Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƯNG
TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 32/2021/HNGĐ - ST
Ngày: 20/7/2021
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Cự và bà Nguyễn Thị Vĩnh

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thuận Yến - Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Kim Cúc - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 55/2021/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2021 về tranh chấp về hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2021/QĐXX-ST ngày 11 tháng 6 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 17/2021/QĐ – HPT ngày 29/6/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1994

Địa chỉ: Thôn K M, xã Th Th1, huyện Th Th2, tỉnh T B

Bị đơn: Anh Bùi Trung Q, sinh năm 1994

Địa chỉ: Thôn K H, xã Đ K, huyện Đ H, tỉnh T B

(Các đương sự đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ngày 15/3/2021 và trong quá trình tố tụng chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị và anh Q kết hôn do tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ K vào ngày 15/12/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 3/2020 đã phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xảy ra xô xát cãi cọ nhau. Nguyên nhân do anh Q không tu chí làm ăn, mải chơi bời, cờ bạc không quan tâm đến gia đình vợ con. Chị và gia đình đã góp ý khuyên bảo nhiều lần nhưng anh Q không thay đổi. Ngày 06/3/2020 vợ chồng mâu thuẫn anh Q đánh chị, chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn K M, xã Th Th1, huyện Th Th2 sinh sống cho đến nay. Sau khi chị H bỏ đi anh Q cũng không tìm chị mà chỉ gọi nhắn tin đe dọa chị. Nay chị H xác định vợ chồng không còn tình cảm, nên xin được ly hôn anh Q.

Về con chung: Chị và anh Q có 01 con chung là Bùi Trung A, sinh ngày 06/04/2016. Ly hôn chị H xin được nuôi con không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Hiện chị đang làm quản lý tại trường mầm non Bi bô thuộc xã Tr, huyện HĐ, TP H N, ngoài ra chị còn bán hàng online thu nhập bình quân khoảng 5,5 - 6 triệu đồng/tháng. Chị xin được nuôi con chung không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 08/6/2021 và trong quá trình tố tụng anh Q trình bày: Anh và chị H kết hôn do tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐK ngày 15/12/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với bố mẹ anh ở thôn K H xã Đ K đến năm 2018 thì chuyển sang sinh sống tại Thôn K M, xã Th Th1, huyện Th Th2. Cuối năm 2019 anh đi làm ăn ở Q N, do mải chơi bời dẫn đến nợ nần, an ít quan tâm đến vợ con. Vì vậy tình cảm vợ chồng lạnh nhạt dần. Hiện nay các khoản nợ anh vay đến nay anh đã tự trả hết. Tháng 10/2020 chị gửi con cho bố mẹ đẻ anh trông nom đi làm ăn ở đâu anh không biết. Nay chị H xin ly hôn, anh không muốn ly hôn. Anh mong Tòa án hòa giải để vợ chồng nuôi dạy con chung. Trường hợp chị H cố tình ly hôn anh phải chấp nhận. Hiện nay anh và chị H vẫn có nhà ở xã Th Th1 nhưng hộ khẩu của anh vẫn ở xã Đ K, anh vẫn đi về hai nơi và sinh sống ở hai nơi, để thuận tiện cho việc giải quyết ly hôn anh cũng đồng ý chọn Tòa án Đông Hưng là nơi giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị H.

Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung là Bùi Trung A, sinh ngày 06/04/2016. Chị H xin nuôi con không yêu cầu anh cấp dưỡng anh không đồng ý, anh xin nuôi con không yêu cầu chị H cấp dưỡng. Hiện tại anh làm công nhân ở công ty than D H địa chỉ Quảng Ninh thu nhập của anh từ 10 – 15 triệu đồng anh biết chị H vẫn chăm sóc con tốt nhưng chị H muốn ly hôn phải để con lại cho anh nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Anh Qu không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng phát biểu quan điểm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi nghị án đúng quy định của pháp luật việc chấp hành pháp luật của chị H đã tuân thủ quy định của pháp luật, của anh Qu chưa tuân thủ quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của chị H, xử cho chị được ly hôn anh Q. Về con chung: Giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng con Bùi Trung A, chấp nhận tự nguyện của của chị H không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết. Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Q vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mặc dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ. Chị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Q và chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Q ham chơi, ít quan tâm đến gia đình vợ, con, chị H đã nhiều lần góp ý nhưng anh Q không thay đổi. Chị H mất lòng tin ở anh Q. Tháng ngày 6/3/2020 vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng, chị H đã bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống, từ đó vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn. Chị H xin ly hôn, anh Q cũng chấp nhận ly hôn.

Xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy cần chấp nhận nguyện vọng của chị H, xử cho chị được ly hôn anh Q là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: Chị H và anh Q có 01 con chung là Bùi Trung A, sinh ngày 06/04/2016. Chị H và anh Q đều có nguyện vọng xin được nuôi con chung. Tuy nhiên trong quá trình tố tụng, anh Q cũng thừa nhận chị H chăm sóc con tốt. Cháu A còn nhỏ rất cần sự chăm sóc trực tiếp từ người mẹ. Do vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung cần giao cho chị H được trực tiếp nuôi dạy con chung. Đồng thời chấp nhận tự nguyện vọng của chị H không yêu cầu anh Quân cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

[4] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

[5] Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 39, Điều 35, Điều 146, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án, lệ phí Tòa án; Khoản 1 Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83, 84, 85 Luật Hôn nhân gia đình Tuyên xử:

  • 1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Bùi Trung Qu.
  • 2/ Về con chung: Giao cho chị H trực tiếp nuôi dạy con chung Bùi Trung A, sinh ngày 06/04/2016, chấp nhận tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Hai bên được quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn được thực hiện theo các Điều 81, 82, 84 và 116 Luật Hôn nhân gia đình.

  • 3/ Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
  • 4/ Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền chị H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0002713 ngày 31/3/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hưng thành tiền án phí.
  • 5/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
- Các đương sự
- VKS huyện Đông Hưng
- VKSND tỉnh Thái Bình
- Thi hành án dân sự Đông Hưng
- UBND xã Đ K
- Lưu Hồ sơ, Văn phòng
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa


(đã ký)


Hà Thị Nhung
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2021/HNGĐ - ST ngày 20/07/2021 của Toà án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình về tranh chấp về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 32/2021/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/07/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa chị H và anh Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger