|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 319/2024/HS-ST Ngày 15-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Viện và ông Trương Bế Thiện.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện VKSND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền T - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại Phòng xét xử số 3 - Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 314/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 313/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với:
Họ và tên: Lê Văn K, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 11 tháng 11 năm 1986; Nơi ĐKHKTT: Xóm N, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, đoàn thể, chính quyền): Không; Con ông: Lê Trung T1, sinh năm 1956; Con bà: Lê Thị S, sinh năm 1956; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Dương Thị Đ, sinh năm 1991; Có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân:
- + Tại Bản án số 275/2003/HSST ngày 12/11/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt Lê Văn K 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”, bồi thường số tiền 353.300 đồng và án phí 100.000 đồng. Tại Bản án số 409/PTHS ngày 26/3/2004 của Tòa án nhân dân Tối cao, bác kháng cáo của bị cáo Lê Văn K, giữ nguyên quyết định về hình phạt tại bản án hình sự sơ thẩm số 275 ngày 12/11/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Lê Văn K 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”, án phí hình sự phúc thẩm 50.000 đồng. Thi hành xong án phí ngày 25/8/2005. Bồi thường xong ngày 05/5/2005. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2006.
- + Tại Bản án số 23/2010/HSST ngày 22/9/2010 của Tòa án nhân dân huyện Đăk G'Long, tỉnh Đăk Nông xử phạt Lê Văn K 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, truy thu số tiền 4.000.000 đồng và án phí 200.000 đồng. Thi hành xong án phí ngày 21/10/2015. Được miễn số tiền truy thu năm 2016.
- + Tại Bản án số 70/2010/HSST ngày 14/12/2010 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt Lê Văn K 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 23 ngày 22/9/2010 của Tòa án nhân dân huyện Đăk G'Long, tỉnh Đăk Nông buộc K phải chấp hành hình phạt chung của các bản án là 18 tháng tù và án phí 200.000 đồng. Thi hành xong án phí ngày 20/01/2011. Thi hành xong hình phạt tù ngày 15/12/2011.
- + Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 103/2024/QĐ-TA ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đối với Lê Văn K trong thời hạn 15 tháng.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/7/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1999, có mặt.
Nơi thường trú: Xóm Quán Vuông 4, xã Trung Hội, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.
Chỗ ở: Tổ 1, phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Người làm chứng: Ông Lê Hồng N, sinh năm 1969, vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 20 phút ngày 27/4/2024, Lê Văn K đi bộ ở khu vực đường Đ thuộc tổ A phường Q, thành phố T để xem ai có tài sản để sơ hở thì trộm cắp mang bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đi đến cổng nhà trọ số 3b, ngõ S không khóa cổng, Kính thấy phía trong có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha NOZZA, màu đỏ đen, BKS 20C1-343.15 của chị Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1999, trú tại xóm Q, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên không có ai trông coi nên K đã mở cổng đi vào trong thì thấy xe mô tô trên không khóa cổ, không khóa càng, chìa khóa xe cùng chùm chìa khoá đang để ở ổ khoá cổng nên K đã lấy chìa khóa xe mô tô, mở khóa điện rồi dắt xe mô tô BKS 20C1-343.15 ra ngoài đường. Sau đó, K khép cổng nhà vào rồi đội mũ bảo hiểm có sẵn ở xe mô tô và nổ máy điều khiển xe mô tô BKS 20C1-343.15 đi theo hướng đường Q đi thành phố Hà Nội. Kính đã bán chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 20C1-343.15 trộm cắp được cho một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ tại quán T2 có tên “Sắt vụn 24h” trên địa bàn thành phố Hà Nội được số tiền 2.000.000 đồng. Số tiền bán xe có được K đã sử dụng để mua ma túy và tiêu xài cá nhân hết. Hiện chưa thu hồi được chiếc xe mô tô trên.
Đến ngày 07/5/2024, chị V đã đến Công an phường Q, thành phố T trình báo sự việc để giải quyết theo quy định.
Tại Kết luận định giá tài sản số 112/KL-HĐĐGTS ngày 05/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Nozza, màu sơn đỏ đen, số khung: RLCSEE510MY016511, số máy E31KE074138, BKS 20C1- 343.15, sản xuất năm 2021, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm ngày 27/4/2024 có trị giá 26.100.000 đồng.
Cáo trạng số 318/CT-VKSTPTN ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố đối với bị cáo Lê Văn Kính về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã trình bày bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Lê Văn K từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 15/7/2024. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 balo màu xám trắng, trên balo có ghi chữ “Yunzhilian”, đã qua sử dụng. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo K phải bồi thường 26.100.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Cẩm V. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong hình sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận với Viện kiểm sát.
Bị hại chị Nguyễn Thị Cẩm V không tranh luận với Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội.
Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Đơn trình báo; Biên bản xác định hiện trường; Biên bản mở kiểm tra dữ liệu camera; Kết luận định giá; Lời khai của bị hại; Lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 02 giờ 20 phút ngày 27/4/2024, tại tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Lê Văn K có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Nozza, màu sơn đỏ đen, số khung: RLCSEE510MY016511, số máy E31KE074138, Biển kiểm soát 20C1- 343.15, đã qua sử dụng của chị Nguyễn Thị Cẩm V, có giá trị là 26.100.000 đồng. Hiện chiếc xe mô tô không thu hồi được.
Hành vi của bị cáo Lê Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Nội dung điều luật quy định như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật quy định.
- Xét tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mình đã gây ra.
- Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Văn K trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
- Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra giải quyết vụ án xác định bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng:
- 01 balo màu xám trắng, trên balo có ghi chữ “Yunzhilian”, đã qua sử dụng của bị cáo. Đây là vật chứng vụ án không còn giá trị sử dụng, tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu trả lại do đó cần tịch thu tiêu hủy.
- Về trách nhiệm dân sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Cẩm V yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Biển kiểm soát 20C1- 343.15, đã qua sử dụng là 26.100.000 đồng theo Kết luận định giá tài sản số 112/KL-HĐĐGTS ngày 05/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T. Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với đề nghị của chị V, Hội đồng xét xử xét cần công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại, buộc bị cáo K phải bồi thường thiệt hại tài sản cho chị V số tiền là 26.100.000 đồng.
- Về án phí: Bị cáo lẽ ra phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong hình sự, tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Tại phiên tòa bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo miễn án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong hình sự cho bị cáo.
- Trong vụ án này, Lê Văn K khai đã bán chiếc xe mô tô BKS 20C1- 343.15 trộm cắp được cho người đàn ông không rõ lý lịch tại cửa hàng sắt vụn không rõ địa chỉ trên địa bàn thành phố Hà Nội. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lý lịch của người này nên không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.
- Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên toà hôm nay về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, khung hình phạt và các vấn đề liên quan trong vụ án đối với bị cáo là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47, Điều 48, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều Điều 30; 106, 136, 299, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hình phạt chính: Xử phạt Lê Văn K 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 15/7/2024.
Quyết định tạm giam bị cáo Lê Văn K trong thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Lê Văn K và bị hại chị Nguyễn Thị Cẩm V, buộc bị cáo K phải bồi thường thiệt hại tài sản cho chị V 26.100.000 (hai mươi sáu triệu một trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 balo màu xám trắng, trên balo có ghi chữ “Yunzhilian”, đã qua sử dụng.
(Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, có đặc điểm và tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T và Chi cục THADS thành phố T số 35 ngày 13/11/2024).
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong hình sự cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Hương |
Bản án số 319/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 319/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Kính phạm tội trộm cắp tài sản
