Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 319/2024/DS-ST

Ngày 26-9-2024

V/v tranh chấp về thừa kế tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ;
  2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 348/2022/TLST-DS ngày 03/11/2022 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2024/QĐXXST-DS ngày 10/5/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1972; địa chỉ: Số I đường T, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
  2. Người đại diện hợp pháp: Ông Đậu Đức N, sinh năm 1992; địa chỉ: Xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 05/10/2022); (Có mặt).

  3. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1967; địa chỉ: Số C, tổ G, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; (Vắng mặt).
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1954; địa chỉ: Số C, tổ G, đường T, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; (Vắng mặt).
    • - Ông Phạm Văn C, sinh năm 1956; địa chỉ: Số C khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; (Vắng mặt).
    • - Ông Phạm Văn X, sinh năm 1960; địa chỉ: 1 khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 06/10/2022 và lời khai trong quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Đậu Đức N trình bày:

Cụ Phạm Thị M, sinh năm 1925, chết năm 2009, cha của cụ Phạm Thị M là ông Phạm Văn H chết trước năm 1975 không có giấy chứng tử, mẹ cụ M tên Nguyễn Thị N1 đã chết trước năm 1975 không có giấy chứng tử. Cụ M có 02 người chồng, chồng trước của cụ là ông Đinh Văn B đã chết trước giải phóng, ông B không có con nuôi, con riêng. Chồng sau của cụ M tên Nguyễn Văn B1, sinh năm 1925, chết năm 1985. Cụ M có tổng cộng 05 người con tên Phạm Thị T1, ông Phạm Văn C, ông Phạm Văn X, bà Nguyễn Thị L và bà Nguyễn Thị Ngọc T. Ngoài ra, ông B1 và cụ M không có con nuôi, con riêng.

Cụ M được cha, mẹ để lại Quyền sử dụng đất diện tích 3.292m² thuộc thửa đất số 216, 298, 376, 422, tờ bản đồ số B3, tọa lạc ấp T, xã T, huyện D (nay là khu phố T, phường T, thành phố D), tỉnh Bình Dương vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1701QSDĐ/TB do Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương cấp ngày 24/6/2002 cho hộ cụ Phạm Thị M. Tuy nhiên, đến năm 2008 cụ Phạm Thị M có ký Hợp đồng tặng cho bà Nguyễn Thị Ngọc T một phần quyền sử dụng đất nêu trên với diện tích 625.6m² và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04402 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Dĩ An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 01/4/2008. Như vậy, diện tích đất của cụ M còn lại sau khi trừ đi diện tích mà đã tặng cho bà Nguyễn Thị Ngọc T là 2666.4m². Thời điểm cụ M chết vào 2009 không để lại di chúc đối với diện tích đất 2666.4m² thuộc thửa đất số 216, 298, 376, 422 nêu trên. Do đó, diện tích đất nêu trên là di sản của cụ M để lại cho các đồng thừa kế theo quy định của pháp luật.

Trong thời gian qua các anh, chị em trong gia đình không thống nhất được với nhau về việc chia di sản do cụ M để lại. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Chia di sản thừa kế của cụ Phạm Thị M đối với phần diện tích 2666.4m² thuộc thửa đất số 216, 298, 376, 422 tờ bản đồ số B3 tọa lạc khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, bà T yêu cầu được nhận kỷ phần với diện tích 533,28m² (473,28 m² CLN, BHK và 60m² ODT), diện tích đất còn lại là của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn xác định, trường hợp không biết được đất thổ cư nằm tại vị trí nào thì nguyên đơn xin được nhận với kỷ phần diện tích 557,2m² (trong đó: 300,2m² CLN thuộc một phần thửa đất số 216 và 257m² BHK thuộc thửa đất số 376) tại vị trí mà nguyên đơn đang quản lý, sử dụng. Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và thu thập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, nguyên đơn không yêu cầu Tòa án xem xét công sức gìn giữ, tôn tạo di sản cho nguyên đơn.

2

* Qúa trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thị L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn X, bà Phạm Thị T1 và ông Phạm Văn C: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng trong vụ án. Tuy nhiên, bà L, ông X, bà T1 và ông C không có ý kiến hay cung cấp tài liệu chứng cứ để phản bác phần trình bày cũng như chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá thể hiện: Quyền sử dụng đất, diện tích 2.666,4m², trong đó: 300m² ODT và 931,4m² CLN và 1.435m² BHK (nay là HNK) thuộc thửa số 216, 298, 376, 422 tờ bản đồ số B3, tọa lạc khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương có tổng giá trị 13.932.000.000 đồng [(300m² ODT x 7.000.000 đồng/m²) + (931,4m² CLN + 1.435m² HNK x 5.000.000 đồng/m²)];

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An:

  • Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
  • Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật. Bị đơn bà Nguyễn Thị L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn X, bà Phạm Thị T1 và ông Phạm Văn C không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt những người có tên nêu trên là đúng quy định.
  • Về nội dung vụ án: Quyền sử dụng đất có diện tích 2664.4m², thuộc thửa đất số 216, 298, 376, 422, tờ bản đồ số B3, tọa lạc khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương là di sản của cụ Phạm Thị M. Cụ M chết không để lại di chúc. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Bị đơn bà Nguyễn Thị L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn X, bà Phạm Thị T1 và ông Phạm Văn C đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trên theo quy định của Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. [2] Tại giấy khai sinh số 27, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là phường T, thành phố D), tỉnh Bình Dương cấp ngày 05/01/1978 thì bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1972. Tại Sổ hộ khẩu cấp năm 1989 cấp cho chủ hộ cụ Phạm Thị M gồm có các thành viên Phạm Thị T1, sinh năm 1974, Phạm Văn X, sinh năm 1960 và Phạm Thị Lợi N2, sinh năm 1971. Tại công văn số 717/CATP-QLHC ngày 20/6/2024 của Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương xác định, năm 2002 Công an huyện D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương đã làm thủ tục điều chỉnh họ tên của bà T từ Phạm Thị Lợi N2, sinh năm 1971 thành Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1972. Như vậy, có cơ sở xác định bà Phạm Thị Lợi N2, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1972 là cùng một người.
  3. [3] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T tranh chấp với bị đơn bà Nguyễn Thị L về di sản của cụ Phạm Thị M để lại quyền sử dụng đất diện tích 2.666,4m² thuộc thửa đất số 216, 298, 376, 422, tờ bản đồ số B3 tọa lạc ấp T, xã T (nay là khu phố T, phường T, thành phố D), tỉnh Bình Dương vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1701QSDĐ/TB do Ủy ban nhân dân huyện D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương cấp ngày 24/6/2002 cho hộ cụ Phạm Thị M. Nguyên đơn yêu cầu được nhận kỷ phần thừa kế là 533,28m² (473,28 m² CLN, HNK và 60m² ODT), tương đương với giá trị 2.786.400.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu được nhận với kỷ phần diện tích 557,2m² (trong đó: 300,2m² CLN và 257m² HNK) tại vị trí mà nguyên đơn đang quản lý, sử dụng với tổng giá trị 2.786.000.000 đồng.
  4. [4] Tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Cụ Phạm Thị M (sinh năm 1925, chết năm 2009), chồng trước của cụ M tên Đinh Văn B (không rõ năm sinh, năm chết), chồng sau của cụ M tên Nguyễn Văn B1 (sinh năm 1925, chết năm 1985). Cụ M có tổng cộng 05 người con, trong đó: Bà Phạm Thị T1, ông Phạm Văn C, cụ Phạm Văn X là con của cụ M với ông B còn bà Nguyễn Thị L và bà Nguyễn Thị Ngọc T là con của cụ M với ông B1. Cha mẹ và chồng của cụ M đã chết trước cụ. Cụ M cũng không có con nuôi, con riêng.
  5. [5] Tòa án đã ra thông báo yêu cầu bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có ý kiến bằng văn bản về việc có yêu cầu chia di sản thừa kế đối với các thửa đất nêu trên hay không, tuy nhiên bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ý kiến. Đồng thời, Tòa án triệu tập hợp lệ bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ để xác định ranh, mốc giới, hiện trạng toàn bộ các thửa đất có tài sản nào của ai đang quản lý, sử dụng nhưng không thực hiện được do bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gây khó dễ, cố tình ngăn cản. Tòa án cũng đã áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để xem xét toàn bộ hiện trạng phần đất của cụ M để lại nhưng không được. Do đó, Tòa án chỉ tiến hành đo đạc thực tế và xem xét thẩm định tại chỗ đối với một phần thửa đất số 216 diện tích 344.9m² CLN, thửa đất số 376, 422 diện tích 1.435m² HNK, đối với một phần diện tích đất số 216 và 298 còn lại diện tích 976,5 m² (300m² ODT và 676.5 m² CLN) không thể tiến hành đo đạc được.
  6. [6] Quá trình tố tụng, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được Tòa án triệu tập bằng hình thức niêm yết nhưng bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đến Tòa án làm việc, cũng như không cung cấp các tài liệu, chứng cứ, ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn dựa trên các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập.
  7. [7] Về nguồn gốc, quá trình quản lý, kê khai đăng ký diện tích đất tranh chấp: Ngày 15/10/1991, cụ Phạm Thị M được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bình Dương (thời điểm này chưa tách 02 huyện T và D) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, dưới hình thức sổ trắng. Đến năm 1997, cụ M xin cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại “Đơn xin kê khai nguồn gốc đất và Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất” do cụ M ký tên đăng ký với diện tích 3.292m², thuộc các thửa 298 diện tích 731m², thửa 216 diện tích 1126m², thửa 376 diện tích 257m², thửa 422 diện tích 1178m². Các thửa đất mà cụ M đăng ký kê khai có nguồn gốc “do ông bà để lại từ trước năm 1975 và bà M sử dụng cho đến nay và đã có sổ trắng”. Năm 2002, Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ Phạm Thị M diện tích 3.292m², trong đó: diện tích đất ở 300m2, diện tích đất trồng cây lâu năm 1.557m², diện tích đất màu 1.435m². Mặc dù trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp đổi sổ vào năm 2002 là cho hộ gia đình cụ M (sổ hộ khẩu thời điểm cấp đất có cụ M, ông X, bà Lợi N2). Tuy nhiên, các thửa đất này có nguồn gốc cụ M được thừa hưởng từ ông bà để lại, cụ M quản lý, sử dụng, kê khai đăng ký quyền sử dụng đất sổ trắng năm 1991 dưới tên cụ M nên có cơ sở xác định các thửa đất số 216, 298, 376, 422 là của cá nhân cụ M.
  8. [8] Cụ M chết không để lại di chúc tài sản của cụ cho ai, do đó nguyên đơn yêu cầu chia cho nguyên đơn phần diện tích theo đo đạc thực tế 557,2m² (trong đó: 300,2m² CLN và 257m² HNK) trong tổng di sản 2.666,4m², tờ bản đồ số B3, thuộc thửa đất số 216, 298, 376, 422 mà cụ M để lại là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 651 và Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  9. [9] Di sản do cụ M để lại diện tích 2.666,4m², tương đương giá trị 13.932.000.000 đồng [(300m² ODT x 7.000.000 đồng/m²) + (931,4m² CLN + 1.435m² HNK x 5.000.000 đồng/m²)], chia thành 05 kỷ phần, mỗi kỷ phần được hưởng diện tích 533,28m² (473,28 m² CLN, HNK và 60m² ODT), tương đương giá trị 2.786.400.000 đồng.
  10. [10] Tại phiên tòa nguyên đơn chỉ yêu cầu chia cho nguyên đơn phần diện tích 557,2m² (trong đó: 300,2m² CLN và 257m² HNK) với tổng giá trị 2.786.000.000 đồng (1) là ít hơn giá trị kỷ phần mà nguyên đơn được nhận. Đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận, cụ thể:
    • - Chia cho bà Nguyễn Thị Ngọc T diện tích 300,2m² CLN, thuộc một phần thửa đất số 216, tờ bản đồ số B3, tọa lạc khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, tương đương giá trị 1.501.000.000 đồng (2). Phần diện tích đất nguyên đơn được chia có hướng Tây giáp thửa đất 1176 nguyên đơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất của nguyên đơn giáp đường Trương Văn V (do Nhà nước quản lý). Việc chia cho nguyên đơn diện tích 300,2m² CLN thuộc một phần thửa đất số 216 cũng đảm bảo điều kiện tách, hợp thửa để nguyên đơn làm thủ tục tách thửa, hợp thửa với thửa đất 1176 nguyên đơn đã được cấp và phù hợp với Quyết định số 12/2023/QĐ-UBND ngày 15 tháng 5 năm 2023 về điều kiện tách thửa đất, điều kiện hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
    • - Chia cho bà Nguyễn Thị Ngọc T diện tích 257m² HNK, thuộc thửa đất số 376, tờ bản đồ số B3, tọa lạc khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, tương đương giá trị 1.285.000.000 đồng (3).
  11. [11] Như vậy, tổng giá trị di sản mà bà Nguyễn Thị Ngọc T được chia là 557,2m² (trong đó: 300,2m² CLN và 257m² HNK), thuộc một phần thửa đất số 216 và thửa đất số 376, tờ bản đồ số B3, tọa lạc khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, tương đương giá trị 2.786.000.000 đồng (1) [1.501.000.000 đồng (2) + 1.285.000.000 đồng (3)].
  12. [12] Đối với phần diện tích đất 2.109,2m² (trong đó: 300m² ODT và 631,2m² CLN và 1.178m² HNK) còn lại của một phần thửa đất số 216, thửa đất số 218 và 422. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và yêu cầu gì về việc chia thừa kế. Đồng thời, quá trình tố tụng không xác định được tài sản của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang quản lý, sử dụng. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết chia phần diện tích còn lại, phần diện tích đất còn lại sẽ thuộc quyền sở hữu của các đồng thừa kế bà Nguyễn Thị L, bà Phạm Thị T1, ông Phạm Văn X và ông Phạm Văn C. Trường hợp các bên có tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ án khác.
  13. [13] Đối với cây trồng trên đất đương sự không tranh chấp, do đó, tài sản gắn liền trên phần đất của ai thì người đó được quyền sở hữu.
  14. [14] Về công sức gìn giữ và tôn tạo di sản:
    • - Nguyên đơn xác định một phần thửa đất số 216 và thửa đất số 376 nguyên đơn đang quản lý sử dụng trồng cây hoa màu. Tuy nhiên, nguyên đơn không yêu cầu Tòa án tính công sức gìn giữ tôn tạo di sản. Đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
    • - Đối với một phần thửa đất số 216 và 298 và 422, hiện bà Nguyễn Thị L và bà Phạm Thị T1 đang sinh sống, sử dụng. Nguyên đơn xác định bà L và bà T1 chỉ sinh sống trên đất, không thực hiện việc gìn giữ, tôn tạo đối với thửa đất trên. Qúa trình giải quyết vụ án, Tòa án đã yêu cầu bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cung cấp chứng cứ về việc tôn tạo di sản thừa kế do cụ M để lại. Tuy nhiên, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không hợp tác cũng như không có ý kiến và yêu cầu gì. Do đó, không có cơ sở để xem xét tính công sức gìn giữ tôn tạo di sản cho bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  15. [15] Đối với tài sản gắn liền trên đất nguyên đơn không tranh chấp, do đó phần đất chia cho ai thì người đó được quyền sở hữu các tài sản gắn liền trên phần đất đó.
  16. [16] Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về việc giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 612, 613, 649, 650, 651 và 660 của Bộ luật Dân sự năm 20 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật đất đai 2013;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào các Điều 144, 147, 227, 228, 264, 266 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc T đối với bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu chia thừa kế tài sản.
    1. Xác định diện tích đất 2.666,4m² (300m² ODT và 931,4m² CLN + 1.435m² HNK), thuộc thửa đất số 216, 298, 376, 422 tờ bản đồ số B3, tọa lạc khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương là di sản thừa kế của cụ Phạm Thị M để lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc T, bà Nguyễn Thị L, bà Phạm Thị T1, ông Phạm Văn C, ông Phạm Văn X.
    2. Chia cho bà Nguyễn Thị Ngọc T được quyền sử dụng diện tích đất 557,2m² (trong đó: 300,2m² CLN và 257m² HNK), tờ bản đồ số B3, thuộc một phần thửa đất số 216 và thửa đất số 376, tờ bản đồ số B3, tọa lạc khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (ký hiệu A, A1, C trên bản trích đo kèm theo).
    3. Phần diện tích đất còn lại 2.109,2m² (trong đó: 300m² ODT và 631,2m² CLN và 1.178m² HNK) thuộc một phần thửa đất số 216, thửa đất số 298 và 422, tờ bản đồ số B3, tọa lạc khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương thuộc quyền sở hữu của các đồng thừa kế bà Nguyễn Thị L, bà Phạm Thị T1, ông Phạm Văn X và ông Phạm Văn C do các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét chia.
  2. Kiến nghị tổ chức đăng ký đất đai có thẩm quyền chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai, cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc xác nhận thay đổi trên giấy chứng nhận đã cấp theo nội dung, quyết định của bản án này.
  3. Chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu là 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), được khấu trừ vào toàn bộ chi phí đã nộp.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Bà Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu 87.720.000đ (tám mươi bảy triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng), được khấu trừ 10.300.000đ (mười triệu ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí 0000718 ngày 27/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Bà Nguyễn Thị Ngọc T còn phải nộp 77.420.000đ (bảy mươi bảy triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng).
  5. Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND TP. Dĩ An;
  • - Chi cục THADS TP.Dĩ An;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT; HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 319/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 319/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp thừa kế tai sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger