Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN TRƯỜNG

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/HS - ST

Ngày: 09 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Trang

Ông Phạm Kim An

Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Thế Vinh – Thư ký TAND huyện Xuân Trường.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên tòa:

Ông Đặng Xuân Tự - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST – HS, ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với:

* Bị cáo: Trần Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam, sinh ngày 08 tháng 5 năm 1972 tại Nam Định. Nơi cư trú: xóm F, xã T, huyện X, tỉnh Nam Định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo. Trình độ học vấn: 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên bố: Trần Viết K, sinh năm 1934. Họ và tên mẹ: Trần Thị S, sinh năm 1937. Hiện sinh sống tại xã T, huyện X, tỉnh Nam Định. Vợ: Nguyễn Thị S1, sinh năm 1979. Hiện trú tại: xã T, huyện X, tỉnh Nam Định. Có 01 con, sinh năm 1999. Tiền án: Ngày 14/5/2020, bị TAND huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xử phạt 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 17/11/2022. Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 16/02/2004, bị TAND Quận Gò Vấp – TP . xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 28/4/2005. Ngày 29/8/2011, bị TAND huyện Xuân Trường xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 13/12/2015. Bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 22/01/2024, đến ngày 31/01/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

*. Người chứng kiến: Trần Viết B, sinh năm 1950 (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ ngày 22/01/2024, Nguyễn Thành K1, sinh năm 1981 đi bộ từ nhà ở Xóm D, xã T, huyện X đến nhà Trần Văn T ở xóm F, xã T, huyện X mục đích mua Heroine về để sử dụng. Đến nơi, gặp T đang đứng ở cổng nhà, K1 hỏi mua 200.000 đồng Heroine, T đồng ý và nhận 200.000 đồng rồi cất vào túi bên phải áo khoác đang mặc, sau đó lấy trong túi quần 01 gói giấy nhỏ gói bằng giấy màu trắng đưa cho K1. K1 nhận kiểm tra xác định là H và cầm ở tay phải. Đúng lúc này tổ công tác Công an huyện X làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang. Thu giữ của K1 01 gói giấy nhỏ màu trắng, niêm phong ký hiệu M. Thu giữ trong túi áo khoác bên phải Thoại mặc số tiền 200.000 đồng. Sau đó tổ công tác đã mời người chứng kiến, đưa Trần Văn T, Nguyễn Thành K1 về trụ sở UBND xã T lập biên bản phạm tội quả tang. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn T nhưng không thu giữ tài liệu, đồ vật gì.

Tại bản kết luận giám định số 374/GĐKTHS ngày 23/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh N kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M trưng cầu giám định là ma túy. Loại ma túy Heroine, khối lượng M: 0,055 gam.

Cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định truy tố Trần Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị tuyên bố Trần Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Căn cứ khoản 1, khoản 5 điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Văn T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Phạt tiền bổ sung đối với T từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng. Căn cứ điểm b, c khoản 1 điều 47 BLHS và điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu cho tiêu hủy phong bì thư hoàn trả mẫu vật sau giám định. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 200.000 đồng bị cáo T bán H1 mà có;

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì thêm đối với quyết định truy tố. Đối với bản luận tội của Viện kiểm sát bị cáo đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo vì bị cáo kinh tế khó khăn. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức rõ sai phạm của bản thân. Bị cáo vừa nhận tin bố đẻ chết hôm nay đang an táng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp lập hồi 12 giờ 30 ngày 22/01/2024. Kết luận giám định số 374/GĐKTHS ngày 23/01/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh N. Lời khai của người chứng kiến. Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 22/01/2024, tại nơi ở của mình, Trần Văn T đã bán trái phép cho Nguyễn Thành K1 0,055 gam Heroine lấy 200.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn T đã cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với Trần Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy là chính xác, không oan. Hành vi phạm tội của bị cáo không những đã gieo rắc tệ nạn ma túy vào các thành viên trong cộng đồng dân cư mà còn xâm hại tới quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng đến trật tự công cộng, chính sách phòng, chống tệ nạn ma túy mà Đảng và Nhà nước, nhân dân đang thực hiện quyết liệt cho nên cần nghiêm khắc phê phán và trừng trị thích đáng.
  3. [3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn; Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội lần này là tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự

    Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy bị cáo đã 3 lần bị Tòa án các địa phương xét xử về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học sửa mình cho nên cần xử phạt tù với mức án nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo mình thành công dân có ích cho xã hội. Xét cần phạt tiền bổ sung đối với bị cáo Trần Văn T để răn đe bị cáo và răn đe chung vì bị cáo mua về nhằm mục đích bán kiếm lời.

  4. [4] Tang vật của vụ án: Tich thu cho tiêu hủy phong bì thư hoàn trả mẫu vật sau giám định; có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng bị cáo Trần Văn T bán ma túy cho Nguyễn Thành K1 đã thu giữ.
  5. [5] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:
    • - Tuyên bố Trần Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
    • - Xử phạt Trần Văn T 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024.
    • - Phạt tiền bổ sung đối với bị cáo 5.000.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.
  2. Căn cứ điểm b, c khoản 1 điều 47 BLHS và điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu cho tiêu hủy phong bì thư hoàn trả mẫu vật sau giám định. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 200.000 đồng bị cáo T bán Hêroine mà có (Chi tiết có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng và Biên lai thu tiền số 0000076 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường ngày 03/5/2024).
  3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  4. Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND tỉnh+huyện;
  • - Chi cục THADS huyện X;
  • - Công an huyện X;
  • - UBND Xã T;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS+VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2023/HS - ST ngày 09/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 32/2023/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần văn T bán ma túy cho người khác bị bắt
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger