|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 32/2024/DS-ST. Ngày: 05 - 9 - 2024. V/v “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ———————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Quỳnh Châu.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trường;
- Ông Nguyễn Công Hiến
- - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Tuấn - Thư ký Tòa án nhân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hoàng Thuỷ Tiên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 53/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Minh T; địa chỉ: Khu phố A, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Văn Q; địa chỉ: Khu phố 1, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (Giấy uỷ quyền ngày 15/5/2024). Có mặt.
Bị đơn: Ông Hoàng M và bà Trần Thị L; cùng địa chỉ: Khu phố E, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 06 tháng 11 năm 2021, bà Nguyễn Thị Minh T và vợ chồng ông, bà Hoàng M, Trần Thị L tiến hành ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng một phần thửa đất số 276, tờ bản đồ số 30, diện tích 154m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 853289, số vào số cấp Giấy chứng nhận CS 03880 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 07/10/2021 mang tên ông Hoàng M; địa chỉ thửa đất: Khu phố E, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Trong đó thoả thuận chuyển nhượng đất ở đô thị là 125m², còn lại là đất trồng cây hàng năm khác. Thời hạn đặt cọc: Do có biến động về diện tích nên phải làm thủ tục cấp đổi số mới, thời hạn đặt cọc phụ thuộc vào quy định của Nhà nước về cấp sổ mới. Sau khi cấp số xong sẽ tiến hành tách thửa và ký hợp đồng chuyển nhượng. Giá chuyển nhượng là 510.000.000 đồng. Diện tích cụ thể là: chiều rộng 7m, chiều dài 22m, có bản đồ tự vẽ dự kiến kèm theo. Ông M, bà L nhận số tiền đặt cọc 500.000.000 đồng, còn lại 10.000.000 đồng sẽ thanh toán khi ký hợp đồng chuyển nhượng, mỗi bên chịu 50% các loại thuế phí trong quá trình cấp đồi, tách thửa, chuyển nhượng, thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ, lệ phí cấp sổ.
Trong quá trình đó, bà T là người thực hiện các thủ tục về cấp đổi sổ cho ông Hoàng M và bà Trần Thị L. Bà T đã trực tiếp nộp các loại phí về cấp đổi số cho ông M, bà L. Ông M và bà L đã được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng khi ông M, bà L nhận được Giấy chứng nhận đã cấp đổi thì tự đi tách thửa và ngày 23/10/2023 đã tách thửa để chuẩn bị chuyển nhượng cho người khác với diện tích 339,7m² theo thửa mới là thửa số 345, tờ bản đồ số 25 đúng chính vị trí mà ông M, bà L thoả thuận chuyển nhượng cho bà T.
Như vậy, ông Hoàng M và bà Trần Thị L cố tình không chịu chuyển nhượng một phần diện tích đất cho bà T như đã thoả thuận mặc dù đã làm đủ thủ tục đảm bảo để chuyển nhượng được, theo quy định tại Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015, đối chiếu với trường hợp của bà T, bà T đã thực hiện gần 98% nghĩa vụ trả tiền.
Vì vậy, bà Nguyễn Thị Minh T khởi kiện yêu cầu giải quyết:
- + Buộc ông Hoàng M và bà Trần Thị L thực hiện Điều 1, 2 và 3 tại Hợp đồng đặt cọc ngày 06 tháng 11 năm 2021, chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất diện tích 7m x 22m, với 125m² đất ở đô thị, còn lại là đất trồng cây hàng năm khác tại thửa đất số 276, tờ bản đồ số 30 (nay là một phần diện tích của thửa đất số 170, tờ bản đồ số 25), tại khu phố E, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị cho bà Nguyễn Thị Minh T.
- + Trong trường không chuyển nhượng được, bà T yêu cầu Toà án buộc ông Hoàng M và bà Trần Thị L trả lại tiền cọc 500.000.0000 đồng và phạt cọc 100.000.000 đồng. Tổng cộng 600.000.000 (Sáu trăm triệu đồng).
Ngày 25/8/2024 và tại phiên toà, nguyên đơn có đơn trình bày: Rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Hoàng M và bà Trần Thị L thực hiện Điều 1, 2 và 3 tại Hợp đồng đặt cọc ngày 06 tháng 11 năm 2021, chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất diện tích 7mx22m, với 125m² đất ở đô thị, còn lại là đất trồng cây hàng năm khác tại thửa đất số 276, tờ bản đồ số 30 (nay là một phần diện tích của thửa đất số 170, tờ bản đồ số 25), tại khu phố E, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị cho bà Nguyễn Thị Minh T.
Yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc ông Hoàng M và bà Trần Thị L trả lại tiền cọc 500.000.0000 đồng và phạt cọc 100.000.000 đồng. Tổng cộng 600.000.000 (Sáu trăm triệu đồng).
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn ông Hoàng M và bà Trần Thị L trình bày:
Ông Hoàng M và bà Trần Thị L không ký hợp đồng đặt cọc ngày 06/11/2021. Các chữ ký, chữ viết tên Hoàng M, Trần Thị L và dấu vân tay trong hợp đồng đặt cọc ngày 06/11/2021 không phải là của ông Hoàng M và bà Trần Thị L. Ông M và bà L không có bản Hợp đồng đặt cọc này và không nhận tiền đặt cọc từ hợp đồng này.
Ông M và bà L trình bày ngày 11/9/2021 anh Ngô Văn T1 và chị Nguyễn Thị Minh T có ký hợp đồng đặt cọc với ông M và bà L để mua chung phần đất 14m x 22m trị giá 1.020.000.000 đồng của thửa đất số 276, tờ bản đồ số 30 (nay là một phần diện tích của thửa đất số 170, tờ bản đồ số 25). Ông M và bà L đã nhận tiền đặt cọc từ hợp đồng này là 770.000.000 đồng. Đến ngày 07/11/2021, ông M, bà L và chị Nguyễn Thị Kim C (vợ anh Ngô Văn T1) thống nhất ký lại hợp đồng đặt cọc với nội dung chị Nguyễn Thị Kim C nhận chuyển nhượng 7m x 22m của thửa đất số 276, tờ bản đồ số 30 (nay là một phần diện tích của thửa đất số 170, tờ bản đồ số 25), là một nửa phần đất mà anh T1 đã ký hợp đồng đặt cọc ngày 11/9/2021. Ông M, bà L và chị C thống nhất số tiền đặt cọc của chị C là 500.000.000 đồng trong số tiền 770.000.000 đồng mà ông M và bà L đã nhận ngày 11/9/2021.
Như vậy, ông M và bà L chỉ nhận của chị Nguyễn Thị Minh T 270.000.000 đồng trong lần ký hợp đồng đặt cọc ngày 11/9/2021. Ông M, bà L không biết và không hề nhận bản hợp đồng đặt cọc ngày 06/11/2021 như chị T khởi kiện.
Vì vậy, ông M và bà L chỉ đồng ý chuyển nhượng cho chị T 154m² (7m x 22m) trong đó có 125m² đất ở, còn lại là đất vườn, với điều kiện chị T phải trả thêm cho ông M bà L 230.000.000 đồng, hoặc nếu không chuyển nhượng nữa thì ông M và bà L chỉ đồng ý trả lại cho chị T 270.000.000 đồng. Ông Hoàng M và bà Trần Thị L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Minh T.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng các quy định về quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện nguyên đơn đã rút về việc buộc ông Hoàng M và bà Trần Thị L thực hiện Điều 1, 2 và 3 tại Hợp đồng đặt cọc ngày 06 tháng 11 năm 2021, chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất diện tích 7m x 22m với 125m² đất ở đô thị, còn lại là đất trồng cây hàng năm khác tại thửa đất số 276, tờ bản đồ số 30 (nay là một phần diện tích của thửa đất số 170, tờ bản đồ số 25), tại khu phố E, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị cho bà Nguyễn Thị Minh T.
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh T, buộc bị đơn ông Hoàng M và bà Trần Thị L trả cho nguyên đơn số tiền 600.000.000 đồng.
- Bị đơn ông Hoàng M và bà Trần Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ tranh chấp: Bà Nguyễn Thị Minh T khởi kiện yêu cầu ông Hoàng M và bà Trần Thị L trả lại số tiền đã đặt cọc và bồi thường do vi phạm hợp đồng đặt cọc nên xác định quan hệ “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn cư trú tại phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện và không trái pháp luật, nên cần đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện nguyên đơn đã rút.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện buộc trả lại tiền cọc:
Ông Hoàng M và bà Trần Thị L trình bày không ký Hợp đồng đặt cọc ngày 06/11/2021, các chữ ký, chữ viết “Hoàng M”, “Trần Thị L” và dấu vân tay tại hợp đồng không phải là của ông Hoàng M và bà Trần Thị L.
Tại Kết luận Giám định số 265/KL-KTHS ngày 12/8/2024 đã kết luận:
- - Chữ ký, chữ viết dưới chữ ký mang tên “Hoàng Minh” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A với các chữ ký, chữ viết dưới chữ ký mang tên “Hoàng Minh” trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu A1, A3, A4 do cùng một người ký, viết ra.
- - Chữ ký, chữ viết dưới chữ ký mang tên “Trần Thị L” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A với các chữ ký, chữ viết dưới chữ ký mang tên “Trần Thị L” trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu A1, A3, A4 do cùng một người ký, viết ra.
Tại Kết luận Giám định số 266/KL-KTHS ngày 12/8/2024 đã kết luận:
Dấu đường vân in tại trang 4 trên Hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/11/2021 giữa bà Nguyễn Thị Minh T với ông Hoàng M và bà Trần Thị L (Ký hiệu A) với dấu đường vân ghi tại ô Nhẫn phải ghi tên ông Hoàng M trên biên bản làm việc ngày 24/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đông Hà (Ký hiệu A1) là đường vân của cùng một người in ra.
Như vậy có căn cứ xác định, ông Hoàng M đã ký, viết tên của mình, lăn tay và bà Trần Thị L đã ký, viết tên của mình vào Hợp đồng đặt cọc ngày 06/11/2021 với bà Nguyễn Thị Minh T. Ông M và bà L cũng không chứng minh được việc đặt cọc là do bị ép buộc, hợp đồng đặt cọc thể hiện mỗi bên giữ một bản. Xét thấy, giao dịch đặt cọc giữa người đặt cọc là bà Nguyễn Thị Minh T với bên nhận tiền cọc là ông Hoàng M và bà Trần Thị L là giao dịch dân sự được giao kết trên cơ sở tự nguyện giữa các bên và phù hợp với quy định của pháp luật nên có hiệu lực và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.
Tại Điều 1, 3 của hợp đồng đặt cọc thể hiện bà Nguyễn Thị Minh T đặt cọc cho ông M và bà L 500.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng 154m² (7 x 22m), giá chuyển nhượng là 510.000.000 đồng, là một phần của thửa đất số 276, tờ bản đồ số 30 (nay là một phần diện tích của thửa đất số 170, tờ bản đồ số 25). Hai bên đã thống nhất: “Số tiền còn lại chưa thanh toán là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng chẵn). Tại phiên đối chất ngày 11/6/2024 và tại phiên toà, phía nguyên đơn trình bày: Tại hợp đồng đặt cọc ngày 11/9/2021 trước đó, bà T đã đặt cọc 270.000.000 đồng, sau này ký lại hợp đồng đặt cọc ngày 06/11/2021, bà T đã giao cho ông M bà L thêm số tiền 230.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đã giao cho ông Hoàng M và bà Trần Thị L là 500.000.000 đồng nên Hợp đồng đặt cọc ngày 06/11/2021 ghi số tiền đặt cọc là 500.000.000 đồng. Số tiền đặt cọc 270.000.000 đồng tại hợp đồng đặt cọc ngày 11/9/2021 và 230.000.000 đồng tại hợp đồng đặt cọc ngày 06/11/2021 là để nhận chuyển nhượng cùng một diện tích đất 7 x 22m trong đó có 125m² đất ở, còn lại là đất vườn tại thửa đất số 276, tờ bản đồ số 30 (nay là một phần diện tích của thửa đất số 17, tờ bản đồ số 25).
Tại Điều 6 Hợp đồng có ghi: Việc thanh toán tiền, bàn giao giấy tờ, thửa đất phải lập thành văn bản, có người làm chứng và chữ ký của hai bên. Theo nguyên đơn, khi tiến hành ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì việc thanh toán số tiền còn lại cũng như giao giấy tờ về quyền sử dụng đất, bàn giao thửa đất thực địa phải được lập thành văn bản. Xét thấy, trình bày của nguyên đơn có căn cứ chấp nhận, nội dung tại Điều 6 không làm thay đổi nội dung đã thống nhất tại Hợp đồng đặt cọc: Số tiền còn lại chưa thanh toán là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng chẵn).
Tại Biên bản ghi lời khai ngày 16/8/2024, ông Hoàng M thừa nhận có nhận của bà Nguyễn Thị Minh T 270.000.000 đồng từ hợp đồng đặt cọc ngày 11/9/2021.
Như vậy, có căn cứ chứng minh ông Hoàng M và bà Trần Thị L đã nhận của bà Nguyễn Thị Minh T số tiền 500.000.000 đồng để chuyển nhượng diện tích đất 154m² (7m x 22m) trong đó có 125m² đất ở, còn lại là đất vườn tại thửa đất số 276, tờ bản đồ số 30 (nay là một phần diện tích của thửa đất số 170, tờ bản đồ số 25).
Theo Điều 2 Hợp đồng đặt cọc thì thời hạn đặt cọc như sau: Do có biến động về diện tích nên phải làm thủ tục cấp đổi sổ mới, thời hạn đặt cọc đất phụ thuộc vào quy định của Nhà nước về cấp sổ mới. Sau đó, hai bên sẽ tới tổ chức công chứng để lập và công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Sau khi ký hợp đồng đặt cọc, bà T là người đi làm thủ tục cấp đổi sổ mới cho ông M và bà L. Ông M đã nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp đổi số DB 852413, thửa đất số 170, tờ bản đồ số 25; địa chỉ: Khu phố E, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị do Sở T cấp ngày 24/02/2022 mang tên ông Hoàng M, bà Trần Thị L vào thời điểm trước ngày 23/10/2023 nhưng không chuyển nhượng một phần diện tích đất cho bà T là vi phạm thoả thuận tại Điều 1, 2, 3 hợp đồng đặt cọc ngày 06/11/2021.
Vì vậy, bà Nguyễn Thị Minh T yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Hoàng M và bà Trần Thị L phải trả lại tiền đặt cọc 500.000.0000 đồng là có căn cứ.
[2.2] Về khoản tiền phạt cọc:
Tại Điều 4 của hợp đồng đặt cọc quy định: “...Nếu bên B từ chối giao kết và thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì trả lại cho bên A số tiền cọc và chịu phạt cọc số tiền gấp 2 lần đặt cọc”. Tuy nhiên, bà T chỉ yêu cầu tiền phạt cọc là 100.000.000 đồng. Xét thấy, yêu cầu của bà T là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
Như vậy, tổng số tiền đặt cọc và phạt cọc mà ông Hoàng M và bà Trần Thị L phải trả cho bà Nguyễn Thị Minh T là: 500.000.000 đồng + 100.000.000 đồng = 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng).
[3] Về chi phí giám định:
Bà Nguyễn Thị Minh T đồng ý chịu tiền chi phí giám định chữ ký và giám định đường vân là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) theo Phiếu thu số 266 và Phiếu thu số 267 cùng ngày 13/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q.
[4] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh T được chấp nhận nên ông Hoàng M và bà Trần Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền 600.000.000 đồng phải trả cho nguyên đơn là 28.000.000 đồng (Hai mươi tám triệu đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 280, Điều 328 của Bộ luật dân sự 2015, xử:
- - Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh T về việc buộc ông Hoàng M và bà Trần Thị L thực hiện Điều 1, 2 và 3 tại Hợp đồng đặt cọc ngày 06 tháng 11 năm 2021, chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất diện tích 7m x 22m, với 125m² đất ở đô thị, còn lại là đất trồng cây hàng năm khác tại thửa đất số 276, tờ bản đồ số 30 (nay là một phần diện tích của thửa đất số 170, tờ bản đồ số 25), cấp cho ông Hoàng M và bà Trần Thị L tại khu phố E, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị cho bà Nguyễn Thị Minh T, do bà Nguyễn Thị Minh T đã rút yêu cầu.
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh T về việc buộc ông Hoàng M và bà Trần Thị L trả cho bà Nguyễn Thị Minh T 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng). Trong đó: tiền đặt cọc là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) và tiền phạt cọc là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về chi phí giám định:
Bà Nguyễn Thị Minh T thoả thuận chịu tiền chi phí giám định chữ ký và giám định đường vân là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) theo Phiếu thu số 266 và Phiếu thu 267 ngày 13/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q. Bà Nguyễn Thị Minh T đã nộp đủ tiền chi phí giám định.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Ông Hoàng M và bà Trần Thị L phải chịu 28.000.000 đồng (Hai mươi tám triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị Minh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Minh T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000295 ngày 25/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đoàn Thị Quỳnh Châu |
Bản án số 32/2024/DS-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 32/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Minh T-Hoàng M+ Trần Thị L
