Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 319/2023/HSST

Ngày: 26-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh
  2. Ông Huỳnh Văn Bé

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 272/2023/HSST ngày ngày 25/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 290/2023/QĐ-HSST ngày 30/11/2023 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Võ Hoàng A. Giới tính: Nam. Tên thường gọi: Nhí. Sinh ngày 05 tháng 4 năm 1987. Tại: Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: Số I đường T, Tổ A, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Công nhân. Cha: Võ Văn Ẩ; Mẹ: Huỳnh Thị G; Anh chị em: 04 người (kể cả bị can).Vợ, con: chưa có.
  2. Nhân thân: Ngày 15/7/2019, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng, theo Quyết định số 273/QĐ-TA, chấp hành xong Quyết định vào ngày 29/10/2020.
  3. Tiền án, tiền sự: Không.
  4. Bị bị tạm giữ từ ngày 20/8/2023, đến ngày 29/8/2023 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
  5. Họ và tên: Võ Tấn L. Giới tính: Nam. Tên thường gọi: Tèo. Sinh ngày 20 tháng 01 năm 1978. Tại: Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: Số F đường L, Tổ A, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Học vấn: 02/12. Nghề nghiệp: Thợ hồ. Cha: Võ Văn N. Mẹ: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1953. Anh chị em: 07 người (kể cả bị can). Vợ: Võ Thị H, sinh năm 1981. Con: 01 người, sinh năm 2001.
  6. Tiền sự, tiền án: Không.
  7. Bị bị tạm giữ từ ngày 20/8/2023, đến ngày 29/8/2023 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
  8. Họ và tên: Huỳnh Văn L1. Giới tính: Nam. Sinh ngày 30 tháng 8 năm 1977. Tại: Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: 108 Trần Thị H1, Tổ A, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Học vấn: 05/12. Nghề nghiệp: Công nhân. Cha: Huỳnh Văn T; Mẹ: Phạm Thị Q. Anh chị em: 04 người (kể cả bị can). Vợ: Phạm Thị Ngọc L2, sinh năm 1978. Con: Không có.
  9. Tiền án, tiền sự: Không.
  10. Bị bị tạm giữ từ ngày 20/8/2023, đến ngày 29/8/2023 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
  11. Họ và tên: Võ Hoàng P. Giới tính: Nam. Tên thường gọi: Phương Nám. Sinh ngày 02 tháng 5 năm 1979. Tại: Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: Ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Học vấn: 7/12. Nghề nghiệp: Làm thuê. Cha: Võ Văn N2. Mẹ: Hà Thị R. Anh chị em: 06 người (kể cả bị can). Vợ: Lê Thị Q1, sinh năm 1983. Con: 01 người, sinh năm 2008.
  12. Nhân thân: Ngày 15/8/2019 bị Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền là 1.500.000 đồng; đã đóng nộp phạt vào ngày 15/8/2019.
  13. Tiền án, tiền sự: Không.
  14. Bị bị tạm giữ từ ngày 20/8/2023, đến ngày 29/8/2023 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
  15. Họ và tên: Phạm Thị T1. Giới tính: Nữ. Tên thường gọi: D. Sinh ngày 23 tháng 9 năm 1975. Tại: Tiền Giang. Nơi thường trú: ấp N, xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Nơi ở hiện tại: Số A đường T, Tổ A, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Học vấn: 10/12. Nghề nghiệp: Buôn bán. Cha: Phạm Văn T2. Mẹ: Nguyễn Thị H2. Anh chị em: 10 người (kể cả bị can). Chồng: Nguyễn Văn P1, sinh năm 1971 (đã ly hôn). Con: 01 người, sinh năm 2002.
  16. Tiền án: Không.
  17. Tiền sự: Ngày 17/11/2022, Công an xã T, huyện C xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi đánh bạc qua mạng xảy ra ngày 22/10/2022 tại số E đường L, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Quyết định số 0010368/QĐ-XPHC, nộp xong tiền phạt ngày 23/3/2023.
  18. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Các bị cáo có mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 20/8/2023, Võ Hoàng A đi bộ một mình mang theo 5.000.000 đồng và bộ D1 dùng lắc tài xỉu gồm: 05 hột xí ngầu, 01 cái dĩa, 01 cái nắp nhựa đến quán nước tại số E đường L, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh do Phạm Thị T1 quản lý, để đánh bạc. A tự làm cái cho khoảng 04 - 05 người là khách của quán nước chơi với hình thức lắc tài xỉu, thắng thua bằng tiền. Trong đó, Võ Tấn L sử dụng số tiền 480.000 đồng, Huỳnh Văn L1 sử dụng số tiền 800.000 đồng và Võ Hoàng P sử dụng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc. Mỗi ván người tham gia đặt cược từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng. Trong lúc làm cái thì An lắc “bão” được 02 ván nên xâu tiền cho chị Phạm Thị T1 02 lần tiền, lần thứ nhất 100.000 đồng, lần thứ hai 50.000 đồng, A thắng được 2.760.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, A đang làm cái đánh bạc thắng thua bằng tiền trong ván tiếp theo cho Võ Hoàng P, Võ Tấn L và Huỳnh Văn L1 đặt cược thì bị Công an xã T kiểm tra bắt quả tang

Tang vật, gồm: 05 hột xí ngầu (03 hột đang sử dụng để đánh bạc); 01 nắp nhựa; 01 cái dĩa; tiền tang sử dụng để đánh bạc tạm giữ tại chiếu bạc: 200.000 đồng; tiền tạm giữ trên người sử dụng đánh bạc gồm 9.310.000 đồng: 7.760.000 đồng tạm giữ của A, 150.000 đồng tạm giữ của P, 1.000.000 đồng tạm giữ của L1, 400.000 đồng tạm giữ của L; tiền xâu: 150.000 đồng do T1 tự nguyện giao nộp; tạm giữ của Võ Hoàng P 1.000.000 đồng, không sử dụng để đánh bạc.

Các bị can Võ Hoàng A, Võ Hoàng P, Huỳnh Văn L1, Võ Tấn L và Phạm Thị T1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Tại bản cáo trạng số 250/CTr - VKS ngày 23/10/2023 của Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố các bị cáo Võ Hoàng A, Võ Tấn L, Huỳnh Văn L1, Võ Hoàng P và Phạm Thị T1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hành quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị: Tuyên bố các bị cáo Võ Hoàng A, Võ Tấn L, Huỳnh Văn L1, Võ Hoàng P và Phạm Thị T1 phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Võ Hoàng A với mức án từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, tuyên khấu trừ thu nhập của bị cáo Võ Hoàng An A theo quy định; đồng thời áp dụng thêm khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt tiền bị cáo Võ Hoàng A với số tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
  • Áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Võ Tấn L số tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
  • Áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Huỳnh Văn L1 số tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
  • Áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Võ Hoàng P số tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
  • Áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Phạm Thị T1 với mức án từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ, tuyên khấu trừ thu nhập của bị cáo Phạm Thị T1 theo quy định; đồng thời áp dụng thêm khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt tiền bị cáo Phạm Thị T1 với số tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
  • Về xử lý vật chứng: 05 hột xí ngầu (03 hột đang sử dụng để đánh bạc), 01 nắp nhựa, 01 cái dĩa; đây là các phương tiện sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
  • Tiền tang sử dụng để đánh bạc tạm giữ tại chiếu bạc: 200.000 đồng; Tiền tạm giữ trong người sử dụng để đánh bạc 9.310.000 đồng gồm: 7.760.000 đồng tạm giữ của A, 150.000 đồng tạm giữ của P, 1.000.000 đồng tạm giữ của L1, 400.000 đồng tạm giữ của L; Tiền xâu: 150.000 đồng; Đây là tiền sử dụng cho việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • Số tiền 1.000.000 đồng tạm giữ của bị cáo Võ Hoàng P đây là tiền riêng của P không sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo P.
  • Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; bị cáo Võ Hoàng A xác định trong quá trình đánh bạc có một vài đối tượng không rõ lai lịch vào chơi đánh bạc với bị cáo Võ Hoàng A và thua tiền, nhưng bị cáo không biết là ai, sau khi chơi xong thì các đối tượng đã ra về. Vì vậy, số tiền đánh bạc bị thu giữ là 9.310.000 đồng bao gồm cả tiền của các bị cáo và các đối tượng đã chơi đánh bạc trước đó; Các bị cáo trình bày các bị cáo đều có nơi cư trú, có công việc làm ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử tạo điều kiện cho các bị cáo được có cơ hội sửa chữa sai lầm, xin được giảm nhẹ hình phạt và xin cho các bị cáo không phải chấp hành án phạt tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, nhận thấy:

  1. [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
  2. [2]. Tại cơ quan điều tra cũng như qua thẩm tra xét hỏi trước phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng thu được, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đúng như hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố các bị cáo ra trước tòa, cho thấy các bị cáo có hành vi như sau: Võ Hoàng A chuẩn bị bộ dụng cụ “lắc tài xỉu” đến quán nước do Phạm Thị T1 làm quản lý mục đích rủ khách trong quán nước chơi đánh bạc; Tại đây, Võ Hoàng A đã chơi đánh bạc với các đối tượng chưa rõ lai lịch, sau khi các đối tượng chơi đánh bạc với Võ Hoàng A xong và ra về thì Võ Hoàng P, Huỳnh Văn L1, Võ Tấn L cùng chơi đánh bạc ăn thua trực tiếp bằng tiền mỗi ván đặt cược từ 20.000 đồng đến 200.000 đồng, riêng Phạm Thị T1 là chủ quán nước trực tiếp thu tiền xâu, các bị cáo đang đánh bạc thì bị lực lượng công an bắt quả tang cùng tang vật.
  3. Bị cáo Võ Hoàng A khai: mang theo số tiền 5.000.000 đồng, dùng đánh bạc tất cả số tiền 5.000.000 để đánh bạc; bị cáo Võ Tấn L khai: mang theo số tiền 480.000 đồng, sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc; bị cáo Huỳnh Văn L1 khai: mang theo số tiền 800.000 đồng, sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc; bị cáo Võ Hoàng P khai: mang theo số tiền 1.200.000 đồng, sử dụng số tiền 200.000 đòng để đánh bạc; riêng số tiền 1.000.000 đồng là tiền riêng bị cáo P không dùng để đánh bạc.
  4. Tại thời điểm bị bắt, thu giữ số tiền các bị cáo và các đối tượng khác đã tham gia đánh bạc là 9.660.000 đồng; trong đó, tiền trên chiếu bạc là 200.000 đồng, tiền thu giữ trong người các bị cáo, các bị cáo khai sử dụng để đánh bạc là 9.310.000 đồng; trong 9.310.000 đồng thì: Thu giữ của Võ Hoàng A là 7.760.000 đồng; thu giữ của Võ Hoàng P là 150.000 đồng; thu giữ của Huỳnh Văn L1 là 1.000.000 đồng, thu giữ của Võ Tấn L là 400.000 đồng; trong lúc chơi Võ Hoàng A lắc “bão” được 02 ván nên Phạm Thị T1 nhận 02 lần tiền xâu, lần thứ nhất 100.000 đồng, lần thứ hai 50.000 đồng; T1 tự nguyên giao nộp số tiền 150.000 đồng; ngoài ra còn tạm giữ của Võ Hoàng P 1.000.000 đồng, số tiền này P khai không sử dụng để đánh bạc.
  5. Bị cáo Võ Hoàng A chuẩn bị xúc xắc, các dụng cụ đánh bạc, rủ các con bạc Võ Hoàng P, Huỳnh Văn L1, Võ Tấn L để chơi đánh bạc và cùng tham gia trực tiếp việc đánh bạc, ăn thua trực tiếp bằng tiền, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 9.660.000 đồng; hành vi của bị cáo Võ Hoàng A mặc dù chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức đánh bạc nhưng bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự chung với các bị cáo về tội đánh bạc; bị cáo Phạm Thị T1 thu tiền xâu của các con bạc để hưởng lợi, bỏ mặc các đối tượng đánh bạc nên phải chịu chung trách nhiệm với các bị cáo. Với hành vi nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Võ Hoàng A, Võ Hoàng P, Huỳnh Văn L1, Võ Tấn L và Phạm Thị T1 đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  6. [2]. Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo là người đã trưởng thành, biết rõ hành vi đánh bạc bị nhà nước nghiêm cấm và là một tệ nạn xã hội thường dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng, phát sinh nhiều tội phạm khác nhau. Nhà nước bằng các quy phạm pháp luật với các chế tài hình sự rất nghiêm khắc để giáo dục, trừng trị những người tham gia vào tệ nạn xã hội này, nhưng vì muốn kiếm tiền bằng con đường bất chính mà các bị cáo vẫn bất chấp phạm tội, xem thường pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc nhằm giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, đấu tranh ngăn chặn tệ nạn cờ bạc trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng, tài sản của công dân. Trong vụ án này bị cáo A là người khởi xướng, chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội, lôi kéo, rủ rê và cùng thực hiện việc đánh bạc, bị cáo có nhân thân xấu; bị cáo T1 không đánh bạc nhưng thu tiền xâu nhằm hưởng lợi và có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc mặc dù bị cáo đã nộp phạt theo quy định nhưng chưa hết thời gian được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo P có nhân thân xấu nên hình phạt của các bị cáo A, P và T1 phải cao hơn hình phạt các bị cáo khác.
  7. [3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
  8. [4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  9. Đối với bị cáo P vào năm 2021 đã có thành tích xuất sắc và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh tặng Giấy khen nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Đối với bị cáo Võ Tấn L có bà nội là Võ Thị H3 được cấp Giấy chứng nhận có công giúp đỡ Cách Mạng là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên cần áp dụng để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt theo quy định.
  10. [5]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với hình phạt của các bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, riêng bị cáo P có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, các bị cáo không tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự; các bị cáo phạm tội bộc phát, mới thực hiện hành vi phạm tội thì bị bắt, số tiền dùng đánh bạc nhỏ, chưa thu lợi; các bị cáo Võ Hoàng A, Phạm Thị T1 khai có công việc làm ổn định và có nơi cư trú rõ ràng, từ khi phạm tội cho đến nay các bị cáo chưa có biểu hiện gì vi phạm pháp luật nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, mà chỉ cần giao các bị cáo về chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, cũng đủ để giáo dục và cải tạo các bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt cho xã hội.
  11. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo Võ Hoàng A, Phạm Thị T1 và cần thiết phạt thêm hình phạt tiền đối với các bị cáo; đồng thời quyết định khấu trừ 10% thu nhập của các bị cáo tương ứng với số tiền là 418.000 (bốn trăm mười tám ngàn đồng) theo quy định tại Nghị định số 157/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định về mức lương tối thiểu vùng để sung quỹ nhà nước; việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng.
  12. Xét thấy, bị cáo Võ Hoàng A đã bị tạm giữ từ ngày 20/8/2023 đến ngày 29/8/2023 (09 ngày) nên cần áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự để quy đổi và khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ cho bị cáo. Riêng các bị cáo Võ Tấn L, Huỳnh Văn L1, Võ Hoàng P phạm tội lần đầu nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền cũng đã có tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội thể hiện sự nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện cho các bị cáo tu sửa thành người có ích cho xã hội .
  13. [6]. Về tiền thu lời bất chính: Nhận thấy, tại phiên toà cũng như tại cơ quan điều tra các bị cáo khai mới chơi đánh bạc ngày đầu tiên thì bị bắt nên không thu lợi, vì vậy không có căn cứ buộc bị cáo phải nộp tiền thu lợi bất chính để sung vào ngân sách nhà nước.
  14. [7]. Về đồng phạm: Đây là vụ án có đồng phạm, các bị cáo phạm tội nhưng không phân chia vai trò nhiệm vụ cụ thể, không có sự cấu kết chặt chẽ nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần xác định rõ vai trò tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo.
  15. [8]. Về các vấn đề khác: Đối với các đối tượng chưa rõ lai lịch đã chơi đánh bạc với bị cáo Võ Hoàng A, kiến nghị cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tiếp tục điều tra làm rõ và đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
  16. [9]. Về xử lý vật chứng: 05 hột xí ngầu (03 hột đang sử dụng để đánh bạc), 01 nắp nhựa, 01 cái dĩa; đây là các phương tiện sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  17. Tiền tang sử dụng để đánh bạc tạm giữ tại chiếu bạc: 200.000 đồng; Tiền tạm trong người sử dụng đánh bạc 9.310.000 đồng gồm: 7.760.000 đồng tạm giữ của A, 150.000 đồng tạm giữ của P, 1.000.000 đồng tạm giữ của L1, 400.000 đồng tạm giữ của L; Tiền xâu: 150.000 đồng; Đây là tiền sử dụng cho việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  18. Số tiền 1.000.000 đồng tạm giữ của bị cáo Võ Hoàng P đây là tiền riêng của P không sử dụng vào việc phạm tội nên cần lại cho bị cáo P
  19. [10]. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Võ Hoàng A, Võ Hoàng P, Huỳnh Văn L1, Võ Tấn L và Phạm Thị T1 phạm tội “Đánh bạc”.
    1. 1.1 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Võ Hoàng A.
      • - Xử phạt bị cáo Võ Hoàng A 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. (Trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/8/2023 đến ngày 29/8/2023 là 09 ngày tạm giữ; quy đổi bằng với 27 ngày cải tạo không giam giữ).
      • - Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Võ Hoàng A
      • Xử phạt bị cáo Võ Hoàng A số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng
      • Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nhận được trích sao Bản án và Quyết định thi hành án.
      • Tuyên giao bị cáo Võ Hoàng A cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
      • Khấu trừ thu nhập: Trong thời gian bị cáo Võ Hoàng A chấp hành án, phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập là 418.000 (bốn trăm mười tám ngàn) đồng/tháng. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng.
    2. 1.2 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Võ Tấn L.
      • - Xử phạt bị cáo Võ Tấn L số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
    3. 1.3 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Huỳnh Văn L1.
      • - Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn L1 số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
    4. 1.4 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, v khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Võ Hoàng P.
      • Xử phạt bị cáo Võ Hoàng P số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng
    5. 1.5 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Phạm Thị T1.
      • - Xử phạt bị cáo Phạm Thị T1 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ.
      • Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017
      • Xử phạt bị cáo Phạm Thị T1 số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
      • Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nhận được trích sao Bản án và Quyết định thi hành án.
      • Tuyên giao bị cáo Phạm Thị T1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
      • Khấu trừ thu nhập: Trong thời gian bị cáo Phạm Thị T1 chấp hành án, phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập là 418.000 (bốn trăm mười tám ngàn) đồng/tháng. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng.
      • - Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
      • * Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
  2. 2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
    • - Tịch thu tiêu hủy 05 hột xí ngầu, 01 nắp nhựa, 01 cái dĩa.
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 9.660.000 đồng.
    • - Trả lại cho bị cáo Võ Hoàng P số tiền 1.000.000 đồng
    • (Tang vật được liệt kê theo Lệnh nhập kho vật chứng số 208/LNK-CSĐT-CSHS ngày 01/9/2023 và Lệnh nhập kho vật chứng số 208B/LNK-CSĐT-CSHS ngày 01/9/2023).
  3. 3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. 4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND HCC;
  • - Chi cục THADS HCC;
  • - THAHS;
  • - Phòng PC53 Công an TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - UBND xã Tân An Hội;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 319/2023/HSST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 319/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger