|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ TỈNH HÀ GIANG Bản án số: 32/2023/HS-ST Ngày 05 - 12 - 2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Văn Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Thư.
Ông Nguyễn Ngọc Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Tươi - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2023/TLST-HS ngày 10/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
-
Bị cáo: Bàn Văn P; sinh năm 1999; nơi sinh: Huyện B, tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: Xóm L, xã Y, huyện B, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Sán chỉ; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bàn Văn L, sinh năm 1969 và con bà Chang Thị N, sinh năm 1968; vợ con: Chưa có; có 03 anh, chị em ruột bị cáo là con thứ ba trong gia đình; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Không; tạm giữ: Ngày 29/6/2023; tạm giam: Ngày 08/7/2023 hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Giang (Có mặt).
-
Bị cáo: Bàn Văn N1; sinh năm 1997; nơi sinh: Huyện B, tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: Xóm L, xã Y, huyện B, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Sán chỉ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bàn Văn G, sinh năm 1978 và con bà Bàn Thị Đ, sinh năm 1980; có vợ: Chang Thị Đ1, sinh năm 2002 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2022, con nhỏ nhất sinh năm 2023; có 02 anh em ruột bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 23/9/2019 Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo và 36 tháng thử thách về tội Cưỡng đoạt tài sản (chưa được xóa án tích); nhân thân: Không; tạm giữ: Ngày 29/6/2023; tạm giam: Ngày 08/7/2023 hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Giang (Có mặt).
-
Bị cáo: Sầm Văn H; sinh năm 1997; nơi sinh: Huyện B, tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: Xóm L, xã Y, huyện B, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Sán chỉ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc
2
tịch: Việt Nam; con ông Sầm Văn T, sinh năm 1984 và con bà Bàn Thị Y, sinh năm 1985; có vợ: Hà Thị B, sinh năm 1999 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2018; có 02 anh em ruột bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 23/9/2019 Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo và 36 tháng thử thách về tội Cưỡng đoạt tài sản (chưa được xóa án tích); nhân thân: Không; tạm giữ: Ngày 08/9/2023; tạm giam: Ngày 17/9/2023 hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Giang (Có mặt).
Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Hoàng Thị Ngọc M - Trợ giúp viên pháp lý; nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (Có mặt).
Những người làm chứng: Bàn Văn T1, sinh năm 1990; Triệu Văn D, sinh năm 1998; Bồn Văn H1, sinh năm 1997 (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 23/6/2023, Bàn Văn P và Bàn Văn N1 ngồi uống rượu tại nhà P; P rủ N1 mua ma túy về bán, N1 đồng ý nói có 2.000.000 đồng. Thấy số tiền ít chiều ngày 24/6/2023 Bàn Văn P gọi điện cho Sầm Văn H hỏi vay 3.000.000 đồng, biết P vay tiền để mua ma túy về bán kiếm lời Sầm Văn H đồng ý góp 3.000.000đ. Tổng 03 người góp chung nhau được số tiền 5.200.000 đồng (trong đó N1 2.000.000đ, Hình 3.000.000đ, Pích 200.000đ) và thống nhất đưa 5.200.000 đồng cho P đi mua ma túy.
Khoảng 15 giờ ngày 25/6/2023, P một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Wave, BKS 23H3-4458 của Pích đến khu vực giáp ranh xã Y với xã T, huyện B, tỉnh Cao Bằng mua một gói ma túy (heroine) trong túi nilon màu xanh giá 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ. Sau đó mang toàn bộ số ma túy về nhà cùng Bàn Văn N1, Sầm Văn H chia nhỏ số ma túy và thống nhất để Bàn Văn P đi bán cho những người nghiện tại xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang. Đến tối cùng ngày tại nhà của P có P, N1, H dùng kéo cắt giấy quyển vở thành từng mảnh hình vuông nhỏ, dùng tay bóp nhỏ chất ma túy chia từng mảnh giấy khối lượng khác nhau và gói lại được khoảng 20 (hai mươi) gói nhỏ, P cất số ma túy còn lại, H và N1 mỗi người lấy 01 gói ma túy ra sử dụng. Tối ngày 26/6/2023, P, N1, H tiếp tục cùng nhau chia số ma túy còn lại được khoảng hơn 20 (hai mươi) gói ma túy thì dừng lại, H và N1 mỗi người lấy 01 gói ma túy mang ra sử dụng tại ven đường.
Tối ngày 27/6/2023 P gọi điện cho N1 và H sang nhà P để chia nốt số ma túy còn lại, tuy nhiên do N1, H mệt nên không sang, P một mình tự chia số ma túy còn lại được khoảng 20 (hai mươi) gói nhỏ.
Toàn bộ số ma túy trên chia được khoảng 60 gói nhỏ P đi bán cho các đối tượng nghiện trên địa bàn huyện B cụ thể: Lần 1: Ngày 26/6/2023 bán cho Bàn Văn T1, trú tại Thôn T, xã Đ, huyện B 03 (ba) gói ma túy giá 100.000đ/01gói; bán cho Triệu Văn D trú tại: Thôn B, xã Đ, huyện B 03 (ba) gói ma túy giá
3
100.000đ/01 gói. Lần 2: Ngày 27/6/2023 bán cho Bàn Văn T1 04 (bốn) gói ma túy giá 100.000đ/01gói. Ngoài ra bán cho những người khác không biết tên, tuổi, địa chỉ người đã mua.
Tổng số tiền P bán ma túy thu được 5.000.000đ (năm triệu đồng), số ma túy bán gần hết nên P, N1 và H thống nhất tiếp tục đi tìm mua thêm ma túy về chia bán kiếm lời, do đó thống nhất đưa cho H số tiền 4.500.000đ để tìm mua ma túy, còn 500.000đ đưa cho P chi tiêu cá nhân và phục vụ việc trao đổi mua bán số ma túy còn lại.
Ngày 29/6/2023, Bàn Văn P tiếp tục mang ma túy còn lại sang thôn N, xã Đ, huyện B bán cho những người nghiện thì bị tổ công tác Công an huyện B bắt quả tang thu giữ trên người Bàn Văn P 01 gói giấy màu trắng, bên trong có 08 gói giấy màu trắng nhỏ, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng (nghi là heroine) và 420.000 đồng. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Đến 16 giờ cùng ngày N1 biết P bị bắt đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện B đầu thú. Sầm Văn H biết đồng phạm bị bắt đã bỏ trốn khỏi địa phương, biết không thể trốn tránh nên đến ngày 08/9/2023 Sầm Văn H đến Cơ quan CSĐT Công an huyện B đầu thú và khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy cùng Bàn Văn P và Bàn Văn N1.
Đối với Sầm Văn H cầm số tiền 4.500.000 đồng đi sang tỉnh Bắc Kạn tìm mua ma túy nhưng không mua được, khi quay về biết P bị bắt nên H đi xuống Hà Nội chi tiêu hết số tiền trên.
Ngày 29/6/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện B khám xét khẩn cấp chỗ ở Bàn Văn Pích thu giữ 01 cân tiểu ly, 01 chiếc kéo và 01 quyển vở ôly.
Ngày 30/6/2023 cơ quan CSĐT Công an huyện B lập biên bản mở niêm phong, cân tịnh mẫu vật gửi giám định. Kết quả cân tịnh chất bột màu trắng thu giữ của Bàn Văn P, tổng khối lượng 0,136g (Không phẩy, một trăm ba mươi sáu gam) ký hiệu từ A1 đến A8.
Kết luận giám định số 217/KL-KTHS ngày 06/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận 08 (tám) mẫu chất bột màu trắng gửi giám định ký hiệu theo thứ tự từ A1 đến A8 đều là ma túy, loại Heroin, tổng khối lượng là 0,136g H (Heroine) tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Ngày 04/7/2023 cơ quan CSĐT Công an huyện B tiến hành lập biên bản mở niêm phong số tiền 420.000 đồng tạm giữ của Bàn Văn P và ra quyết định trưng cầu giám định tiền thật hay tiền giả. Tại bản Kết luận giám định số 229/KL-KTHS ngày 07/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận 06 (sáu) tờ tiền Việt Nam gửi giám định đều là tiền thật.
Ngày 04/10/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện B xác định hiện trường, xác định vị trí các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Kết quả Bàn Văn P, Bàn Văn N1 và Sầm Văn H chỉ dẫn các vị trí trao đổi thống nhất, góp tiền, vị trí cùng nhau chia ma túy đều phù hợp với nhau.
4
Về vật vụ án thu giữ: 01 chiếc kéo; 01 cuốn vở bên trong bị cắt mất nhiều phần giấy; 01 cân tiểu ly bằng gỗ; 01 điện thoại cảm ứng nhãn hiệu VIVO màu đen; 01 điện thoại cảm ứng nhãn hiệu HONOR màu nâu; 01 điện thoại cảm ứng nhãn hiệu Redmi màu đen; 01 vỏ bao thuốc lá thăng long màu vàng; 01 xe máy nhãn hiệu Wave, màu xanh BKS: 23H3-4458 tất cả đều đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam đồng 420.000 đồng; 01 phong bì màu trắng niêm phong kín, bên trong có vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ, mặt trước phong bì ghi “vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ” do Phòng K trả lại sau khi lấy mẫu giám định.
Tại Cáo trạng số 32/CT-VKSBM, ngày 10/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê truy tố bị cáo Bàn Văn P, Bàn Văn N1, Sầm Văn H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bàn Văn P, Bàn Văn N1, Sầm Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Bàn Văn P từ 08 (T) năm 03 (Ba) tháng tù đến 08 (T2) năm 06 (S) tháng tù.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Bàn Văn N1 từ 08 (T2) năm đến 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù; xử phạt bị cáo Sầm Văn H từ từ 08 (T2) năm đến 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc kéo; 01 cuốn vở bên trong bị cắt mất nhiều phần giấy; 01 cân tiểu ly bằng gỗ; 01 điện thoại nhãn hiệu VIVO màu đen; 01 điện thoại nhãn hiệu HONOR màu nâu; 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi màu đen; 01 vỏ bao thuốc lá thăng long, đều đã qua sử dụng. 01 phong bì màu trắng niêm phong kín, bên trong có vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ, mặt trước phong bì ghi “vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ” do Phòng K trả lại sau khi lấy mẫu giám định. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe máy nhãn hiệu Wave, BKS: 23H3-4458 đã qua sử dụng; tiền Việt Nam đồng 420.000 đồng.
Về án phí: Áp dụng điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12; điều 14; khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo: Đồng tình quan điểm của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật không oan sai. Tuy nhiên, xét về nhân thân các bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đối với bị cáo P chưa có tiền án, tiền sự; đối
5
với bị cáo N1, H sau khi phạm tội đã đến cơ quan điều tra đầu thú về hành vi phạm tội của mình; đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình phạt cho các bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh tuyên bố các bị cáo Bàn Văn P, Bàn Văn N1, Sầm Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Bàn Văn P 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Bàn Văn N1 08 (T2) năm tù; xử phạt bị cáo Sầm Văn H 08 (T2) năm tù.
Về án phí: áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Các bị cáo P, N1, H nhất trí với ý kiến của người bào chữa và quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị, thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Bị cáo Bàn Văn P, Bàn Văn N1, Sầm Văn H thực hiện quyền nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
[1]. Tại phiên tòa vắng mặt: Người làm chứng Bàn Văn T1, Triệu Văn D, Bồn Văn H1. Xét thấy các bị cáo; trợ giúp viên pháp lý; Kiểm sát viên đồng ý xét xử vắng mặt; trong hồ sơ đã có lời khai, việc vắng mặt những người trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Hội đồng tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
-
[2] Về tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo; trợ giúp viên pháp lý không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
[3] Về tội danh: Lời khai nhận tội các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, biên bản xác định hiện trường, biên bản lời khai của người làm chứng, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/6/2023 Bàn Văn P, Bàn Văn N1, Sầm Văn H cùng nhau góp tiền mua ma túy (heroine) số tiền 5.000.000 đồng và cùng nhau chia toàn bộ số ma túy được khoảng 60 gói, sau đó Bàn Văn P trực tiếp đi bán cho các đối tượng nghiện trên địa bàn huyện B, cụ thể: Lần 1 ngày 26/6/2023 bán cho Bàn Văn T1 03 gói ma túy được 300.000
6
đồng, Triệu Văn D 03 gói ma túy được 300.000 đồng. Lần 2 ngày 27/6/2023 tiếp tục bán cho Bàn Văn T1 04 gói ma túy được 400.000 đồng, ngoài ra bán cho nhiều đối tượng nghiện khác, không biết tên tuổi địa chỉ. Tổng số tiền thu được 5.000.000 đồng. Đến ngày 29/6/2023 P mang 08 gói ma túy còn lại đi bán thì bị bắt quả tang. Mục đích bán ma túy lấy tiền chia nhau và tiêu xài cá nhân. Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh H kết luận 08 mẫu chất bột màu trắng gửi giám định ký hiệu A1 đến A8 đều là ma túy, loại Heroine, tổng khối lượng là 0,136g. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
-
[4] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Thuộc trường hợp rất nghiêm trọng gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Bởi lẽ chất ma túy không chỉ đơn thuần là chất gây nghiện mà còn là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác, làm mất trật tự trị an địa phương, làm phá vỡ hạnh phúc gia đình, làm thiệt hại đến kinh tế và sức khỏe bản thân, suy giảm giống nòi con người Việt Nam. Trong khi Đ2 và Nhà nước đang ra sức bài trừ tệ nạn ma túy thông qua các chương trình, mục tiêu quốc gia phòng chống các tội phạm về ma túy thì các bị cáo lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Bàn Văn P, Bàn Văn N1 và Sầm Văn H nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm, thấy trước được tác hại của hành vi mua bán trái phép chất ma túy, nhưng vẫn thực hiện để nhằm mục đích thu lợi bất chính từ việc bán ma túy cho nhiều người.
-
[5] Về vai trò phạm tội: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm mang tính giản đơn, không có sự bàn bạc thống nhất và câu kết chặt chẽ với nhau, phân công vai trò khi phạm tội. Khi lượng hình Hội đồng xét xử cân nhắc.
-
[5.1] Đối với bị cáo Bàn Văn P là người khởi xướng rủ Bàn Văn N1, Sầm Văn H cùng nhau góp tiền mua ma túy về bán kiếm lời, là người trực tiếp thực hiện hành vi đi mua ma túy (Heroine) huyện B, tỉnh Cao Bằng về bán lẻ cho nhiều đối tượng nghiện trên địa bàn huyện B thu được 5.000.000 đồng. Xét về vai trò bị cáo P phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với bị cáo N1 và bị cáo H.
-
[5.2] Đối với bị cáo Bàn Văn N1 và bị cáo Sầm Văn H không trực tiếp đi mua bán ma túy, nhưng cùng trao đổi và góp tiền để P đi mua ma túy và cùng nhau chia nhỏ số ma túy để bán cho những người nghiện với mục đích nhằm chia nhau hưởng lợi. Xét về vai trò bị cáo N1 và bị cáo H chịu trách nhiệm hình sự bằng nhau.
-
-
[6] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
-
[6.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo Bàn Văn P không có. Đối với bị cáo Bàn Văn N1 và bị cáo Sầm Văn H có 01 tiền án năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo và 36 tháng thử thách về tội Cưỡng đoạt tài sản, lần phạm tội
-
7
-
-
này chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; bị cáo N1 và bị cáo H không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện đạo đức trở thành công dân tốt cho xã hội, nay lại tiếp tục cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đối với các bị cáo và cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để có thời gian cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.
-
[6.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo Bàn Văn P chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Bàn Văn N1 và bị cáo Sầm Văn H, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sự việc xảy ra đã tự nguyện đến cơ quan điều tra đầu thú về hành vi phạm tội của mình, là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật hạn chế nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Như vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
-
-
[7] Bị cáo Bàn Văn P, Bàn Văn N1 và Sầm Văn H đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại Điều 329 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
-
[8] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo làm ruộng thuần túy, thu nhập không ổn định, sống ở vùng điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
-
[9] Đối với số tiền thu lời bất chính: Bị cáo Sầm Văn H cầm số tiền 4.500.000 đồng đi sang tỉnh Bắc Kạn mua ma túy nhưng không mua được, khi quay về H biết P bị bắt đã xuống Hà Nội tiêu xài cá nhân hết, đối với bị cáo P đã tiêu số tiền 80.000đ, theo quy định của pháp luật phải truy thu nộp ngân sách nhà nước. Tuy nhiên bị cáo H, P không có tài sản, không có thu nhập và thuộc hộ cận nghèo nên không truy thu số tiền trên.
-
[10] Trong vụ án có một số hành vi đối tượng liên quan:
-
[10.1] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Bàn Văn P hiện nay cơ quan điều tra chưa làm rõ nhân thân lai lịch, địa chỉ của người này, do vậy cơ quan CSĐT huyện B tiếp tục xác minh xử lý sau. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
[10.2] Đối với Bàn Văn N1, ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma túy đã bị khởi tố ra còn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện B đã ra quyết định XPVPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
[10.3] Đối với Bàn Văn T1, Triệu Văn D, Bồn Văn H1 đều là người nghiện ma túy, sau khi mua được ma túy về sử dụng hết không bán cho ai, Công an
-
8
-
-
huyện B đã ra quyết định XPVPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
-
[11] Về xử lý vật chứng:
-
[11.1] Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Wave, BKS: 23H3-4458 của bị cáo P dùng làm phương tiện đi mua bán ma túy là phương tiện phạm tội nên tịch thu vào ngân sách Nhà nước; đối với 420.000₫ VNĐ của bị cáo P do phạm tội bán ma túy mà có nên tịch thu vào ngân sách Nhà nước.
-
[11.2] Đối với 01 chiếc kéo, 01 cuốn vở bên trong bị cắt nhiều phần giấy, 01 cân tiểu ly bằng gỗ, 01 điện thoại nhãn hiệu VIVO màu đen, 01 điện thoại nhãn hiệu HONOR màu nâu, 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi màu đen, 01 vỏ bao thuốc lá thăng long màu vàng là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
-
[11.3] Đối với 01 phong bì màu trắng được niêm phong kín, bên trong có “vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ” do Phòng K trả lại sau khi lấy mẫu giám định là vật chứng vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
-
-
[12] Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy đại diện Viện Kiểm sát đề nghị có cơ sở được chấp nhận.
-
[13] Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo đề nghị là phù hợp nên được chấp nhận.
-
[14] Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn đề nghị miễn nộp án phí. Hội đồng xét xử, xét thấy cho các bị cáo được miễn nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.
-
[15] Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bàn Văn P, Bàn Văn N1, Sầm Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
-
Về hình phạt:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Bàn Văn P 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 29/6/2023.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Bàn Văn N1 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 29/6/2023.
Xử phạt: Bị cáo Sầm Văn H 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 08/9/2023.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
9
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc kéo kim loại màu trắng có cán nhựa màu xanh (kéo cũ đã qua sử dụng, tình trạng han gỉ); 01 (một) quyển vở cũ, bẩn, một số trang có chữ viết, đã qua sử dụng, bên trong bị cắt xé nhiều phần giấy; 01 (một) cân tiểu ly bằng gỗ (cũ đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại cảm ứng nhãn hiệu VIVO màu đen, miếng dán màn hình bị vỡ (cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, máy trong tình trạng không hoạt động); 01 (một) điện thoại cảm ứng nhãn hiệu HONOR màu nâu nhạt, màn hình bị vỡ rất nhiều chỗ, các góc màn hình bị mất một phần kính, vỏ bị xước, mất sơn (cũ, bẩn, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong, máy trong tình trạng không hoạt động); 01 (một) điện thoại cảm ứng nhãn hiệu Redmi màu đen, vỏ và màn hình bị xước nhiều chỗ (cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, máy trong tình trạng không hoạt động); 01 (một) vỏ bao thuốc lá THĂNG LONG màu vàng bị móp méo (cũ đã qua sử dụng); 01 (một) Phong bì màu trắng được niêm phong kín, có dấu giáp lai của Phòng K Công an tỉnh H, bên trong có vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ, mặt trước phong bì ghi “vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ” do Phòng K trả lại sau khi lấy mẫu giám định.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) Xe máy nhãn hiệu Wave, màu xanh, biển số 23H3-4458, xe cũ, đã qua sử dụng, thân, vỏ xe bị vỡ, mất nhiều chỗ, một số vị trí xe được buộc bằng dây thép, xe không có chắn xích, một bên không có gương, vành xe bị han gỉ (xe trong tình trạng không hoạt động). (có kèm theo phiếu trả lời xác minh xe). Tiền Việt Nam 420.000 đồng (Bốn trăm hai mươi nghìn đồng) đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B chuyển vào tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê (Kèm theo giấy ủy nhiệm chi và lệnh thanh toán của ngân hàng)
(Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/11/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê).
-
Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12, điều 14, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Bàn Văn P; Bàn Văn N1; Sầm Văn H được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
11
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Dương Văn Công |
Bản án số 32/2023/HS-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 32/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt: Bị cáo Bàn Văn P 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù, ngày 29/6/2023; Bàn Văn N 08 (Tám) năm tù; Sầm Văn H 08 (Tám) năm tù
