Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG


Bản án số: 32/2021/HNGĐ-ST

Ngày: 12 - 5 - 2021

“V/v Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CÔNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Dương Minh Thiết
  2. Ông Ngô Thanh Xuân

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2021/TLST- HNGĐ ngày 13/01/2021 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 51/2021/QĐXX-ST ngày 30/3/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2021/QĐST-HNGĐ ngày 16/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện L, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Phạm Thị S, sinh năm 1995 - Có mặt.

ĐKHKTT: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh B.

Địa chỉ chỗ ở hiện nay: Phòng 309, Tòa 204, Ký túc xá Samsung, khu công nghiệp Yên Bình, Phổ Yên, Thái Nguyên.

* Bị đơn: Anh Thân Văn T, sinh năm 1991 - Có mặt.

Địa chỉ: Thôn Ngoẹn, xã T, huyện L, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị S trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Thân Văn T được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh B vào ngày 21/3/2016. Anh chị được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Khi cưới xong, vợ chồng chị thuê nhà ở tại tỉnh Thái Nguyên sinh sống. Sau đó khoảng 10 tháng, do anh T về làm lái xe dưới tỉnh Bắc Ninh nên chị và anh T thuê trọ dưới tỉnh Bắc Ninh sinh sống. Cuối năm 2018, anh T mua xe ô tô chạy hợp đồng thì anh T chuyển về nhà ở thôn Ngoẹn, xã T sinh sống, chị chuyển vào Ký túc xá Samsung, khu công nghiệp Yên Bình, Phổ Yên, Thái Nguyên sinh sống. Từ cuối năm 2019, chị và anh T thường xuyên cãi nhau. Nguyên nhân là do chị đọc được tin nhắn facebook của anh T nhắn cho người phụ nữ khác, anh T thiếu quan tâm đến chị, từ đó vợ chồng cãi nhau thường xuyên. Hai bên gia đình đã động viên hòa giải nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng không hàn gắn được. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

- Về con chung: Giữa chị và anh T không có con chung nên chị không yêu cầu Tòa án xem xét về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản ghi lời khai ngày 22/01/2021, bị đơn anh Thân Văn T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phạm Thị S được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L vào ngày 21/3/2016. Sau khi kết vợ chồng anh đi làm cùng nhau trên Thái Nguyên nên thuê trọ trên Thái Nguyên, sau đó vợ chồng anh chuyển về tỉnh Bắc Ninh sinh sống, khi đó chị S đi làm sáng đi tối về do xe công ty đưa đón. Từ đầu năm 2019, anh mua xe ô tô để chạy riêng nên anh chuyển về nhà sinh sống, chị S chuyển vào Ký túc xá Samsung, khu công nghiệp Yên Bình, Phổ Yên, Thái Nguyên sinh sống, khoảng 2 tuần chị S về nhà một lần. Kể từ tháng 6 năm 2020, do chị S học thêm tiếng nước ngoài thì chị S ít về nhà hơn. Quá trình chung sống ban đầu thì vợ chồng vẫn bình thường, không xảy ra mâu thuẫn. Nhưng cách đây khoảng một năm, do đặc thù công việc cuả anh làm lái xe hợp đồng, ngày nghỉ anh đi giao lưu, nhậu nhẹt có hôm về muộn nên vợ chồng có nói nhau về việc này nhưng không xảy ra cãi cọ to tiếng. Nay chị S khởi kiện xin ly hôn anh thì anh không đồng ý, lý do anh không đồng ý là do anh vẫn còn tình cảm với chị S và mong muốn Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ.

Vợ chồng không có con chung, tài sản chung, công nợ chung nên anh đồng ý với ý kiến chị S về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1]. Đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị S cùng các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp là hoàn toàn hợp lệ, đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về hình thức và nội dung đơn khởi kiện, về chủ thể có quyền khởi kiện. Nguyên đơn đã thực hiện việc thông báo khởi kiện và gửi tài liệu cho bị đơn theo quy định.

[2].Về thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp về ly hôn, bị đơn đang cư trú tại huyện L nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện L theo quy định tại Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[4.1]. Về tình trạng hôn nhân của chị S và anh T: Nguyên đơn chị Phạm Thị S xác định nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do chị nghi ngờ anh T có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác, anh T không quan tâm tới chị, có thời gian chị nằm viện 10 ngày anh T chỉ lên ký giấy tờ và thăm chị được 1 lần, tại phiên tòa chị S xác định không còn tình cảm với anh T, vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được và kiên quyết xin ly hôn anh T. Bị đơn anh Thân Văn T thừa nhận có nhắn tin trêu đùa qua điện thoại với người phụ nữ khác... Hội đồng xét xử xét thấy: mâu thuẫn giữa chị S và anh T đã trầm trọng. Việc anh T và chị S sống xa nhau khiến tình cảm vợ chồng bị xa cách... Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Phạm Thị S được ly hôn anh Thân Văn T.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 264, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, giam, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị S được ly hôn anh Thân Văn T.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số AA/2019/0002815 ngày 13/01/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện L. Xác nhận chị S đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện L;
  • - TAND tỉnh B;
  • - UBND xã T;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Vũ Thị Thiêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2021/HNGĐ-ST ngày 12/05/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 32/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/05/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Soa khởi kiện anh Trung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger