Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI


Bản án số: 32/2021/HNGĐ-ST

Ngày 13 - 7 - 2021

Về việc: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Tuyến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Vượng – Bà Lê Thị Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Hoàng Thùy Linh – Thư ký, Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê Oanh – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2021 tại Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 116/2021 TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2021 về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Sái Thị Thùy D, sinh năm 1991; có mặt.

HKTT: Tổ 4, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

Bị đơn: Anh Nguyễn Đình Q, sinh năm 1994; có mặt.

HKTT: Xóm 14, thôn 1(V), xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Tạm trú: Tổ 4, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện; bản tự khai; các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn chị Sái Thị Thùy D trình bày:

Về hôn nhân: Chị Sái Thị Thùy D và anh Nguyễn Đình Q đăng ký kết hôn ngày 03/3/2014 tại Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 11 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm không thể chung sống cùng nhau, đã sống ly thân từ tháng 02/2021 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã tự hòa giải, hai bên gia đình đã khuyên giải nhiều lần nhưng không khắc phục được, chị D xác định tình cảm vợ chồng đã hết đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Q.

Về con chung: Chị D và anh Q có 01 con chung là cháu Nguyễn Đình Duy K, sinh ngày 17/3/2014. Chị D có nguyện vọng trực tiếp, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu K. Yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi cháu K mỗi tháng 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi.

Về chia tài sản: Chị D không yêu cầu Toà án giải quyết.

Theo bản tự khai; các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Đình Q trình bày:

Về hôn nhân: Anh Q thống nhất với chị D về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng là đúng, anh Q xác định tình cảm vợ chồng đã hết đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Q và chị D được ly hôn.

Về con chung: Anh Q thống nhất với chị D vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Đình Duy K, sinh ngày 17/3/2014. Khi ly hôn anh Q không đồng ý để chị D là người trực tiếp nuôi con chung vì anh Q cho rằng chị D có dấu hiệu ngoại tình, không đủ điều kiện về tư cách đạo đức để nuôi con, anh Q có thu nhập ổn định 10.000.000đồng/ tháng, chị D không có thu nhập ổn định, việc chăm sóc con chủ yếu nhờ ông bà ngoại, chị D không có nhiều thời gian để quan tâm, chăm sóc con. Nên anh Q đề nghị Tòa án giao cháu K cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, anh Q không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản: Anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái phát biểu quan điểm về vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83; 107, 110; 116 và Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, Bị đơn anh Nguyễn Đình Q hiện tạm trú tại tổ 4, phường Yên Thịnh, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Sái Thị Thùy D kết hôn với anh Nguyễn Đình Q trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh Q đã trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D.

[3]. Về con chung: Chị D và anh Q có 01 con chung là cháu Nguyễn Đình Duy K, sinh ngày 17/3/2014. Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện chị D có nghề nghiệp, thu nhập và nơi ở ổn định. Anh Q không cung cấp các tài liệu, chứng cứ, chứng minh điều kiện đảm bảo để thực hiện quyền được trực tiếp nuôi con. Do vậy, nên giao cháu K cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp. Buộc anh Q phải cấp dưỡng nuôi cháu K 1.500.000 đồng/ tháng, kể từ tháng 7 năm 2021 cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi.

[4] Về chia tài sản: Chị D, anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị D phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, anh Q phải chịu tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83; 107, 110; 116 và Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Về hôn nhân: Chị Sái Thị Thùy D được ly hôn anh Nguyễn Đình Q.
  2. Về con chung: Giao cho chị Sái Thị Thùy D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Đình Duy K, sinh ngày 17/3/2014. Anh Nguyễn Đình Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu K 1.500.000đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng)/ 01 tháng, kể từ tháng 7 năm 2021 cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Anh Nguyễn Đình Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Chị Sái Thị Thùy D phải chịu 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai số: AA/2017/0009033, ngày 05 tháng 5 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái. Anh Nguyễn Đình Q phải chịu 300.000đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Sái Thị Thùy D và anh Nguyễn Đình Q được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP Yên Bái;
  • - Chi cục thi hành án Dân sự TP Yên Bái;
  • - Các đương sự;
  • - UBND p. Y, Tp. Yên Bái;
  • - Lưu: Hồ sơ; TA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa


(đã ký)


Nguyễn Thị Kim Tuyến
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2021/HNGĐ-ST ngày 13/07/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái về ly hôn và tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 32/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/07/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án D - Q Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger