|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2024/DS-ST
Ngày: 27/5/2024
V/v tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐÓC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.
Các hội thẩm nhân dân.
- - Ông Phạm Phước Cường;
- - Ông Nguyễn Văn Bằng.
Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Thoa, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 303/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2024/QĐST-DS ngày 26/4/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 74/2024/QĐST-DS ngày 16/5/2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 11/TB-MLPT ngày 21/5/2024, giữa:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Bích N (L), sinh năm 1993; địa chỉ: số E, tổ A, ấp V, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Bà Lê Thị Tường Â, sinh năm 2001; địa chỉ: số B đường V, khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.
Bà N có mặt tại phiên tòa, bà Â vắng mặt tại phiên tỏa.
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Bích N trình bày: Bà N có tham gia 03 dây hụi do bà Lê Thị Tường  làm chủ, cụ thể như sau:
- Dây hụi thứ nhất: hụi 3.000.000 đồng/tháng, gồm 12 phần, hụi mở ngày 02/02/2023, kết thúc ngày 02/01/2024, bà tham gia 02 phần. Bà góp hụi sống được 09 lần là 2.500.000 đồng/phần x 2 phần x 09 lần = 45.000.000 đồng. Tiền lãi của dây hụi này là 9.000.000 đồng. Tổng cộng 54.000.000 đồng (1).
- Dây hụi thứ hai: hụi 5.000.000 đồng/tháng, gồm 11 phần, hụi mở ngày 06/4/2023, kết thúc ngày 06/02/2024, bà tham gia 01 phần. Bà góp hụi sống được 07 lần là 4.000.000 đồng x 7 lần = 28.000.000 đồng. Tiền lãi của dây hụi này là 7.000.000 đồng. Tổng cộng 35.000.000 đồng (2).
- Dây hụi thứ ba: hụi 5.000.000 đồng/tuần, gồm 10 phần, hụi mở ngày 16/9/2023, kết thúc ngày 18/11/2023, bà tham gia 01 phần. Bà góp hụi sống được 04 lần là 4.300.000 đồng x 4 lần = 17.200.000 đồng. Tiền lãi của dây hụi này là 2.800.000 đồng. Tổng cộng 20.000.000 đồng (3).
- Bà N có mua 01 phần hụi trong dây hụi 5.000.000 đồng/tháng với số tiền là 34.000.000 đồng. Tiền lãi của dây hụi này là 3.500.000 đồng. Tổng cộng 37.500.000 đồng (4).
Ngày 14/10/2023, bà Â tuyên bố bể hụi và ngưng mở hụi đối với các dây hụi này. Tổng số tiền hụi mà bà Â nợ lại bà đối với các dây hụi trên là 146.500.000 đồng. Bà N yêu cầu bà Â có trách nhiệm trả lại số tiền 146.500.000 đồng
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện: danh sách hụi (bản photo), giấy xác nhận nợ (bản photo).
Theo lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Lê Thị Tường Á trình bày: xác định bà Huỳnh Thị Bích N có tham gia các dây hụi do bà làm chủ hụi theo các dây hụi và mua hụi bao gồm vốn gốc và tiền lãi như bà N trình bày, thống nhất có nhận và còn nợ hụi của bà N số tiền 146.500.000 đồng. Tuy nhiên, hiện nay hoàn cảnh khó khăn, đang nuôi con nhỏ nên xin bà N cho trả số tiền vốn gốc hụi theo giấy nhận nợ ngày 20/10/2023 là 127.700.000 đồng, xin trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết số tiền còn nợ.
Tại phiên tòa,
- - Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Bích N yêu cầu bà Lê Thị Tường  trả vốn gốc tiền hụi và mua hụi tổng cộng là 127.700.000 đồng, tính lãi chậm trả theo quy định pháp luật từ tháng 10/2023 cho đến khi xét xử xong; xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.
- - Chủ tọa công bố lại lời khai của bị đơn Lê Thị Tường  trong quá trình giải quyết.
- - Ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Năm 2023, bà N có tham gia chơi các dây hụi do bà Â làm chủ, cụ thể:
- Dây hụi 3.000.000 đồng/tháng, khởi khui ngày 02/02/2023, tham gia 02phần, đóng hụi được 9 kỳ. Ân hiện nợ vốn, lãi hụi 54.000.000 đồng (Vốn hụi 45.000.000 đồng);
- Dây hụi 5.000.000 đồng/tháng, khởi khui ngày 06/4/2023, tham gia 01 phần, đã đóng hụi được 7 kỳ. Ân hiện nợ vốn, lãi hụi 35.000.000 đồng (Vốn hụi 28.000.000 đồng);
- Dây hụi 5.000.000 đồng/tuần, khởi khui ngày 16/4/2023, tham gia 01 phần, đã đóng hụi được 04 kỳ. Ân hiện nợ vốn, lãi hụi 20.000.000 đồng (Vốn hụi 17.200.000 đồng).
Ngoài ra, bà N còn mua lại của bà Â một phần hụi, hiện bà Â nợ vốn, lãi hụi 37.500.000 đồng (Vốn hụi 34.000.000 đồng).
Tổng cộng các phần hụi vốn, lãi bà Â nợ bà N là 146.500.000 đồng (trong đó, vốn hụi đã góp 127.700.000 đồng).
Ngày 20/10/2023 bà Â và bà N có lập giấy xác nhận nợ, chốt số tiền bà Â nợ N là 127.700.000 đồng, cam kết trả 2.000.000 đồng/tháng.
Do bà Â không trả nợ nên bà N khởi kiện yêu cầu bà Â trả vốn gốc hụi và lãi hụi là 146.500.000 đồng.
Tại phiên tòa bà N yêu cầu  trả vốn hụi 127.700.000 đồng và lãi chậm thanh toán từ tháng 10/2023 đến ngày xét xử.
Bị đơn bà Â thừa nhận có làm chủ các dây hụi bà N tham gia, hiện bể hụi và hụi đã mãn, bà còn nợ bà N số tiền vốn, lãi hụi 146.500.000 đồng nhưng sau đó ngày 20/10/2023 bà N có làm giấy xác nhận nợ, xác nhận số tiền vốn hụi 127.700.000 đồng yêu cầu bà trả. Do hoàn cảnh khó khăn bà xin trả số tiền vốn hụi 127.700.000 đồng, xin trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng.
Giao dịch dân sự góp hụi giữa bà N và bà Â được giao kết trên tinh thần tự nguyện thỏa thuận, không vi phạm điều cấm của pháp luật nên phát sinh quyền và nghĩa vụ các bên, do bà Â vi phạm nghĩa vụ chủ hụi. Do đó, việc phía bà N yêu cầu trả nợ hụi đã góp là có căn cứ. Tuy nhiên, ngày 20/10/2023 các bên có chốt lại số tiền nợ hụi 127.700.000 đồng. Nên xét chấp nhận số tiền nợ bị đơn bà Â trả 127.700.000 đồng (theo quy định tại các Điều 18 Nghị định 19/NĐ – CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Điều 351, Điều Điều 471 BLDS năm 2015).
Đối với yêu cầu trả lãi chậm thanh toán từ ngày 20/10/2023 đến ngày xét xử, thấy rằng tại giấy xác nhận nợ bà Â cam kết trả nợ nhưng đến nay không thực hiện. Do đó, bà N yêu cầu trả lãi chậm thực hiện nghĩa vụ là có cơ sở chấp nhận.
Đối với yêu cầu của bà Â xin trả dần mỗi tháng 2000.000 đồng/tháng cho đến khi dứt nợ, không được phía bà N chấp nhận nên không có căn cứ để xem xét giải quyết.
Từ những cơ sở phân tích trên, Căn cứ các Điều 18 Nghị định 19/NĐ – CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Điều 351, Điều Điều 471 BLDS năm 2015, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền vốn 127.700.000 đồng và lãi chậm trả từ ngày 20/10/2023, đề nghị HĐXX xem xét quyết định
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Huỳnh Thị Bích N khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị Tường  trả nợ hụi. Bà  đang cư trú trên địa bàn thành phố C nên yêu cầu khởi kiện của bà N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn Lê Thị Tường  đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Lê Thị Tường Â.
* Về nội dung:
[3] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng:
Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Bích N cho rằng, bà N có tham gia 03 dây hụi và mua hụi do bà Â làm chủ gồm: dây hụi 3.000.000 đồng/tháng, mở ngày 02/02/2023, bà N tham gia 02 phần; dây hụi 5.000.000 đồng/tháng, mở ngày 06/4/2023, bà N tham gia 01 phần; dây hụi 5.000.000 đồng/tuần, mở ngày 16/9/2023, bà N tham gia 01 phần; mua 01 phần hụi trong dây hụi 5.000.000 đồng/tháng. Đến thời điểm ngưng các dây hụi, bà Â nợ bà N tổng số tiền hụi (vốn, lãi) là 146.500.000 đồng. Tại phiên tòa, bà N xác định vốn gốc hụi là 127.700.000 đồng.
Quá trình giải quyết, bị đơn bà Lê Thị Tường  thừa nhận có làm chủ 03 dây hụi như bà N trình bày, bà N có tham gia 06 dây hụi này. Bà  thừa nhận còn nợ bà N số tiền hụi đã đóng và mua hụi như bà N trình bày.
Giao dịch dân sự về hụi giữa bà Huỳnh Thị Bích N và bà Lê Thị Tường  được thực hiện trên cở sở thỏa thuận tự nguyện, khóng trái pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia góp họ, hụi.
[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Vốn gốc hụi: Theo đơn khởi kiện, bà N yêu cầu bà Â trả số tiền nợ hụi vốn, lãi 146.500.000 đồng, tại phiên tòa, bà N xác định vốn gốc hụi là 127.700.000 đồng và yêu cầu bà Â trả vốn gốc và tiền lãi theo quy định của pháp luật. Bà Â trong quá trình giải quyết cũng thừa nhận còn nợ và đồng ý trả khoản nợ hụi nhưng xin trả vốn gốc hụi là 127.700.000 đồng. Do đó, cần xác định vốn gốc hụi và mua hụi bà Â còn thiếu bà N là 127.700.000 (một trăm hai
mươi bảy triệu, bảy trăm nghìn) đồng, chấp nhận yêu cầu trả vốn gốc của bà N.
Tiền lãi: Theo đơn khởi kiện bà N cũng có yêu cầu tính lãi hụi và tại phiên tòa, bà N yêu cầu tính lãi chậm trả theo quy định pháp luật. Theo giấy xác nhận nợ giữa bà N và bà Â, bà Â đồng ý trả nợ vốn gốc hụi cho bà N nhưng không thực hiện theo thỏa thuận. Do đó, việc bà N yêu cầu tính lãi chậm trả trên số tiền vốn gốc hụi từ tháng 10/2023 cho đến ngày xét xử xong là có căn cứ chấp nhận. Tiền lãi được tính như sau: 127.700.000 đồng x 10%/năm x 07 tháng = 7.449.000.166 đồng làm tròn 7.449.000 (bảy triệu, bốn trăm bốn mươi chín nghìn) đồng.
Theo đơn khởi kiện bà N yêu cầu bà Â trả số tiền 146.500.000 đồng bao gồm vốn gốc hụi và lãi. Tại phiên tòa, bà N xác định số tiền vốn hụi 127.700.000 đồng yêu cầu cầu bà Â trả, nên thay đổi yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu bị đơn trả vốn hụi với số tiền là 127.700.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật tính từ khi các bên xác nhận nợ và thỏa thuận trả tháng 10/2023 đến nay là 7.449.000 đồng. Xét, yêu cầu trả nợ của bà N có sự thay đổi nhưng yêu cầu này không vược quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Trách nhiệm trả nợ: Bà Â là chủ hụi, đã nhận đủ tiền hụi do bà N đóng nhưng vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi. Do đó, việc bà N yêu cầu bà Â trả vốn gốc hụi và tiền lãi chậm trả theo quy định pháp luật là có căn cứ chấp nhận. Do đó, buộc bà Â có trách nhiệm trả cho bà N vốn gốc hụi và tiền lãi là 135.149.000 (một trăm ba mươi lăm triệu, một trăm bốn mươi chín nghìn) đồng (trong đó, vốn gốc hụi 127.700.000 đồng, tiền lãi 7.449.000 đồng) theo quy định tại các Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Về phương thức thanh toán:
Bà Â yêu cầu được trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi dứt nợ nhưng không được bà N chấp nhận. Cho nên, phương thức thanh toán sẽ được xem xét trong giai đoạn thi hành án.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:
Bà Lê Thị Tường  có trách nhiệm trả nợ thì phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối là 6.757.500 (sáu triệu, bảy trăm năm mươi bảy nghìn, năm trăm) đồng.
Bà Huỳnh Thị Bích N được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho bà N số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Các Điều 147 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Bích N.
Buộc bà Lê Thị Tường  có trách nhiệm trả cho bà Huỳnh Thị Bích N số nợ hụi 135.149.000 (một trăm ba mươi lăm triệu, một trăm bốn mươi chín nghìn) đồng (trong đó, vốn gốc hụi 127.700.000 đồng, tiền lãi 7.449.000 đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Lê Thị Tường  phải chịu 6.757.500 (sáu triệu, bảy trăm năm mươi bảy nghìn, năm trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Huỳnh Thị Bích N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà N số tiền tạm ứng án phí 3.663.000 đồng mà bà N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003124 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc cấp ngày 27 tháng 12 năm 2023.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Thời hạn kháng cáo của bị đơn vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thanh Ngọc |
Bản án số 32/2024/DS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi
- Số bản án: 32/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Bích Ngọc khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi với bị đơn bà Lê Thị Tường Ân
