Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN HƯNG

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/DS-ST

Ngày: 17-9-2024

V/v tranh chấp “Hụi và đòi tài sản”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG – TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Chí Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trương Quang Trung.
  2. Bà Đặng Thị Thu Vui.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Thu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bé Thơ – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 57/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Hụi và đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Dương Thanh V, sinh năm: 1979; Địa chỉ: Số E đường H, khu phố E, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Bị đơn:
    • - Ông Lê Văn H.
    • - Bà Đoàn Thị N, sinh năm: 1990.

    Địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện T, tỉnh Long An.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Thúy H1, sinh năm: 1980;
  4. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

(Ông V, bà H1 có mặt, ông H, bà N vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 27/3/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn ông Dương Thanh V trình bày:

Ngày 30/9/2023, bà Đoàn Thị N (Đoàn Thị Út M) và ông Lê Văn H có tham gia chơi 01 phần hụi 1.000.000 đồng do ông làm đầu thảo (trong giấy hụi ghi tên Út N1, số thứ tự 01), 01 tháng mở hụi một lần, hụi có 11 người tham gia và có 11 phần. Bà N1, ông H lĩnh hụi đầu tiên, ông đã giao cho bà N1, ông H số tiền 6.600.000 đồng, bà N1 ký tên lĩnh hụi. Bà N1, ông H phải góp lại hụi 10 lần, tính đến ngày 27/3/2024 thì bà N1, ông H còn nợ 04 lần góp hụi với số tiền 4.000.000 đồng.

Ngày 15/11/2023, bà Đoàn Thị N (Đoàn Thị Út M) và ông Lê Văn H có tham gia chơi 02 phần hụi 2.000.000 đồng do ông làm đầu thảo (trong giấy hụi ghi tên Út N1, số thứ tự 01 và 02), 01 tháng mở hụi một lần, hụi có 10 người tham gia và có 11 phần. Bà N1, ông H lĩnh hụi đầu tiên, trừ phần hụi còn lại của bà N1, ông H và tiền đầu thảo ông đã giao cho bà N1, ông H số tiền 11.600.000 đồng, bà N1 ký tên lĩnh hụi. Như vậy, bà N1, ông H phải góp lại hụi 10 lần. Đến lần mở hụi thứ hai thì bà N1, ông H tiếp tục lĩnh hụi, trừ phần hụi đã lãnh lần 01 của bà N1, ông H và tiền đầu thảo ông đã giao cho bà N1, ông H số tiền 11.600.000 đồng, bà N1 ký tên lĩnh hụi. Như vậy, bà N1, ông H phải góp lại hụi 09 lần. Tính đến ngày 27/3/2024 thì bà N1, ông H còn nợ 03 lần góp hụi với số tiền 12.000.000 đồng (03 lần x 02 phần x 2.000.000 đồng = 12.000.000 đồng).

Bà N1, ông V nhiều lần góp hụi trễ nên ông phải cho bà N1, ông Vũ m tiền để góp hụi, bà N1 có ký biên nhận mượn tiền.

Tổng số tiền hụi bà N1, ông H phải góp lại cho ông là 20.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, ông Vũ x thay đổi yêu cầu khởi kiện, ông V yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đoàn Thị N phải trả cho ông số tiền 20.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.

Bị đơn bà Đoàn Thị N và ông Lê Văn H vắng mặt nên không có ý kiến trình bày:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thúy H1 trình bày: Bà thống nhất theo nội dung trình bày của ông V, bà có chuyển tiền hụi dùm ông V cho bà N thông qua số tài khoản đứng tên Lê Văn H (bà N nói là chồng bà vì bà không có sử dụng tài khoản ngân hàng), bà chuyển 03 lần với tổng số tiền cụ thể ngày 01/11/2023 bà chuyển số tiền 6.600.000 đồng của dây hụi 1.000.000 đồng, ngày 18/11/2023 chuyển số tiền dây hụi 2.000.000 đồng số tiền 11.620.000 đồng, ngày 18/12/2023 chuyển số tiền dây hụi 2.000.000 đồng còn lại (dây hụi 2.000.000 đồng bà N chơi 02 phần) số tiền 11.620.000 đồng. Tổng cộng bà đã chuyển dùm cho ông V số tiền 29.840.000 đồng, ông V đã trả tiền lại cho bà nên bà không có tranh chấp gì trong vụ án này.

Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải giữa các đương sự nhưng không hòa giải được do bà N, ông H vắng mặt.

Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán là đúng theo quy định; Hội đồng xét xử đều đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án:

Ông Dương Thanh V yêu cầu bà N phải trả cho ông tổng số tiền nợ hụi chết và tiền mượn tính đến ngày 27/3/2024 là 20.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất là có cơ sở chấp nhận, bởi vì: Bà N có tham gia 02 dây hụi do ông V làm đầu thảo, dây 1 khui vào ngày 30/10/2023, hụi 1.000.000 đồng bà N đã lĩnh hụi và có góp lại 01 lần hụi, tính tới ngày 27/3/2024 bà N còn nợ ông V 04 lần hụi với số tiền 4.000.000 đồng; dây 2 khui ngày 15/11/2023, hụi 2.000.000 đồng bà N tham gia 02 phần, đã lĩnh hết 02 phần hụi và nhận tiền, bà N không góp hụi lại ông V, tính đến ngày 27/3/2024 bà N còn nợ ông V 03 lần góp hụi của 02 phần là 12.000.000 đồng, tổng cộng bà N còn nợ ông V số tiền 16.000.000 đồng hụi tính đến ngày 27/3/2024. Căn cứ vào “biên nhận không ghi ngày” có chữ ký của bà N thể hiện bà N có mượn của ông V số tiền 4.000.000 đồng. Ông H và bà N không phải là vợ chồng hợp pháp và ông V không ký nhận các biên nhận mượn tiền cũng như tham gia hụi nên không buộc ông H phải liên đới với bà N trả tiền theo yêu cầu ông V. Do đó, yêu cầu của ông V được chấp nhận, bà N phải trả cho ông V số tiền nợ hụi và tiền mượn tổng cộng là 20.000.000 đồng theo quy định tại Điều 13, Điều 18 19/2019/NĐ-CP19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường và Điều 463, Điều 466, Điều 471 Bộ luật dân sự 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng thụ lý và giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà N, ông H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến, Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được theo khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Sau khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bà N, ông V nhưng bà N và ông V vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Vũ x thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện. Xét thấy, việc ông Vũ x thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện là phù hợp theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ông V yêu cầu bà N phải trả số tiền nợ hụi và tiền mượn là 20.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.

[3] Hội đồng xét xử nhận định:

[3.1] Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành sao gửi chứng cứ do ông Dương Thanh V cung cấp là 03 giấy nhận tiền có ký và ghi tên Đoàn Thị N cho bị đơn tiếp cận chứng cứ theo quy định của pháp luật. Đồng thời, Tòa án tiến hành thông báo kết quả phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ cho bị đơn biết. Tuy nhiên, bị đơn không phản đối với chứng cứ do ông V cung cấp và bị đơn cũng không cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc không có nhận tiền của ông V. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án công nhận tình tiết này là sự thật.

Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh".

[3.2] Theo xác nhận của Ủy ban nhân dân xã H, huyện T thì bà N vẫn thường xuyên có mặt tại địa phương nhưng bà N vắng mặt không có lý do trong quá trình Tòa án tiến hành điều tra thu thập chứng cứ, hòa giải và tại phiên toà hôm nay mặc dù đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ, bà N đã tự từ bỏ quyền tranh tụng tại toà để bảo vệ quyền lợi cho mình.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà N nợ tiền hụi và tiền mượn của ông V là có thật. Nay ông V yêu cầu bà N phải trả tổng số tiền 20.000.000 đồng (16.000.000 đồng tiền hụi + 4.000.000 đồng tiền mượn = 20.000.000 đồng) là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại các Điều 166, 471 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị định số 19/2019/NĐ-CP19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.

[3.3] Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng là có căn cứ chấp nhận.

[3.4] Về án phí: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Do yêu cầu của ông V được chấp nhận nên bà N phải chịu 5% tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho ông V.

Ông V không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho ông V.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 235 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 166, 471, 357, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Nghị định số 19/2019/NĐ-CP19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Thanh V đối với bà Đoàn Thị N về việc tranh chấp “Hụi và đòi tài sản”.

    Bà Đoàn Thị N phải có nghĩa vụ trả cho ông Dương Thanh V số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  2. Về án phí:

    Bà Đoàn Thị N phải chịu 1.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Ông Dương Thanh V không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho ông V 500.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo các biên lai thu số 0002049 ngày 04/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hưng, tỉnh Long An.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND huyện/tỉnh;
  • - Chi cục THADS;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Chí Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG TỈNH LONG AN về hụi và đòi tài sản

  • Số bản án: 32/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hụi và đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Dương Thanh V yêu cầu bà Đoàn Thị N trả tiền hụi, vay
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger