nuôi sống bản thân. Trước khi đi hợp tác lao động tại Singapore (tháng 8/2022) chị U đã tạo lập được tài sản riêng cho mình là căn nhà số H, ấp P, xã T (hiện bà D đang ở). Do đó, việc bà D cho rằng chi phí lo cho chị U đi lao động ở Singapore với số tiền 300.000.000đồng là không phù hợp.
Như vậy, từ những phân tích nhận định nêu trên, xác định số tiền bán nhà sau khi trả nợ ngân hàng còn lại 600.000.000đồng (bà D đang quản lý) là tài sản chung của ông H và D. Nhưng xét thấy về công sức đóng góp thì bà D có phần nhiều hơn, cụ thể phần đất do bà D nhận chuyển nhượng và đứng tên. Hơn nữa, sau khi xảy ra mâu thuẫn, ông H và bà D sống ly thân, từ năm 2021 đến nay thì cháu H1 do bà D trực tiếp nuôi dưỡng, ông H không phụ tiếp bà D chi phí về chỗ ở, nuôi con. Vì vậy, nhằm bảo đảm quyền lợi cho bà D sau ly hôn Hội đồng xét xử thống nhất chia cho bà D được hưởng 2/3 số tiền bán nhà còn lại là 400.000.000đồng, ông H được hưởng 1/3 số tiền là 200.000.000đồng, do bà D giữ 600.000.000đồng, nên buộc bà D giao lại cho ông H 200.000.000đồng
[2.4.2] Xét yêu cầu cầu ông H, yêu cầu bà D chia (trả) ½ số tiền mua các tài sản máy lạnh, tủ lạnh, tủ đông, máy lọc nước, bếp gas, máy hút mùi là 104.856.500đồng (209.713.000đồng/2). Bà D không đồng ý vì số tài sản theo ông H yêu cầu, đã hư hỏng không còn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ông H và bà D cùng thừa nhận trong thời gian sống chung, vợ chồng có mua sắm các tài sản máy lạnh, tủ lạnh, tủ đông, máy lọc nước theo như tài liệu chứng cứ ông H cung cấp. Tuy nhiên, bà D cho rằng các tài sản trên hiện nay đã hư hỏng hết và không còn. Quá trình giải quyết vụ án hai bên cũng không thống nhất thỏa thuận được trị giá các tài sản tranh chấp. Về phía ông H không đồng ý thực hiện thủ tục yêu cầu định giá tài sản và nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản tranh chấp, dù đã được thông báo hợp lệ. Ngoài ra, Tòa cũng đã ra quyết định xem xét thẩm định tại chỗ, nhưng không thực hiện được. Do đó, việc ông H yêu cầu chia ½ số tiền mua sắm vật dụng trong nhà như trên là không có cơ sở để chấp nhận.
Đối với xe mô tô hiệu Honda loại SH More biển số 66S1 – 411.78 đã bán và số tiền trước đây ông H mua bảo hiểm của Công ty B2 cho Đỗ Thục U, ông H không tranh chấp yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[3] Về nợ chung:
[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện độc lập của Ngân hàng thương mại Cổ phần T1 (viết tắt là Ngân hàng T1) về việc yêu cầu ông Đỗ Công H - Chủ Doanh Nghiệp Tư Nhân H3 và bà Lê Thị Ngọc D liên đới trả khoản vay theo hợp đồng tín dụng số SME/DTP/17/0008/HDTD ký ngày 24/02/2017, tổng số tiền vốn, lãi là 759.724.560đồng (trong đó gốc là 367.680.000đồng, lãi tạm tính đến ngày 21/5/2024 là 392.044.560đồng), Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1.1] Giữa Ngân hàng T1 và ông Đỗ Công H - Chủ Doanh Nghiệp Tư Nhân H3, bà Lê Thị Ngọc D có ký hợp đồng tín dụng số SME/DTP/17/0008/HDTD ngày 24/02/2017 vay số tiền 919.200.000đồng, thời hạn vay là 60 tháng; lãi suất cho vay ưu đãi 7,5%/năm cố định trong vòng 12 tháng, trả gốc theo định kỳ 03 tháng/lần, trả lãi định kỳ 01 tháng/lần, mục đích vay vốn thanh toán tiền mua 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota. Căn cứ theo khế ước nhận nợ ngày 24/02/2017, Ngân hàng đã giải ngân cho Doanh Nghiệp Tư Nhân H3 nhận số tiền là 919.200.000đồng.
Hợp đồng tín dụng giữa các bên được lập thành văn bản, mục đích và nội dung các thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 117, Điều 118 và Điều 119 của Bộ luật Dân sự. Vì vậy, hợp đồng tín dụng phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên kể từ thời điểm ký kết. Quá trình thực hiện hợp đồng ông H - Chủ Doanh Nghiệp Tư Nhân H3, bà D đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên từ ngày 20/12/2019 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn nợ sang nợ quá hạn theo quy định của Ngân hàng.
Về phía bà D thừa nhận có ký tên trong các hợp đồng tín dụng nhưng bà không đồng ý liên đới, vì bà D không có sử dụng số tiền vay trên. Việc bà D ký tên vào hợp đồng tín dụng là do tin tưởng ông H, nhưng tiền vay ông H vay tiền sử dụng vào mục đích gì bà không biết. Từ trước đến nay mỗi người tự làm kinh tế riêng, tiền ai nấy giữ. Nhưng lời trình bày này của bà D là không có cứ chấp nhận, bởi lẽ bà D và ông H là vợ chồng chung sống từ năm 2000, đăng ký kết hôn vào tháng 03/2017, khoản vay phát sinh trong thời gian vợ chồng còn sống chung với nhau, mục đích vay thanh toán tiền mua xe Toyota Fortuner Quá trình giải quyết vụ án bà D cũng thừa nhận mặc dù tiền bạc mỗi người tự quản lý nhưng chi tiêu sinh hoạt cho gia đình, nuôi dưỡng các con thì vợ chồng cùng lo và có trách nhiệm ngang nhau.
Mặt khác, việc vay vốn là để mua sắm tài sản xe Toyota Fortuner biển số 66A-04837. Đồng thời, sau đó bà D và ông cũng đã ký thế chấp tài sản là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Fortuner để đảm bảo cho khoản vay của mình. Như vậy việc bà cho rằng chỉ ký để ông H vay tiền mà không biết ông H sử dụng tiền để làm gì là không phù hợp. Do đó, Ngân hàng T1 yêu cầu ông H - Chủ Doanh Nghiệp Tư Nhân H3, bà D phải có trách nhiệm liên đới trả nợ gốc số tiền 367.680.000đồng là có căn cứ chấp nhận.
[3.1.2] Về nợ lãi: Trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về lãi suất cho vay, lãi quá hạn. Căn cứ Điều 91 và khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử xét thấy sự thỏa thuận giữa các bên về lãi suất là hoàn toàn tự nguyện và không trái quy định của pháp luật nên việc Ngân hàng yêu cầu ông H - Chủ Doanh Nghiệp Tư Nhân H3, bà Lê Thị Ngọc D phải có trách nhiệm trả lãi tạm tính đến 21/5/2024 là 392.044.560đồngvà tiếp tục trả lãi trên dư nợ gốc kể từ ngày 22/5/2024 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ theo mức lãi suất quy định tại các hợp đồng tín dụng là có căn cứ nên chấp nhận.
Như vậy, tổng số tiền vốn gốc, lãi tính đến ngày 21/5/2024 ông H - Chủ Doanh Nghiệp Tư Nhân H3 và bà D phải liên đới trả cho Ngân hàng T1 là 759.724.560đồng. Trong đó nợ gốc là 367.680.000đồng; Nợ lãi là 392.044.560đồng. Ông H - Chủ Doanh Nghiệp Tư Nhân H3 và bà D tiếp tục chịu lãi quá hạn, lãi chậm trả theo các hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký kể từ ngày 22/5/2024 cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ.
[3.1.3] Đối với Hợp đồng thế chấp số SME/DTP/17/0008/HDTC ngày 24/02/2017 và tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu Toyota, biển số 66A-04837, số loại Fortuner, giữa Ngân hàng T1 với Ông H - Chủ Doanh Nghiệp Tư Nhân H3 và D để đảm bảo khoản vay trên. Ngân hàng không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3.2]. Xét yêu cầu của Ngân hàng T1 yêu cầu ông H - Chủ Doanh Nghiệp Tư Nhân H3 và bà D liên đới trả khoản vay theo hợp đồng tín dụng số VLG/19/001/HĐHM ngày 20/08/2019 số tiền nợ gốc là 649.475.404đồng, nợ lãi tính đến ngày 21/5/2024 là 953.283.656đồng và khoản vay theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm số SM E/VLG/19/004/TTD ngày 29/08/2019 số tiền vốn gốc là 30.000.000đồng, nợ lãi tính đến ngày 21/5/2024 là 51.827.054đồng. Tiếp tục trả lãi trên dư nợ gốc kể từ ngày 22/5/2024 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ theo mức lãi suất quy định tại các hợp đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.2.1] Căn cứ nội dung hợp đồng tín dụng hạn mức số VLG/19/001/HĐHM ngày 20/08/2019 Ngân hàng đồng ý cấp Thẻ tín dụng hạn mức cho ông H - Chủ Doanh Nghiệp Tư Nhân H3 số tiền 700.000.000đồng và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm số SME/VLG/19/004/TTD ngày 29/08/2019 Ngân hàng đồng ý cấp cho ông H thẻ tín dụng hạn mức số tiền 30.000.000đồng. Hình thức vay tín chấp, không có tài sản bảo đảm. Mặc dù, trong hợp đồng tín dụng hạn mức và thẻ tín dụng thể hiện mục đích vay tiền để sử dụng vào việc mua bán tấm, cám. Tuy nhiên, Hợp đồng tín dụng hạn mức và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành do Ngân hàng ký với ông H, phía bà D không có ký tên. Do đó, ngân hàng yêu cầu ông H - Chủ Doanh Nghiệp Tư Nhân H3 và bà D cùng liên đới là không có cơ sở chấp nhận. Trên cơ sở đó, xác định hai khoản vay này là nợ riêng của ông H nên ông H phải chịu trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 679.475.404đồng.
[3.2.2]. Về lãi suất vay: Đối với khoản vay theo đồng tín dụng số VLG/19/001/HĐHM ngày 20/08/2019 hai bên thỏa thuận lãi suất là 18,9%/năm và khoản vay theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm hai bên thỏa thuận lãi suất là 29.5%/năm. Sự thỏa thuận của các bên về lãi suất là phù hợp với quy định tại Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng nên việc Ngân hàng yêu cầu ông H phải có trách nhiệm trả lãi tính đến 21/5/2024 là 1.005.110.710đồng, tiếp tục trả lãi phát sinh trên dư nợ gốc kể từ ngày 22/5/2024 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ theo mức lãi suất quy định tại các hợp đồng tín dụng hạn mức và thẻ tín dụng là có căn cứ nên chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà D phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình về ly hôn, về chia tài sản chung là 20.000.000đồng và về nghĩa vụ nợ chung là 17.194.000đồng.
Ông H được miễn nộp án phí do là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí.
Ngân hàng phải chịu 300.000đ án phí đối với phần yêu cầu liên đới không được chấp nhận.
[5] Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ một phần như đã nhận định trên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 91, 92, 147, 264, 271, 273, 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 27, 33, 34, 37, 55, 58, 59, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 117, 118, 119, 318, 319, 323, 325, 463, 466 Bộ luật Dân sự 2015
- Căn cứ Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên Xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Ngọc D về việc xin ly hôn. Bà Lê Thị Ngọc D và ông Đỗ Công H ly hôn.
- Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con:
Bà Lê Thị Ngọc D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đỗ Kiến H1, sinh ngày 28/01/2010 (hiện đang sống với bà D).
Ông Đỗ Công H cấp dưỡng nuôi con Đỗ Kiến H1 mỗi tháng là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Ông Đỗ Công H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Đối với con chung tên Đỗ Thục U, sinh năm 2000 đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết. - Về chia tài sản chung: Chấp nhận một phần yêu cầu chia tài sản chung của ông Đỗ Công H.
Bà Lê Thị Ngọc D được chia 400.000.000đồng (bà D đang giữ)
Ông Đỗ Công H được chia 200.000.000đồng. Buộc bà bà Lê Thị Ngọc D giao lại cho ông Đỗ Công H 200.000.000đồng (Hai trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu trả tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. - Về nợ chung: Chấp nhận một phần yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1;
- Buộc ông Đỗ Công H - Chủ Doanh Nghiệp Tư Nhân H3 và bà Lê Thị Ngọc D liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 số tiền nợ gốc là 367.680.000đồng, nợ lãi là 392.044.560đồng. Tổng số tiền vốn, lãi phải trả tính đến ngày 21/5/2024 là 759.724.560đồng (B1 trăm năm mươi chín triệu bảy trăm hai mươi bốn ngàn năm trăm sáu mươi đồng).
- Ông Đỗ Công H - Chủ Doanh Nghiệp Tư Nhân H3 và bà Lê Thị Ngọc D còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán từ ngày 22/5/2024 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số SME/DTP/17/0008/HDTD ngày 24/02/2017 cho đến khi thanh toán nợ xong;
- Buộc ông Đỗ Công H trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 số tiền nợ gốc là 679.475.404đồng; nợ lãi là 1.005.110.710đồng. Tổng số tiền vốn, lãi phải trả tính đến ngày 21/5/2024 là 1.684.586.114đồng (Một tỷ sáu trăm tám mươi bốn triệu năm trăm tám mươi sáu ngàn một trăm mười bốn đồng).
- Ông Đỗ Công H còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán từ ngày 22/5/2024 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận Hợp đồng tín dụng hạn mức số VLG/19/001/HĐHM ngày 20/08/2019; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm số SME/VLG/19/004/TTD ngày 29/08/2019 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Đỗ Công H - Chủ Doanh Nghiệp Tư Nhân H3 và bà Lê Thị Ngọc D phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí:
- Bà Lê Thị Ngọc D phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) và 20.000.000đồng án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị tài sản được chia và 17.194.000đồng án phí về nghĩa vụ trả nợ chung.
Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, bà Lê Thị Ngọc D đã nộp ngày 15/02/2023 theo biên lai thu số 0015027 được khấu trừ toàn bộ án phí phải nộp. Bà Lê Thị Ngọc D còn phải nộp tiếp số tiền là 37.194.000đồng.
- Ông Đỗ Công H được miễn nộp tiền tạm ứng án phí và án phí sơ thẩm, do là người cao tuổi và có đơn yêu cầu miễn nộp.
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 39.233.500đồng ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 đã nộp ngày 21/02/2024 theo biên lai thu số 0003996 được khấu trừ váo án phí phải nộp. Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 được nhận lại 38.933.500đồng
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ | |
Nguyễn Thị T |
Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC về tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung, nợ chung khi ly hôn.
- Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung, nợ chung khi ly hôn.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bên a bên b yêu cầu chia tài sản