Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/DSST

Ngày: 28/6/2024

Về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất

và yêu cầu hủy giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Tấn Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Danh và ông Huỳnh Công Trí

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Ngô Tiểu Linh Đan – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Ninh Thị Huyền– Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 81/2019/TLST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2019 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-DS ngày 05/06/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn D, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.

Bị đơn: Ông Phạm Tấn M, sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Ủy quyền cho Ông Phạm Xuân P, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Thanh P1, sinh năm 1967; vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1988; vắng mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị Mỹ T1, sinh năm 1990; có mặt.
  4. Bà Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1993; vắng mặt.

Đồng cư trú tại: Thôn Phú Quý, xã An Chấn, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên

  1. Bà Phạm Thị H, 75 tuổi; nơi cư trú: Thôn C, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
  2. Bà Phạm Thị H1, 72 tuổi (chết tháng 3/2024); nơi cư trú: Thôn X, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
  3. Ông Phạm Xuân P, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  4. Bà Phạm Thị N, sinh năm 1957; vắng mặt.
  5. Ông Phạm Ngọc Á, sinh năm 1968; vắng mặt.
  6. Ông Phạm Xuân C, sinh năm 1972; vắng mặt.
  7. Ông Phạm Xuân M1, sin năm 1973; vắng mặt.
  8. Bà Phạm Thị G, sinh năm 1931; vắng mặt.
  9. Ông Bùi Minh Đ; vắng mặt.
  10. Ông Trần Ngọc T3; vắng mặt.
  11. Ông Phạm Ngọc B, sinh năm 1985; có mặt.

Đồng cư trú tại: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.

  1. Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
  2. Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 07/10/2018, tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn D trình bày: Ông được nhà nước giao đất theo Nghị định 64/CP trong đó có thửa đất số 525, tờ bản đồ 09 với diện tích 1380m², loại đất màu, tại xứ đồng Đất Gián thuộc thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; do điều kiện khó khăn nên ông cho bà Phạm Thị G, ông Bùi Minh Đ và ông Trần Ngọc T3 canh tác, đến năm 2016 thì ông Phạm Tấn M tranh chấp nên ông yêu cầu bị đơn phải nhổ cây trồng trả lại đất cho ông và Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Phạm T4 (cha của ông Phạm Tấn M).

Tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa bị đơn ông Phạm Tấn M trình bày: Diện tích đất tranh chấp là của ông bà để lại, trên đất có nhiều mồ mả của dòng họ ông nhưng sau đó có di dời một số về nghĩa trang của xã, quá trình sử dụng đất gia đình ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cha là ông Phạm T4, tại thửa số 525, tờ bản đồ 09, diện tích 1560m². Cha ông Phạm T4 chết năm 2011, mẹ bà Phan Thị T5 chết năm 2012, cha mẹ chết ông là người trực tiếp canh tác nhưng sau đó bỏ hoang sau đó ông thấy ông Đ trồng đỗ gạo trên đất nên tranh chấp với ông Đ. Năm 2016 ông canh tác trên đất thì nguyên đơn cản trở và hiện nay ông cho con ông là Phạm Ngọc B trồng bạch đàn trên toàn bộ đất tranh chấp, nên ông không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho nguyên đơn, vì cùng một thửa đất lại cấp cho cả nguyên đơn và bị đơn.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện T: Thực hiện nghị định 64/CP, UBND huyện T tiến hành giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, thửa đất 525 tờ bản đồ 09 tọa lạc tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên, nhưng thực tế thửa đất tranh chấp giao cho cả hai hộ đứng tên là hộ ông Nguyễn D và hộ ông Phạm T4 (Cha ông Phạm Tấn M); nên diện tích đất được cấp đứng tên cho 02 hộ gia đình là không đúng, nên yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Bùi Minh Đ, ông Trần Ngọc T3, bà Phạm Thị G đều trình bày có thời gian canh tác trên diện tích đất tranh chấp của ông Nguyễn D, chỉ làm được một thời gian ngắn rồi trả lại cho ông D vì đất quá xấu. Bà Nguyễn Thị Thanh T2, Nguyễn Thị Mỹ T1, Nguyễn Thị T đều trình bày như nguyên đơn; ông Phạm Ngọc B trình bày như bị đơn yêu cầu ông D phải trả lại giá trị cây bạch đàn do ông trồng.

Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Tại phiên tòa: Hai bên tự nguyện thỏa thuận ông Nguyễn D được quyền sử dụng đất 850m², ông Phạm Tấn M đại diên thừa kế cho ông Phạm T4 (chết) được quyền sử dụng đất 1097,2m² ; riêng khoản cây bạch đàn trên đất do ông M và ông Phạm Ngọc B trồng hai ông yêu cầu ông D trả lại giá trị 5.000.000đ theo biên bản định giá, nhưng ông D không đồng ý và yêu cầu bị đơn nhổ cây trả lại hiện trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX, người tham gia tố tụng là đúng qui định. Về nội dung vụ án: Đề nghị công nhận sự thỏa thuận của đương sự ông Nguyễn D được quyền sử dụng đất 850m²; ông Phạm Tấn M 1097,2m² ; buộc ông Nguyễn D trả giá trị cây bạch đàn có trên đất cho ông Phạm Ngọc B 5.000.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn tự nguyện thỏa thuận ông Nguyễn D được quyền sử dụng đất 850m²; ông Phạm Tấn M đại diện thừa kế ông Phạm T4 được quyền sử dụng đất 1097,2m² đều thuộc thửa đất số 525, tờ bản đồ số 9 tọa lạc tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; nên được ghi nhận theo trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 14/6/2024.

[2] Về tài sản trên diện tích đất 850m² có một số cây bạch đàn do ông Phạm Ngọc B trồng, hai bên đương sự đều thừa nhận nhưng nguyên đơn yêu cầu bị đơn tháo dỡ trả lại hiện trạng đất, bị đơn yêu cầu phải trả giá trị. Thấy rằng, theo như biên bản định giá tài sản lập ngày 17/11/2022 và yêu cầu của ông B đòi nguyên đơn trả giá trị cây bạch đàn có trên đất 5.000.000đ là phù hợp, nên giao cho ông D được sở hữu số cây bạch đàn và phải có trách nhiệm trả cho ông B 5.000.000đ (Năm triệu đồng)

Do hai bên thỏa thuận phân chia đất, nên cần kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Nguyễn D và ông Phạm T4, để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo thỏa thuận của các bên.

[3] Về chi phí đo đạc thẩm định tại chỗ, định giá và án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 166 Bộ luật dân sự; Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 100, 202, 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về án phí, lệ phí.

Tuyên xử:

  1. Công nhận sự thỏa thuận của hai bên đương sự tại phiên tòa ông Nguyễn D được quyền sở hữu một số cây bạch đàn gắn liền quyền sử dụng đất 850m²; ông Phạm Tấn M đại diện cho những người thừa kế của ông Phạm T4 gồm (Phạm Thị H, Phạm Thị H1, Phạm Thị N, Phạm Tấn M, Phạm Xuân P, Phạm Ngọc Á, Phạm Xuân C, Phạm Xuân M2 ) được quyền sử dụng đất 1097,2m², trên đất có 03 ngôi mộ diện tích 43,8 m² đều thuộc thửa số 525 tờ bản đồ số 9 tọa lạc tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên (Kèm theo mảnh đo hiện trạng sử dụng đất lập ngày 14/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P).
  2. Buộc ông Nguyễn D phải trả cho ông Phạm Ngọc B 5.000.000đ về giá trị một số cây bạch đàn có trên diện tích 850m² giao cho ông Nguyễn D.

Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 23/PT2 do UBND huyện T cấp ngày 25/12/1997 đứng tên ông Phạm T4 ; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không số do UBND huyện T cấp ngày 24/5/1997 đứng tên ông Nguyễn Văn D1 (Nguyễn D1) và cấp lại quyền sử dụng đất cho các bên theo thỏa thuận khi có yêu cầu.

  1. Về chi phí thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản: Mỗi bên phải chịu 5.000.000đ, ông Nguyễn D1 đã nộp tạm ứng nên ông Phạm Tấn M đại diện thừa kế của ông Phạm T4 phải hoàn trả lại cho ông D1 5.000.000đ (Năm triệu đồng).
  2. Về án phí:

Ông Nguyễn D1 phải chịu 300.000đ án phí DSST. Đã nộp ở biên lai thu tiền số 0007484 ngày 10/12/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy An.

Bị đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí DSST.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND CC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Phú Yên;
  • - P. GĐKT;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Mai Tấn Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/DSST ngày 28/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 32/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn D và ông Phạm Tấn M
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger