|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST Ngày 15-5-2024 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thêu;
Bà Hoàng Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Dung – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 129/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 37/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1996.
- Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Quang D, sinh năm 1993
- Nơi đăng ký HKTT: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Hiện anh D đang lao động tại Đài Loan.
(Các đương sự đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Nguyễn Thị H trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Quang D tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 21/8/2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống cùng bố mẹ chồng tại thôn Q, xã T. Chị và anh D chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh D không chung thuỷ, có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác thường chửi bới và đánh đập chị. Chị đã nhiều lần tha thứ và khuyên giải nhưng anh D không thay đổi. Cuối năm 2016, chị và hai con chung chuyển về nhà bố mẹ đẻ của chị tại thôn V, xã T, tỉnh Thái Bình sinh sống. Đến năm 2017, anh D đi lao động tại Đài Loan, năm 2018 chị H đi lao động tại Nhật Bản, hai người không liên lạc và không quan tâm đến nhau. Chị và anh D đã sống ly thân từ cuối năm 2016 đến nay, chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D.
+ Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 21/10/2014 và cháu Nguyễn Quang A, sinh ngày 21/10/2016. Hiện nay cháu Nguyễn Thị Trà M đang được bố mẹ anh D nuôi dưỡng, cháu Nguyễn Quang A đang được bố mẹ chị H nuôi dưỡng. Hai con chung của anh chị đang được học tập đầy đủ, phát triển tốt. Hiện nay chị H và anh D đều lao động ở nước ngoài, các con chung đang sinh sống ổn định cùng ông bà nên đề nghị Tòa án giao con chung Nguyễn Thị Trà M cho anh D nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Quang A cho chị H nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung vợ chồng chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Quang D vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Toà án tiến hành thu thập lời khai của bà Mai H1, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (là mẹ đẻ của anh D), bà H1 trình bày: Chị H và anh D, đăng ký kết hôn năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Vợ chồng anh D ly thân từ khi anh D đi Đài Loan. Phía gia đình chị H không vun vén hạnh phúc cho hai vợ chồng nên anh D và chị H dần không còn tình
cảm và không quan tâm đến nhau. Anh D và chị H có 02 người con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M sinh năm 2014 và cháu Nguyễn Quang A sinh năm 2016. Hiện nay cháu Trà M đang sinh sống cùng gia đình bà H1, cháu Quang A đang sinh sống cùng bố mẹ chị H. Hiện nay cả anh D và chị H đang sinh sống ở nước ngoài, đề nghị Toà án giao cháu Trà M cho anh D nuôi dưỡng, giao cháu Quang A cho chị H nuôi dưỡng. Bà H1 được biết chị H và anh D không có tài sản chung, nợ chung, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Toà án tiến hành thu thập lời khai của bà Hà Thị T, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (là mẹ đẻ của chị H), bà T trình bày: Từ khi chị H đi lao động ở nước ngoài bà T trực tiếp chăm sóc cháu Nguyễn Quang A. Cháu Quang A được học tập đầy đủ, phát triển tốt. Bà T đề nghị Tòa án giao con chung Nguyễn Quang A cho chị H nuôi dưỡng để chị H ủy quyền cho bà T tiếp tục nuôi cháu Quang A.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về nội dung, có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- [1.1] Hiện tại chị H đang lao động ở Nhật Bản và anh D đang lao động ở Đài Loan nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- [1.2] Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Quang D nhưng anh D không tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến; chị H có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh D là đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung:
- [2.1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Quang D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Qua ý kiến trình bày của chị H và bà H1 (mẹ đẻ của anh D) thể hiện thời điểm anh chị sống ly thân là
năm 2016. Sau khi anh chị mâu thuẫn căng thẳng, chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, anh chị không có giải pháp để hàn gắn hôn nhân mà tình trạng hôn nhân đến nay vẫn căng thẳng trầm trọng. Như vậy khẳng định hôn nhân của anh chị nhiều mâu thuẫn, đời sống ly thân kéo dài, vợ chồng không hạnh phúc. Hội đồng xét xử thấy cần xử cho chị H ly hôn anh D là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Quang D có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 21/10/2014 và cháu Nguyễn Quang A, sinh ngày 21/10/2016. Hiện nay cháu Quang A đang sinh sống cùng bà ngoại, cháu Trà M đang sinh sống cùng bà nội. Mặc dù quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Quang D không có ý kiến trình bày nhưng xét thấy hiện nay cả chị H và anh D đều lao động ở nước ngoài, con chung đang do ông bà nuôi dưỡng và sinh sống ổn định, mẹ đẻ của chị H là bà Hà Thị T đề nghị Tòa án giao cho chị H nuôi cháu Quang A, mẹ đẻ của anh D là bà Mai H1 đề nghị Tòa án giao cho anh D nuôi cháu Trà M và cháu Trà M có nguyện vọng ở với bố, cháu Quang A có nguyện vọng ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Vì vậy, để ổn định cuộc sống cho con chung, cần giao cho chị H nuôi cháu Nguyễn Quang A, giao cho anh D nuôi cháu Nguyễn Thị Trà M là phù hợp.
Do chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
[2.3] Về chia tài sản: Chị H xác định vợ chồng anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
[2.4] Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a
khoản 5 Điều 27 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Quang D.
- Về nuôi con chung:
Giao cho chị Nguyễn Thị H nuôi con chung Nguyễn Quang A sinh ngày 21/10/2016; giao cho anh Nguyễn Quang D nuôi con chung Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 21/10/2014 . Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Chị H và anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về chia tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng chị H nộp tại biên lai số 0000032 ngày 01/11/2023 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Bình sang để thi hành án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Quang D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Kim Hằng |
Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
