Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/DS-ST

Ngày 09 - 7 - 2024

V/v tranh chấp “quyền sử dụng đất và

hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Giang Thị Cẩm Thuý

Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Hùng

Bà Liêu Bích Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Minh Thu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Diễm Lệ - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 100/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2023, về việc tranh chấp “quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm số 33/2024/QĐ-ST ngày 10 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân huyện P. Địa chỉ: Ấp H, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
  2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T2, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P.

  3. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964.
  4. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1967.
  5. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1965.
  6. Anh Nguyễn Phương T3.
  7. Chị Nguyễn Nhã L.
  8. Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1979.
  9. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1983.

Cùng địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

  1. Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1974. Địa chỉ: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

(chị T, anh T1, bà N, anh Đ, anh H có mặt; Ủy ban nhân dân huyện P, anh X, anh Ú, anh Q có yêu cầu xét xử vắng mặt; các đương sự còn lại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T yêu cầu công nhận diện tích đất được đo đạc thực tế 7.587,3m² tại thửa đất số 456, tờ bản đồ số 9, đất tọa lạc tại Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu; yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 7.587,3m² tại thửa đất số 456, tờ bản đồ số 9 do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là Ủy ban nhân dân huyện P) cấp cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 06/02/1998.

Diện tích đất tranh chấp 7.587,3m² tại thửa đất số 456, tờ bản đồ số 9 có nguồn gốc là của cha tên Nguyễn Văn B (chết năm 2004), mẹ tên Phạm Thị T4 (chết năm 2002) tặng cho từ năm 1996. Cha mẹ có 08 người con gồm: bà Nguyễn Thị N; ông Nguyễn Văn Đ; bà Nguyễn Thị G (đã chết khoảng 5 năm có chồng tên Nguyễn Văn Q, có 02 con tên Nguyễn Phương T3, Nguyễn Nhã L); ông Nguyễn Văn T1; ông Nguyễn Văn Ú, ông Nguyễn Văn X, bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn H. Khi tặng cho không làm giấy tờ, đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà đã sử dụng đất từ năm 1996 đến nay, sử dụng ổn định không tranh chấp với ai, cặp ranh đất của bà là đất của ông T1, của ai người đó sử dụng, không liên quan gì đến nhau. Khi bà đi làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất thì bà biết được phần đất của bà đang sử dụng đã được Ủy ban nhân dân huyện P cấp cho ông Nguyễn Văn T1. Vì vậy bà yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 7.587,3m² tại thửa đất số 456, tờ bản đồ số 9 do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là Ủy ban nhân dân huyện P) cấp cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 06/02/1998 và công nhận diện tích đất 7.587,3m² tại thửa đất số 456, tờ bản đồ số 9, đất tọa lạc tại Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu cho bà.

Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn T1 trình bày: Ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà T. Nguồn gốc đất tranh chấp là của cha tên Nguyễn Văn B (chết năm 2004), mẹ tên Phạm Thị T4 (chết năm 2002). Cha mẹ ông tặng cho đất ông năm nào không nhớ rõ nhưng trước khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khoảng 2 hay 3 năm. Tổng diện tích đất cho là 16.000m². Khi cha mẹ tặng cho đất thì ông trực tiếp canh tác đất. Sau đó ông cho em gái tên Nguyễn Thị T mượn canh tác, cho mượn năm nào ông cũng không nhớ nhưng khoảng gần 20 năm nay. Hiện tại ông vẫn cho bà Nguyễn Thị T mượn chứ không có đòi lại, nhưng ông không đồng ý tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T. Vì đất này là của cha mẹ tặng cho ông nên ông không đồng ý huỷ giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất do ông đứng tên. Ông không có yêu cầu phản tố hay yêu cầu nào khác.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà xác định yêu cầu của bà Nguyễn Thị T là đúng do đất là của cha mẹ tặng cho bà T. Thời gian tặng cho thì bà không nhớ rõ, chỉ nhớ lúc bà T chưa có chồng, khoảng 16 hay 17 tuổi. Cha mẹ cho bà T khoảng hơn 5 công đất, cho ông T1 khoảng 10 công đất, cho đất chỉ nói miệng, không làm giấy tờ, chỉ giao đất cho con sử dung. Bà thấy bà T, ông T1 sử dụng đất ổn định, có bờ ranh rõ ràng. Khi cho đất, cha mẹ bà chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông T1, bà T có kê khai xin cấp quyền sử dụng đất hay chưa thì bà không biết. Thời gian gần đây, bà T đi làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất thì mới biết ông T1 đã được cấp quyền sử dụng đất. Theo bà, việc ông T1 đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất bà T được cha mẹ cho là không đúng, đất của bà T, ông T1 có ranh giới rõ rang nên đất là của bà T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Vào khoảng thời gian trước đây (không xác định được cụ thể), cha mẹ ông có cho em Nguyễn Thị T diện tích đất khoảng 5 công tầm cấy (không đo đạc cụ thể diện tích bao nhiêu), đất có vị trí giáp ranh đất với đất ông T1. Bà Nguyễn Thị T đã sử dụng đất ổn định từ khi được cha mẹ cho đất đến nay. Ông xác định diện tích đất bà T sử dụng hiện nay là được cha mẹ tặng cho. Ông yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt ông trong suốt quá trình tố tụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu do người đại diện theo pháp luật trình bày ý kiến: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn X trình bày: Ông có biết sự việc cha mẹ ông tặng cho đất bà T, ông T1; khi cho đất chỉ nói bằng miệng, không làm văn bản, không nói rõ diện tích bao nhiêu, cũng không đo đạc thực tế nhưng ông biết là bà T, ông T1 đã sử dụng đất ổn định từ khi được cho đất đến nay. Ông không nhớ rõ thời gian cho đất cụ thể khi nào nhưng bà T đã sử dụng đất khoảng hơn 20 năm. Trên thực tế thì bà T, ông T1 không tranh chấp ranh với nhau, của ai người đó sử dụng. Phần đất của ông tệt thì đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 16.000m², còn thực tế anh T1 sử dụng bao nhiêu thì ông không rõ. Ông yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt ông trong suốt quá trình tố tụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông xác định yêu cầu của bà Nguyễn Thị T là đúng do đất là của cha mẹ tặng cho bà T. Thời gian tặng cho thì không nhớ rõ, chỉ nhớ khoảng hơn 24 năm, lúc cho đất bà T chưa có chồng, còn anh T1 thì ở bên nhà vợ ông T1. Cha mẹ cho bà T khoảng 5 công đất, cho ông T1 khoảng 10 công đất, cho đất chỉ nói miệng, không làm giấy tờ, không biết cha mẹ đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng hay chưa. Ông thấy bà T, ông T1 sử dụng ổn định, đất của ai người đó sử dụng, có bờ ranh, hiện trạng rõ ràng. Khoảng 6 năm trước, bà T làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất nhưng không được do ông T1 đã kê khai và được cấp quyền

sử dụng đất. Các anh chị em có gặp nhau đề nghị anh T1 tách chuyển tên cho bà T, ông T1 đồng ý tách nhưng sau đó không đồng ý và xảy ra tranh chấp. Ông xác định phần đất bà T yêu cầu công nhận cho bà T là của cha mẹ cho bà T khi còn sống, ông T1 không sử dụng đất nên ông T1 được cấp quyền sử dụng đất là không đúng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Ú trình bày: Đất tranh chấp là của cha mẹ ông cho ông Nguyễn Văn T1, diện tích 16.000m², cha ông tên Nguyễn Văn B đã trao quyền sử dụng đất cho con là ông nguyễn Văn T5 và ông T5 đã được cấp quyền sử dụng đất vào ngày 11/01/1997. Từ lúc cho đất đến nay, ông T5 đã canh tác đất. Sau đó, ông T5 cho bà Nguyễn Thị T mượn để canh tác nên bà Nguyễn Thị T kiện ông T5 là sai toàn bộ vì đất là của cha Nguyễn Văn B cho đất ông Nguyễn Văn T1 sự thật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Q trình bày: Ông là anh rễ thứ 4 của bà T, ông T1. Vợ ông tên Nguyễn Thị G (chết năm 2017) là con gái thứ 4 của cha vợ tên Nguyễn Văn B (chết năm 2004), mẹ vợ tên Phạm Thị T4 (chết năm 2002). Ông và bà G cưới năm 1991, mấy tháng sau thì ông T1 cưới vợ. Đám cưới xong thì ông ở nhà cha mẹ vợ sinh sống, được 1 năm thì cha mẹ vợ kêu xuống rừng Cà Mau canh tác đất của gia đình. Vợ chồng ông canh tác đất được 4 năm thì về lại ấp B, xã P sinh sống tại căn nhà của cha mẹ vợ xây dựng cho vợ chồng ở riêng. Lúc còn canh tác đất ở Cà Mau thì ông có nghe cha mẹ vợ nói cho đất ông T1, bà T nhưng ông biết chính xác cho đất bao nhiêu nhưng theo ông biết thì cha mẹ vợ ông cho đất hết tất cả các người con, con trai khoảng 10 công, con gái cho khoảng 5 hay 6 công đất, khi cho đất không làm giấy tờ, không đo đạc thực tế bao nhiêu công, chỉ độ khoảng mấy công. Vợ chồng ông được cha mẹ cho 05 công đất nuôi trồng thuỷ sản và 02 công đất lung, biền để xây nhà và làm vườn. Khi vợ chồng ông về sinh sống tại căn nhà cha mẹ vợ xây dựng cho thì ông đã thấy ông T1, bà T sử dụng đất cha mẹ vợ cho. Đất ông T1, bà T được cho nằm chung 1 mẫu, nằm giáp kênh K, cả 2 người đã sử dụng đất ổn định đến nay, không tranh chấp. Đất của ông T1 được cho thì ông thấy ông T1 đã làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất, còn ông T1 khai và được cấp diện tích bao nhiêu thì ông không biết. Sau khi cha mẹ vợ ông chết thì ông có nghe bà T kêu ông T1 đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà T đi tách thửa, chuyển tên. Ban đầu ông T1 đồng ý đưa giấy chứng nhận để bà T tách tên nhưng cứ hứa do nói đất đang thế chấp vay tiền tại ngân hàng, sau đó (khoảng hơn 1 năm nay) thì ông T1 không đồng ý tách tên cho bà T nữa. Theo ông xác định thì đất của ông T1, bà T ai cũng sử dụng phần đất của cha mẹ cho, sử dụng ổn định lâu dài nên bà T yêu cầu công nhận đất bà T và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T1 là phù hợp với nguyện vọng cho đất của cha mẹ vợ ông. Ông yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt ông.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Phương L1, chị Nguyễn Nhã L không có mặt ở địa phương nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật về việc xét xử vụ án sơ thẩm. Các đương sự đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Văn T1 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất diện tích 7.587,3m² thuộc một phần thửa số 0153, tờ bản đồ số 10 (nay là thửa 456, tờ bản đồ 9, theo bản đồ địa chính năm 2009), tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
  2. Công nhận cho bà Nguyễn Thị T được quyền sử dụng diện tích 7.587,3m² thuộc một phần thửa số 0153, tờ bản đồ số 10 (nay là thửa 456, tờ bản đồ 9, theo bản đồ địa chính năm 2009), tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

  3. Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị T6 về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 7.587,3m² thuộc một phần thửa số 0153, tờ bản đồ số 10 (nay là thửa 456, tờ bản đồ 9, theo bản đồ địa chính năm 2009), tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là huyện P) cấp cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 06/02/1998.
  4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và án phí: Ông Nguyễn Văn T1 phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến trình bày tranh luận của các đương sự, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu thụ lý vụ án số 49/2023/TLST-DS ngày 01/3/2023 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T. Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và khoản 3, 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính thì Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết công nhận cho bà diện tích đất theo đo đạc thực tế 7.587,3m² tại thửa đất số 456, tờ bản đồ số 9. Đồng thời, yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 7.587,3m² tại thửa đất số 456, tờ bản đồ số 9 do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là Ủy ban nhân dân huyện P) cấp cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 06/02/1998 nên quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[1.3] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Phương T3, chị Nguyễn Nhã L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt; Ủy ban nhân dân huyện P, ông Nguyễn Văn X, ông Nguyễn Văn Ú, ông Nguyễn Văn Q có yêu cầu xét xử vắng mặt; việc vắng mặt của các đương sự không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên là đúng quy định pháp luật.

[1.4] Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn không có yêu cầu phản tố. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T yêu cầu công nhận cho bà diện tích đất 7.587,3m² tại thửa đất số 456, tờ bản đồ số 9:

[2.1.1] Căn cứ Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 07/6/2023 (bút lục số 38-42) và Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P lập ngày 03/7/2023 (bút lục số 44), xác định phần đất tranh chấp tại ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu xác định đất tranh chấp có diện tích, vị trí và số đo như sau:

  • Hướng Đông giáp đất bà Phạm Bé T7, cạnh dài 94,60 m.
  • Hướng Tây giáp Kênh Khạo R, cạnh dài 100,50 m.
  • Hướng Nam giáp phần đất ông Nguyễn Văn H, cạnh dài 16,30m + 9,00m + 15,00m + 9,00m + 48,00m.
  • Hướng Bắc giáp đất ông Nguyễn Văn T1, cạnh dài 81,00 m.

Hiện trạng đất nuôi tôm, không có cây trồng hay công trình kiến trúc trên đất, đất do bà T đang trực tiếp quản lý, sử dụng thả tôm sú, thẻ và cua được hơn 01 tháng tuổi. Tổng diện tích đất tranh chấp 7.587,3m², thuộc một phần thửa số 456, tờ bản đồ số 9.

[2.1.2] Tại Công văn số 13/CV-CNVPĐKĐĐ ngày 16/01/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P, tỉnh Bạc Liêu (bút lục 147) xác định:

  • Thửa đất số 456, tờ bản đồ số 9, diện tích 18.727,5m² do ông Nguyễn Văn T1 đã kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

theo dự án 323 nhưng ông Nguyễn Văn T1 chưa cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

Diện tích 7.587,3m² do bà Nguyễn Thị T đang sử dụng nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 015192, tại thửa đất số 0153, tờ bản đồ số 10, diện tích 16.000m² do ông Nguyễn Văn T1 đứng tên. Diện tích 7.587,3m² thuộc một phần thửa đất số 456, tờ bản đồ số 9 theo bản đồ địa chính năm 2009.

[2.1.3] Về định giá tài sản tranh chấp: Nguyên đơn xác định phần tranh chấp đất diện tích 7.587,3m² có giá thực tế tại địa phương là 70.000.000đồng/01 công tầm cấy, tương đương 54.000 đồng/m² nên tổng giá trị phần đất tranh chấp là 409.714.200 đồng. Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 không xác định được giá nên không đưa ra giá đất tranh chấp, đối với giá đất nguyên đơn đưa ra thì ông không ý kiến. Nhận thấy, bị đơn không có ý kiến đối với giá trị đất tranh chấp do nguyên đơn đưa ra, cũng không yêu cầu định lại giá đất tranh chấp nên Hội đồng xét xử sử dụng giá đất nguyên đơn đưa ra làm căn cứ giải quyết vụ án.

[2.1.4] Xét về nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp:

[2.1.4.1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T xác định đất có nguồn gốc là của cha mẹ bà T, ông T1 tặng cho bà T từ năm 1996 (cha tên Nguyễn Văn B chết năm 2004, mẹ tên Phạm Thị T4 chết năm 2002). Khi cho không làm giấy tờ, bà T chưa làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà đã sử dụng đất từ năm 1996 đến nay, ổn định không tranh chấp với ai. Đến khi bà đi làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất thì bà biết được phần đất của bà đã được Ủy ban nhân dân huyện H (nay là huyện P) cấp cho ông Nguyễn Văn T1. Vì vậy bà yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 7.587,3m² do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là Ủy ban nhân dân huyện P) cấp cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 06/02/1998 và công nhận diện tích đất này cho bà.

[2.1.4.2] Bị đơn Nguyễn Văn T1 xác định nguồn gốc đất tranh chấp là của cha mẹ ông tặng cho ông năm nào không nhớ rõ nhưng trước khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khoảng 2 hay 3 năm. Tổng diện tích đất được tặng cho là 16.000m². Khi cha mẹ cho đất thì ông trực tiếp canh tác, sau đó ông cho em gái tên Nguyễn Thị T mượn canh tác, cho mượn năm nào ông cũng không nhớ nhưng khoảng gần 20 năm nay. Hiện tại ông vẫn cho Nguyễn Thị T mượn chứ không có đòi lại, nhưng ông không đồng ý tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng không đồng ý huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông đứng tên theo yêu cầu của bà T.

[2.1.5] Nhận thấy, tại lời khai, trình bày và tại phiên tòa, các đương sự đều thống nhất thừa nhận đất tranh chấp có nguồn gốc là của cha tên Nguyễn Văn B (chết năm 2004), mẹ tên Phạm Thị T4 (chết năm 2002) tặng cho, khi cho chỉ nói bằng miệng và không lập giấy tờ, cha mẹ cho đất tát cả các người con, con trai, con gái đều được cho đất. Ngoài phần đất tranh chấp mà bà T đang sử

dụng thì T không còn phần đất nào khác. Đây là tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đồng thời, tại các biên bản lấy lời khai đối với các ông bà là những anh chị em của bà T, ông T1 gồm: Nguyễn Văn X, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị N (bút lục từ 155 đến 162), ông Nguyễn Văn Q (anh rễ của bà T, ông T1) đều xác định: đất có nguồn gốc là của cha mẹ đã cho bà T khoảng 05 công tầm cấy, cho ông T1 khoảng 10 công tầm cấy, hai phần đất giáp ranh nhau. Việc cha mẹ cho đất thời gian nào thì các ông bà không nhớ, nhưng sau khi được cho thì mỗi người sử dụng phần đất của mình ổn định, không tranh chấp ranh, giữa 2 phần đất có ranh giới rõ ràng. Đất tranh chấp bà T đã sử dụng trên 20 năm.

[2.1.6] Phía bị đơn ông Nguyễn Văn T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Ú thì xác định đất là của ông Nguyễn Văn T1 do cha mẹ tặng cho và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà T sử dụng đất là do ông T1 cho bà T mượn để canh tác. Tuy nhiên, ông T1 khai cho bà T mượn đất sử dụng nhưng chỉ trình bày, không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Trong khi bà Nguyễn Thị T không thừa nhận sự việc mượn đất như ông T1, ông Ú khai. Như vậy, từ các lời khai trên có căn cứ xác định đất tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ bà T là cụ Nguyễn Văn B (chết năm 2004) và cụ Phạm Thị T4 (chết năm 2002) cho bà T. Bà T đã canh tác, sử dụng đất liên tục, ổn định trên 20 năm không ai tranh chấp. Ông T1 xác định đất tranh chấp cha mẹ cho ông nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh, ông cũng chưa từng canh tác, sử dụng đất này. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, công nhận diện tích đất 7.587,3m² tại một phần thửa số 0153, tờ bản đồ số 10 (nay là thửa 456, tờ bản đồ 9, theo bản đồ địa chính năm 2009) thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị T.

[2.2] Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị T về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 015192, diện tích 7.587,3m² tại một phần thửa số 0153, tờ bản đồ số 10 (nay là thửa 456, tờ bản đồ 9, theo bản đồ địa chính năm 2009), tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là huyện P) cấp cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 06/02/1998, thấy rằng:

Xem xét hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T1 thì hồ sơ cấp đại trà, dựa theo sự kê khai của người đăng ký không có biên bản đo đạc, thẩm định đất do cơ quan chuyên môn lập mà chỉ có đơn xin đăng ký, kê khai của ông T1, không có chữ ký của các hộ giáp ranh, nên diện tích đất bà T đang sử dụng ổn định, lâu dài, không có tranh chấp. Trong khi, ông Nguyễn Văn T1 có thừa nhận có đi kê khai xin cấp quyền sử dụng đất mà do cha tên Nguyễn Văn B kê khai, đăng ký và được cấp quyền sử dụng đất, sau đó, cha ông mới tách thửa chuyển tên cho ông và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông vào năm 2004. Nhận thấy, đất tranh chấp do bà T trực tiếp quản lý, sử dụng lại được Ủy ban nhân dân huyện H (nay là huyện P) cấp quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T1, ông T1 là người không trực tiếp sử dụng đất là cấp không đúng đối tượng. Căn cứ quy định tại điểm d khoản 2

Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013 thì việc cấp sai vị trí, chồng lấn ranh giới và không đúng đối tượng thì phải hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cấp lại cho đúng vị trí thực tế sử dụng đất. Vậy nên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 015192 do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là huyện P) cấp cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 06/02/1998 đối với diện tích đất tranh chấp 7.587,3m² thuộc một phần thửa số 0153, tờ bản đồ số 10 (nay là thửa 456, tờ bản đồ 9, theo bản đồ địa chính năm 2009), tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

[3] Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T; Kiểm sát viên đề nghị là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền là 3.428.122 đồng. Yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T được chấp nhận nên bà T không phải chịu; bà T đã nộp đủ và chi phí nên buộc ông Nguyễn Văn T1 có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà T số tiền là 3.428.122 đồng (ba triệu bốn trăm hai mươi tám ngàn một trăm hai mươi hai đồng) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch: Do yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T được Tòa án chấp nhận nên bà T không phải chịu án phí. Bà T đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005737 ngày 28/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu sẽ được hoàn lại đủ. Ông Nguyễn Văn T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38, Điều 101, Điều 104, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 269, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 221 Bộ Luật dân sự 2015; khoản 4 Điều 32, khoản 1 Điều 34 Luật Tố tụng hành chính; Điều 95, Điều 106, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Văn T1 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất diện tích 7.587,3m² thuộc một phần thửa số 0153, tờ bản đồ số 10 (nay là thửa 456, tờ bản đồ 9, theo bản đồ địa chính năm 2009), tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
  2. Công nhận cho bà Nguyễn Thị T được quyền sử dụng diện tích 7.587,3m² thuộc một phần thửa số 0153, tờ bản đồ số 10 (nay là thửa 456, tờ bản đồ 9, theo bản đồ địa chính năm 2009), tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

  • - Hướng Đông giáp đất bà Phạm Bé T7, cạnh dài 94,60 m.
  • - Hướng Tây giáp Kênh Khạo R, cạnh dài 100,50 m.
  • - Hướng Nam giáp phần đất ông Nguyễn Văn H, cạnh dài 16,30m + 9,00m + 15,00m + 9,00m + 48,00m.
  • - Hướng Bắc giáp đất ông Nguyễn Văn T1, cạnh dài 81,00 m.

(Kèm theo Bản án là Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P lập ngày 03/7/2023)

  1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị T6 về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 7.587,3m² thuộc một phần thửa số 0153, tờ bản đồ số 10 (nay là thửa 456, tờ bản đồ 9, theo bản đồ địa chính năm 2009), tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là huyện P) cấp cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 06/02/1998.
  2. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 015192, diện tích 7.587,3m² thuộc một phần thửa số 0153, tờ bản đồ số 10 (nay là thửa 456, tờ bản đồ 9, theo bản đồ địa chính năm 2009), tọa lạc tại ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu do Ủy ban nhân dân huyện H (nay là huyện P) cấp cho ông Nguyễn Văn T1 ngày 06/02/1998.

  3. Bà Nguyễn Thị T được quyền kê khai, đăng ký quyền sử dụng diện tích đất nêu trên theo quy định pháp luật.
  4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền là 3.428.122 đồng. Bà Nguyễn Thị T không phải chịu, bà T đã nộp đủ và đã chi phí hết nên ông Nguyễn Văn T1 có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà T số tiền 3.428.122 đồng (ba triệu bốn trăm hai mươi tám ngàn một trăm hai mươi hai đồng) tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch:
    1. 6.1. Bà Nguyễn Thị T không phải chịu án phí. Bà T đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005737 ngày 28/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu sẽ được hoàn lại đủ.
    2. 6.2. Ông Nguyễn Văn T1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Bạc Liêu;
  • - Cục THADS tỉnh Bạc Liêu;
  • - Chi cục THADS huyện Phước Long;
  • - Đương sự;
  • - TỔ HCTP;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa DS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Giang Thị Cẩm Thuý

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ phút, ngày 09 tháng 7 năm 2024.

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên phiên tòa: Bà Giang Thị Cẩm Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Liêu Bích Nga

Ông Trần Thanh Hùng

Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 100/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2023, về việc tranh chấp “quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ten, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp 2B, xã Phong Thạnh Tây A, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Tệt, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp 2B, xã Phong Thạnh Tây A, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân huyện Phước Long. Địa chỉ: Ấp Hành Chính, thị trấn Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
  2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn Tần, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Phước Long.

  3. Bà Nguyễn Thị Nho, sinh năm 1964.
  4. Ông Nguyễn Văn Điều, sinh năm 1967.
  5. Ông Nguyễn Văn Quang, sinh năm 1965.
  6. Anh Nguyễn Phương Trạng.
  7. Chị Nguyễn Nhã Linh.
  8. Ông Nguyễn Văn Xén, sinh năm 1979.
  9. Ông Nguyễn Văn Hía, sinh năm 1983.

Cùng địa chỉ: Ấp 2B, xã Phong Thạnh Tây A, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

  1. Ông Nguyễn Văn Úa, sinh năm 1974. Địa chỉ: Ấp Mũi Tràm B, xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT 3/3

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

Áp dụng khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38, Điều 101, Điều 104, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 269, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 221 Bộ Luật dân sự 2015; khoản 4 Điều 32, khoản 1 Điều 34 Luật

Tố tụng hành chính; Điều 95, Điều 106, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ten đối với ông Nguyễn Văn Tệt về việc tranh chấp quyền sử dụng đất diện tích 7.587,3m² thuộc một phần thửa số 0153, tờ bản đồ số 10 (nay là thửa 456, tờ bản đồ 9, theo bản đồ địa chính năm 2009), tọa lạc tại ấp 2B, xã Phong Thạnh Tây A, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
  2. Công nhận cho bà Nguyễn Thị Ten được quyền sử dụng diện tích 7.587,3m² thuộc một phần thửa số 0153, tờ bản đồ số 10 (nay là thửa 456, tờ bản đồ 9, theo bản đồ địa chính năm 2009), tọa lạc tại ấp 2B, xã Phong Thạnh Tây A, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

  • - Hướng Đông giáp đất bà Phạm Bé Tư, cạnh dài 94,60 m.
  • - Hướng Tây giáp Kênh Khạo Rạn, cạnh dài 100,50 m.
  • - Hướng Nam giáp phần đất ông Nguyễn Văn Hía, cạnh dài 16,30m + 9,00m + 15,00m + 9,00m + 48,00m.
  • - Hướng Bắc giáp đất ông Nguyễn Văn Tệt, cạnh dài 81,00 m.

(Kèm theo Bản án là Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Phước Long lập ngày 03/7/2023)

  1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Ten về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 7.587,3m² thuộc một phần thửa số 0153, tờ bản đồ số 10 (nay là thửa 456, tờ bản đồ 9, theo bản đồ địa chính năm 2009), tọa lạc tại ấp 2B, xã Phong Thạnh Tây A, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu do Uỷ ban nhân dân huyện Hồng Dân (nay là huyện Phước Long) cấp cho ông Nguyễn Văn Tệt ngày 06/02/1998.
  2. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 015192, diện tích 7.587,3m² thuộc một phần thửa số 0153, tờ bản đồ số 10 (nay là thửa 456, tờ bản đồ 9, theo bản đồ địa chính năm 2009), tọa lạc tại ấp 2B, xã Phong Thạnh Tây A, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu do Uỷ ban nhân dân huyện Hồng Dân (nay là huyện Phước Long) cấp cho ông Nguyễn Văn Tệt ngày 06/02/1998.

  3. Bà Nguyễn Thị Ten được quyền kê khai, đăng ký quyền sử dụng diện tích đất nêu trên theo quy định pháp luật.
  4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền là 3.428.122 đồng. Bà Nguyễn Thị Ten không phải chịu, bà Ten đã nộp đủ và đã chi phí hết nên ông Nguyễn Văn Tệt có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà Ten số tiền 3.428.122 đồng

(ba triệu bốn trăm hai mươi tám ngàn một trăm hai mươi hai đồng) tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch:
    1. 6.1. Bà Nguyễn Thị Ten không phải chịu án phí. Bà Ten đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005737 ngày 28/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu sẽ được hoàn lại đủ.
    2. 6.2. Ông Nguyễn Văn Tệt phải nộp án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu.
  2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên trong Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

Biên bản nghị án kết thúc lúc giờ phút ngày 09/7/2024.

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

................................................................................

Giang Thị Cẩm Thúy

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ten trình bày:

bà yêu cầu công nhận diện tích đất được đo đạc thực tế 7.587,3m² tại thửa đất số 456, tờ bản đồ số 9, đất tọa lạc tại Ấp 2B, xã Phong Thạnh Tây A, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu; yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 7.587,3m² tại thửa đất số 456, tờ bản đồ số 9 do Ủy ban nhân dân huyện Hồng Dân (nay là

Uỷ ban nhân dân huyện Phước Long) cấp cho ông Nguyễn Văn Tệt ngày 06/02/1998.

Diện tích đất tranh chấp 7.587,3m² có nguồn gốc là của cha mẹ bà Ten, ông Tệt cho bà Ten từ năm 1986 (cha tên Nguyễn Văn Bính chết năm 2004, mẹ tên Phạm Thị Thinh chết năm 2002). Cha mẹ có 08 người con gồm: bà Nguyễn Thị Nho; ông Nguyễn Văn Điều; bà Nguyễn Thị Giang đã chết khoảng 5 năm (có chồng tên Nguyễn Văn Quang, có 02 con tên Nguyễn Phương Trạng, Nguyễn Nhã Linh); ông nguyễn Văn Tệt; ông Nguyễn Văn Úa, ông Nguyễn Văn Xén, bà Nguyễn Thị Ten và ông Nguyễn Văn Hía. Khi cho không làm giấy tờ, đất cũng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà đã sử dụng đất từ năm 1986 đến nay, ổn định không tranh chấp với ai. Căp ranh đất của bà là đất của ông Tệt, của ai người đó sử dụng, không liên quan gì đến nhau. Khi bà đi làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất thì bà biết được phần đất của bà đã được Uỷ ban nhân dân huyện Phước Long cấp cho ông Nguyễn Văn Tệt. Vì vậy bà yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 7.587,3m² tại thửa đất số 456, tờ bản đồ số 9 do Ủy ban nhân dân huyện Hồng Dân (nay là Uỷ ban nhân dân huyện Phước Long) cấp cho ông Nguyễn Văn Tệt ngày 06/02/1998 và công nhận diện tích đất này cho bà.

Bị đơn Nguyễn Văn Tệt trình bày:

ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà Ten. Nguồn gốc đất tranh chấp là của cha tên Nguyễn Văn Bính, chết năm 2004, mẹ tên Phạm Thị Thinh chết năm 2002. Cha mẹ ông cho đất ông năm nào không nhớ rõ nhưng trước khi được cấp giấy 2 – 3 năm. Tổng diện tích đất cho là 16.000m². Khi cha mẹ cho đất thì ông trực tiếp canh tác đất. Sau đó ông cho em gái tên Nguyễn Thị Ten mượn canh tác, cho mượn năm nào ông cũng không nhớ nhưng khoảng gần 20 năm nay. Hiện tại ông vẫn cho Nguyễn Thị Ten mượn chứ không có đòi lại, nhưng ông không đồng ý tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì đất này là của cha mẹ cho ông nên ông không đồng ý huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông đứng tên. Ông không có yêu cầu phản tố hay yêu cầu nào khác.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Chị Nguyễn Thị Nho: thống nhất ý kiến trình bày và yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ten.
  • Anh Nguyễn Văn Hía: Thống nhất ý kiến trình bày và yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ten.

- Ủy ban nhân dân huyện Phước Long trình bày: đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật.

II. QUAN ĐIỂM GIẢI QUYẾT:

Xét yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Ten:

Căn cứ biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 07/6/2023 thì đất tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 0153, tờ bản đồ số 10 (nay là thửa 456, tờ bản đồ 9, theo bản đồ địa chính năm 2009), tọa lạc tại ấp 2B, xã Phong Thạnh Tây A, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu, do UBND huyện Hồng Dân (nay là huyện Phước Long) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Tệt số D 015192 ngày 06/02/1998, có định vị và số đo như sau:

  • Hướng Đông - giáp đất bà Phạm Bé Tư, cạnh dài 94,6 m.
  • Hướng Tây - giáp Kênh Khạo Rạng, cạnh dài 100,5 m.
  • Hướng Nam - giáp phần đất ông Nguyễn Văn Hía, cạnh dài 48m + 9m + 15m + 9m + 16,3m.
  • Hướng Bắc - giáp đất ông Nguyễn Văn Tệt, cạnh dài 81 m.

Diện tích: 7.587,3m².

Đất tranh chấp có giá là 54.000 đồng/m², tổng diện tích đất tranh chấp là 7.587,3m² x 54.000 đồng = 409.714.200 đồng.

Hiện trạng: đất vuông tôm, bà Ten đang sử dụng và thả tôm.

Về nguồn gốc phần đất tranh chấp: bà Ten xác định có nguồn gốc là của cha mẹ bà Ten, ông Tệt cho bà Ten từ năm 1986 (cha tên Nguyễn Văn Bính chết năm 2004, mẹ tên Phạm Thị Thinh chết năm 2002). Khi cho không làm giấy tờ, bà Ten cũng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà đã sử dụng đất từ năm 1986 đến nay, ổn định không tranh chấp với ai. Đến khi bà đi làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất thì bà biết được phần đất của bà đã được Uỷ ban nhân dân huyện Hồng Dân (nay là huyện Phước Long) cấp cho ông Nguyễn Văn Tệt. Vì vậy bà yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 7.587,3m² do Ủy ban nhân dân huyện Hồng Dân (nay là Uỷ ban nhân dân huyện Phước Long) cấp cho ông Nguyễn Văn Tệt ngày 06/02/1998 và công nhận diện tích đất này cho bà.

Bị đơn Nguyễn Văn Tệt xác định: nguồn gốc đất tranh chấp là của cha mẹ ông cho ông năm nào không nhớ rõ nhưng trước khi được cấp giấy 2 – 3 năm. Tổng diện tích đất cho là 16.000m². Khi cha mẹ cho đất thì ông trực tiếp canh tác đất. Sau đó ông cho em gái tên Nguyễn Thị Ten mượn canh tác, cho mượn năm nào ông cũng không nhớ nhưng khoảng gần 20 năm nay. Hiện tại ông vẫn cho Nguyễn Thị Ten mượn chứ không có đòi lại, nhưng ông không

đồng ý tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì đất này là của cha mẹ cho ông nên ông không đồng ý huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông đứng tên.

Xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quá trình sử dụng đất, thấy:

  • Tại các biên bản lấy lời khai đương sự đối với các ông bà là những anh chị em của bà Ten, ông Tệt gồm: Nguyễn Văn Xén, Nguyễn Văn Điều, Nguyễn Văn Hía, Nguyễn Thị Nho (BL 155 đến 162) đều xác định: đất có nguồn gốc là của cha mẹ đã cho bà Ten khoảng 05 công tầm cấy, cho ông Tệt khoảng 10 công tầm cấy, hai phần đất giáp ranh nhau. Việc cha mẹ cho đất thời gian nào thì các ông bà không nhớ, nhưng sau khi được cho thì mỗi người sử dụng phần đất của mình. Đất tranh chấp bà Ten đã sử dụng trên 20 năm.

Như vậy, từ các lời khai trên có căn cứ xác định đất tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ bà Ten là cụ Nguyễn Văn Bính (chết năm 2004) và cụ Phạm Thị Thinh (chết năm 2002) cho bà Ten. Bà Ten đã canh tác, sử dụng đất liên tục, ổn định trên 20 năm không ai tranh chấp. Ông Tệt xác định đất tranh chấp cha mẹ cho ông nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh, ông cũng chưa từng canh tác, sử dụng đất này. Vậy nên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ten, công nhận diện tích đất 7.587,3m² thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị Ten.

Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ten về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 015192, diện tích 7.587,3m² thuộc một phần thửa số 0153, tờ bản đồ số 10 (nay là thửa 456, tờ bản đồ 9, theo bản đồ địa chính năm 2009), tọa lạc tại ấp 2B, xã Phong Thạnh Tây A, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu do UBND huyện Hồng Dân (nay là huyện Phước Long) cấp cho ông Nguyễn Văn Tệt ngày 06/02/1998, thấy: căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Tệt thì hồ sơ không có biên bản đo đạt, thẩm định đất do cơ quan chuyên môn lập mà chỉ có đơn xin đăng ký, kê khai của ông Tệt, không có chữ ký của các hộ giáp ranh, nên diện tích đất bà Ten đang sử dụng ổn định, lâu dài, không có tranh chấp lại được cấp cho ông Tệt là người không trực tiếp sử dụng đất là cấp không đúng đối tượng. Vậy nên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ten, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Nguyễn Văn Tệt đứng tên đối với diện tích đất tranh chấp 7.587,3m² thuộc một phần thửa số 0153, tờ bản đồ số 10 (nay là thửa 456, tờ bản đồ 9, theo bản đồ địa chính năm 2009), tọa lạc tại ấp 2B, xã Phong Thạnh Tây A, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: do yêu cầu của bà Ten được chấp nhận nên ông Tệt phải chịu toàn bộ.

Bởi các lẽ trên,

căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Điều 221 Bộ Luật dân sự 2015;

Điều 95, 106 Luật đất đai năm 2013;

Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ten đối với ông Nguyễn Văn Tệt về việc đòi quyền sử dụng đất diện tích 7.587,3m² thuộc một phần thửa số 0153, tờ bản đồ số 10 (nay là thửa 456, tờ bản đồ 9, theo bản đồ địa chính năm 2009), tọa lạc tại ấp 2B, xã Phong Thạnh Tây A, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
  2. Công nhận cho bà Nguyễn Thị Ten được quyền sử dụng diện tích 7.587,3m² thuộc một phần thửa số 0153, tờ bản đồ số 10 (nay là thửa 456, tờ bản đồ 9, theo bản đồ địa chính năm 2009), tọa lạc tại ấp 2B, xã Phong Thạnh Tây A, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

  3. Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Ten, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 7.587,3m² thuộc một phần thửa số 0153, tờ bản đồ số 10 (nay là thửa 456, tờ bản đồ 9, theo bản đồ địa chính năm 2009), tọa lạc tại ấp 2B, xã Phong Thạnh Tây A, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu do UBND huyện Hồng Dân (nay là huyện Phước Long) cấp cho ông Nguyễn Văn Tệt ngày 06/02/1998.
  4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và án phí: ông Nguyễn Văn Tệt phải chịu.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/DS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 32/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ten - Tệt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger