Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 03/5/2024

V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Huỳnh Sinh và bà Nguyễn Thị Minh Trâm.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Việt Hùng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Mai Lý Lệ H - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 656/2023/TLVA-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn S, sinh năm 1981.

Nơi cư trú: Khu phố A, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1981.

Nơi cư trú: Khu phố A, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ông Nguyễn Tấn S trình bày:

Ông S và bà Nguyễn Thị Thu H1 chung sống với nhau vào năm 2000, không tổ chức lễ cưới hỏi, có đăng ký kết hôn ngày 11/12/2008 tại Ủy ban nhân dân phường V, TP . - T. Sau khi kết hôn vợ chồng ở chung với cha, mẹ chồng tại khu phố A, phường V. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, do bà H1 làm ăn gây ra nhiều nợ, bà H1 bỏ về nhà mẹ ruột từ năm 2016 đến nay, thỉnh thoảng mới về thăm con.

Trong thời gian ly thân vợ chồng ít gặp nhau, không ai đặt vấn đề quay lại sống chung. Nay, ông S không còn tình cảm với bà H1 nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà H1.

Về con chung: Ông và bà H1 có 02 người con chung: Nguyễn Hữu P, sinh ngày 10/6/2002 và Nguyễn Thanh T, sinh ngày 12/7/2006. Ông yêu cầu được trực tiếp nuôi con Nguyễn Thanh T và không yêu cầu bà H1 phải cấp dưỡng nuôi con. Cháu Nguyễn Hữu P đã trưởng thành, tự lao động được nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H1: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà H1 nhưng bà H1 vẫn vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt bị đơn.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Nguyễn Tấn S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H1. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú ở phường V, TP . - T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - T theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
    2. Đối với việc vắng mặt của bị đơn: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
  2. Về nội dung tranh chấp:
    1. Ông Nguyễn Tấn S và bà Nguyễn Thị Thu H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường V, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 148/2008 ngày 11/12/2008, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
    2. Về quan hệ hôn nhân, xét thấy: Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, từ năm 2016 đến nay ông S, bà H1 phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung, bà H1 đã về nhà mẹ ruột ở từ năm 2016 đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng không gặp nhau, không ai đặt vấn đề quay lại sống chung. Tình trạng mâu thuẫn giữa ông S và bà H1 được Ủy ban nhân dân phường V xác nhận ngày 16/01/2024. Bà H1 biết việc ông S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng không tham gia tố tụng thể hiện bà H1 không có thiện chí và không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xét thấy hôn nhân giữa ông S và bà H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
    3. Về con chung: Ông S và bà H1 có 02 con chung: Nguyễn Hữu P, sinh ngày 10/6/2002 và Nguyễn Thanh T, sinh ngày 12/7/2006. Cháu T hiện đang ở với ông S, được chăm sóc, giáo dục tốt; Ông S có công việc và thu nhập ổn định nên giao cháu T cho ông S trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ông S không yêu cầu bà H1 phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét. Cháu Nguyễn Hữu P đã trưởng thành, tự lao động được nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
    4. Tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn chưa yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xét.
  3. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố P - T tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  4. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Nguyễn Tấn S được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thu H1.
  2. Về con chung: Giao cho ông Nguyễn Tấn S được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung tên Nguyễn Thanh T, sinh ngày 12/7/2006. Bà H1 không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con do ông S không có yêu cầu.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  3. Về án phí: Ông Nguyễn Tấn S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) ông S đã nộp theo biên lai thu tiền số 0008518 ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. Ông Nguyễn Tấn S đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND TP. PR-TC;
  • - Chi cục THADS TP. PR-TC;
  • - UBND P. Văn Hải, TP. PR-TC
  • (GKH số 148 ngày 11/12/2008);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 03/05/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Tấn S yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bà Nguyễn Thị Thu H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger