Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 319/2024/HS-ST

Ngày: 01/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Tùng Mận và ông Bùi Trọng Tâm
  • - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Ông Y Khang Ê Ban - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 309/2024/HSST, ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 306/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đoàn Tú K; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 03 tháng 8 năm 1984, tại: Tỉnh Đắk Lắk;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Tự do;

Thẻ CCCD: [...] cấp ngày 02/8/2022, nơi cấp: Cục C về TTXH - Bộ C1;

Nơi thường trú và cư trú: Thôn A, xã C, Tp ., tỉnh Đắk Lắk;

Con ông: Nguyễn Văn N (đã chết); Con bà: Đoàn Thị Như N1, Sinh năm: 1959. Nơi ở hiện tại: Thôn A, xã C, Tp ., tỉnh Đắk Lắk; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; Bị cáo có vợ đã ly hôn có 01 con sinh năm: 2015.

Tiền án: 05 tiền án, tiền sự: Không

Năm 2000 bị Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Đà Nẵng tuyên phạt 02 năm tù về tội “Cướp tài sản công dân”. Chấp hành án tại Trại giam Đ1, năm 2001 chấp hành xong.

Năm 2002 bị Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng tuyên phạt 30 tháng tù, về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành án tại Trại giam Đ1, năm 2004 chấp hành xong.

Năm 2004 bị Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 03 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích”.

Năm 2005 bị Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Năm 2005 Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định tổng hình phạt 06 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành án tại Trại giam X, năm 2010 chấp hành xong.

Năm 2010 bị Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành tại Trại giam Đ1, năm 2014 chấp hành xong.

Năm 2016 bị Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành tại Trại giam Đ1, năm 2022 chấp hành xong, chưa xóa án tích.

Bị cáo đang thi hành biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ từ ngày 22/3/2024 đến nay - Có mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Võ Nguyệt A, sinh năm 1995
  • Địa chỉ: Số C Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt
  • + Ông Võ Văn K1, sinh năm 1945
  • Địa chỉ: Số C Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt
  • + Ông Nguyễn Thành V, sinh năm 1985
  • Địa chỉ: Số F H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt
  • + Bà Lê Thị Hoài T, sinh năm 1983
  • Địa chỉ: Số B Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Thành V1, sinh năm 1984
  • Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị Thùy T1, sinh năm 1988
  • Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 8/2023, Nguyễn Đoàn Tú K lên mạng xã hội facebook tìm kiếm thì thấy có 01 trang facebook (không nhớ tên trang facebook) rao bán các loại súng, đạn và đề cập giá bán của các loại súng, đạn. Cùng với việc đăng tải thông tin mua bán súng, đạn, trên trang facebook này cũng đăng tải số điện thoại để người có nhu cầu mua súng, đạn liên hệ. Sau khi tiếp cận thông tin trên, K ghi chép lại số điện thoại, sau đó tìm mua sim điện thoại không chính chủ (“sim rác”) để gọi đặt mua 02 khẩu súng, đạn. Khi liên lạc được với người bán súng, đạn và nói rõ yêu cầu của mình, giữa K và người bán thống nhất giá cả mua bán 02 khẩu súng gồm 01 khẩu súng dạng Rulo và 01 khẩu súng dài (có kèm theo đạn) với giá 15.000.000 đồng; việc thanh toán tiền được thực hiện tại thời điểm K nhận được súng, đạn. Theo yêu cầu của người bán, K cung cấp địa chỉ để nhận súng, đạn tại nơi ở của mình tại Thôn A, xã C, Tp ., tỉnh Đắk Lắk. Hai ngày sau thời điểm trên, một người giao hàng đến giao cho K 01 gói hàng, K kiểm tra thì phát hiện bên trong có 02 khẩu súng, 06 viên đạn thể thao và một số đạn chì (không xác định cụ thể) xác nhận đúng nội dung mua bán súng đạn, K đã thanh toán tiền cho người này số tiền 15.000.000 đồng. Sau khi nhận súng, đạn, K đem 02 khẩu súng cùng số đạn nói trên cất giấu trong phòng tại chỗ ở của mình tại thôn A, xã C, Tp ., tỉnh Đắk Lắk. Việc K cất giấu vũ khí (súng, đạn) tại nơi ở của mình thì ngoài K ra không có ai khác biết. Đối với sim rác K sử dụng để đặt mua khẩu súng, đạn thì K bẻ gãy đem vứt bỏ, còn điện thoại K đem bán tại tiệm điện thoại ở Tp (không nhớ tiệm nào) để lấy tiền tiêu xài.

Đến tối này 19/3/2024, trong lúc ăn nhậu với một vài người bạn, K nhớ lại xích mích giữa mình với người em tên Võ Nguyệt A, tại đường Y, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk nên K sử dụng xe máy biển kiểm soát 47B2 – 930.45 mượn của anh Nguyễn Thành V1 và mang theo 02 khẩu súng đến nhà Nguyệt A với mục đích giải quyết mâu thuẫn, xích mích. Khi tới nhà Nguyệt A, K gọi Nguyệt A ra để nói chuyện nhưng không thấy ai ra nên K dùng chân đạp hai đến ba cái vào cổng sắt của nhà Nguyệt A1; sau đó, K sử dụng khẩu súng dạng Rulo đã lắp sẵn 06 viên đạn để bắn 01 phát vào nhà Nguyệt A1, không rõ trúng ở vị trí nào của ngôi nhà. Trong lúc K sử dụng súng thì có làm rơi đạn (không nhớ rõ mấy viên) tại vị trí trước cổng nhà Nguyệt A1. Sau khi bắn xong, K đứng trước nhà Nguyệt Al ít phút rồi bỏ đi. Quá trình trên đường đi, K có dừng lại để kiểm tra khẩu súng rulo vừa sử dụng thì thấy vỏ đạn của súng còn kẹt trong súng, K lấy vỏ đạn ra, đem vứt bỏ (không xác định được vứt bỏ tại vị trí nào). K gọi điện thoại cho người bạn tên V ở tại số F H, phường T, Tp., tỉnh Đắk Lắk để xin ngủ nhờ. Đến nơi, một người lạ ra mở cửa để K vào, K đã ngủ lại nhà của V trong đêm 19/3 và rạng sáng ngày 20/3/2024, đồng thời cất giấu 02 khẩu súng và số đạn tại đây. V và những người có mặt tại nhà của V không biết việc K cất giấu súng, đạn cũng như việc làm mà K vừa thực hiện.

Đến khoảng 12 giờ 00 phút ngày 20/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T3 đã triệu tập Nguyễn Đoàn Tú K để làm rõ sự việc sử dụng súng vào tối ngày 19/3/2024 và đã chỉ dẫn cơ quan Công an nơi cất giấu súng tại nhà anh V và có sự chứng kiến của V và một số người khác tại nhà V.

Quá trình khám nghiệm hiện trường xảy ra vụ việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T3 thu giữ được 01 vật bằng kim loại bị biến dạng, 02 viên đạn. Ngoài ra, thu giữ tại chỗ ở của Nguyễn Thành V tại địa chỉ 6 H, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk, là nơi K ngủ lại vào đêm 19/3/2024, rạng sáng ngày 20/3/2024 các tang vật gồm: 01 khẩu súng dạng Rulo kích thước (19 x 14)cm, 01 khẩu súng bằng kim loại màu đen dài 94cm, 03 hộp nhựa màu vàng bên trong các hộp nhựa có nhiều viên kim loại màu xám đen, 01 hộp tiếp đạn màu xanh.

Tại Bản kết luận giám định số: 618/KL-KTHS ngày 21/3/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Tp . ban hành Kết luận về đối tượng giám định:

  • “- Khẩu súng kiểu R (mục 1.1) gửi giám định là súng tự chế, khi bắn có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất; hiện tại khẩu súng sử dụng bắn được và thuộc vũ khí quân dụng;
  • - Khẩu súng dài 94cm (mục 1.2) gửi giám định là súng hơi; hiện tại khẩu súng còn sử dụng bắn được và thuộc súng săn;
  • - 03 (ba) viên đạn bên trong khẩu súng (mục 1.1) và 02 viên đạn (mục 1.5) gửi giám định là đạn cỡ (5,6 x 15,5)mm, hiện tại còn sử dụng được và thuộc vũ khí thể thao;
  • - 600 (sáu trăm) viên kim loại màu xám đen (mục 1.3) gửi giám định là đạn súng hơi (đạn chì) cỡ 5,5mm và thuộc súng săn;
  • - 01 (một) hộp tiếp đạn (mục 1.4) gửi giám định là hộp tiếp đạn dùng cho loại súng hơi (súng hơi thuộc súng săn) và dùng làm hộp tiếp đạn được cho khẩu súng dài 94cm (mục 1.2) gửi giám định;
  • - 01 (một) miếng kim loại dẹt (mục 1.6) gửi giám định là đầu đạn của loại đạn cỡ (5,5 x 15,5)mm và không phải do khẩu súng dài 94cm mục 1.2) bắn ra. Đạn cỡ (5,6 x 15,5)mm thuộc vũ khí thể thao. Hiện tại đầu đạn đã bị dẹt, biến dạng nên không đủ cơ sở xác định có phải do khẩu súng kiểu R (mục 1.1) gửi giám định bắn ra hay không”.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 3545/KL-HĐĐG ngày 04/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Đắk Lắk, kết luận: 01 tấm kính loại thường màu trắng bị bể vỡ kích thước (2,8 x 0,5)m, độ dày 5 ly, trị giá: 58.000 đồng; 01 tấm kim loại sắt trên cánh cổng bị cong vênh bung mối hàn, trị giá: 200.000 đồng. Tổng giá trị tài sản: 258.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 131/CT-VKS, ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Nguyễn Đoàn Tú K về tội “Tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, quy định tại điểm h khoản 2, Điều 304 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố là đúng, bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, sau khi phân tích, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm h, khoản 2, Điều 304 Bộ luật hình sự; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đoàn Tú K, mức án từ 07 – 08 năm tù.

- Về xử lý vật chứng:

  • + Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) khẩu súng dạng Rulo, kích thước (19x14)cm; phần nòng súng bằng kim loại, báng súng màu nâu, bên phải và bên trái thân súng có ký tự “18F20371” và “ OPEN F S”; 01 (một) miếng kim loại màu xám, bị biến dạng dẹt, kích thước (1x1,5)cm.
  • + Trả lại cho bà Đoàn Thị Như N1 là mẹ của bị cáo Nguyễn Đoàn Tú K; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu hồng, số Imei: 353284075359896 kèm 01 sim Vinaphone.
  • + Trả lại cho bà Nguyễn Thị Thùy T1 là chủ sở hữu 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Suzuki Raider màu đỏ đen, biển kiểm soát 47B2-930.45.
  • - Về phần dân sự của vụ án: Đối với việc hư hỏng tài sản, bà Nguyễn Thị Ngọc H không yêu cầu bị cáo Nguyễn Đoàn Tú K phải bồi thường nên không đề cập xử lý là phù hợp.
  • - Ngoài tội phạm đã thực hiện, bị cáo có hành vi: Tàng trữ trái phép vũ khí thuộc súng săn gồm: 01 khẩu súng hơi thuộc súng săn, 01 hộp tiếp đạn và 600 (sáu trăm) viên đạn thuộc súng săn và 05 viên đạn thuộc vũ khí thể thao. Tội phạm liên quan đến vũ khí thể thao, súng săn cũng như việc xử lý vi phạm hành chính về hành vi liên quan nội dung này đều không thuộc thẩm quyền của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đ. Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đ đã ra công văn số 144/ANĐT ngày 27/3/2024 đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T3 củng cố hồ sơ tài liệu để xử lý theo quy định của pháp luật.
  • - Đối với hành vi làm hư hỏng tài sản của bị cáo Nguyễn Đoàn Tú K: Do giá trị thiệt hại tài sản dưới 2.000.000 đồng và bị cáo K chưa bị kết án hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nên hành vi của bị cáo K không đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản" theo quy định tại Điều 178 BLHS. Vì vậy, Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Đ có Công văn đề nghị trưởng Công an T3, tỉnh Đắk Lắk xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
  • - Đối với ông Nguyễn Thành V1, và bà Nguyễn Thị Thùy T1 thì Cơ quan An ninh điều tra tiến hành làm việc với V1, T1 về chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47B2-930.45 do K sử dụng, qua làm việc V1 khai là xe mô tô Vũ mượn của em gái ruột tên là Nguyễn Thị Thùy T1 để đi lại, Việc K sử dụng phương tiện mô tô đi lại và sử dụng vào mục đích gì V1 không biết và T1 cho V1 mượn xe để đi lại và V1 cho ai mượn T1 không biết nên không xử lý là phù hợp.

Bị cáo không bào chữa và không có ý kiến tranh luận chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không xuất trình thêm chứng cứ tài liệu gì, bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2].Về hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy:

Vào khoảng tháng 8/2023, bị cáo Nguyễn Đoàn Tú K lên mạng xã hội facebook tìm mua 01 khẩu súng dạng Rulo và 01 khẩu súng săn có kèm theo đạn với giá 15.000.000 đồng. Đến tối ngày 19/3/2024, bị cáo đến nhà Võ Nguyệt A với mục đích giải quyết mâu thuẫn, xích mích. Khi tới nhà Võ Nguyệt A, K dùng chân đạp cánh cổng bị cong vênh và sử dụng khẩu súng dạng R đã lắp sẵn 06 viên đạn để bắn 01 phát vào nhà Võ Nguyệt A, không rõ trúng ở vị trí nào của ngôi nhà. Tổng giá trị tài sản thiệt hại tài sản là 258.000 đồng. Tại Bản kết luận giám định số: 618/KL-KTHS ngày 21/3/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Tp . ban hành Kết luận về đối tượng giám định: "Khẩu súng kiểu R (mục 1.1) gửi giám định là súng tự chế, khi bắn có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất; hiện tại khẩu súng sử dụng bắn được và thuộc vũ khí quân dụng.

Tại Bản án số 02/2016/HS-ST ngày 14/01/2016 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo đã bị xác định tái phạm nguy hiểm nhưng chưa được xóa án tích mà còn tiếp tục phạm tội.

Như vậy Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đoàn Tú K, đã phạm vào tội: “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, quy định tại điểm h, khoản 2, Điều 304 Bộ luật hình sự.

Điều 304. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự

1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự thì bị phạt từ 01 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm

đ) ............

h) Tái phạm nguy hiểm.

Tại bản cáo trạng số: 131/CT-VKS, ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Nguyễn Đoàn Tú K về tội “Tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, quy định tại điểm h khoản 2, Điều 304 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức được rằng vũ khí quân dụng thuộc quyền quản lý của nhà nước và chỉ được trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân và lực lượng khác để thi hành công vụ. Song xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng thì bị phát hiện. Bị cáo đã nhiều lần bị xét xử về các loại tội phạm khác nhau nhưng sau khi chấp hành các bản án bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó, cần thiết phải áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm khắc với hành vi của bị cáo thì mới đảm bảo phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Ngoài ra bị cáo có bố là ông Nguyễn Văn N được tặng huy chương chiến sĩ vẻ vang và bằng khen hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời gian tại ngũ, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp bảo vệ và xây dụng Tổ quốc. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

Với tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, sống biết tôn trọng pháp luật, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

[5]. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 (một) khẩu súng dạng Rulo, kích thước (19x14) cm; phần nòng súng bằng kim loại, báng súng màu nâu, bên phải và bên trái thân súng có ký tự “18F20371” và “ OPEN F S” và 01 (một) miếng kim loại màu xám, bị biến dạng dẹt, kích thước (1x1,5)cm. Mẫu vật được niêm phong trong phong bì dán giấy, dán kín bên ngoài tại mép bì thư có tên và chữ kí của Bùi Kiên Đ, Hoàng Như T,Trịnh Hữu T2 và đóng dấu tròn màu đỏ của Phân viện khoa học hình sự tại Đà Nẵng là vật chứng vụ án nên tịch thu, tiêu hủy.
  • + Đối với 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu hồng, số Imei: 353284075359896 kèm 01 sim Vinaphone, đây là tài sản của bà Đoàn Thị Như N1 là mẹ của bị cáo Nguyễn Đoàn Tú K và 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Suzuki Raider màu đỏ đen, biển kiểm soát 47B2-930.45 do bà Nguyễn Thị Thùy T1 là chủ sở hữu do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan An ninh điều tra công an tỉnh Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà N1 và bà T1 nhận quản lý, sử dụng các tài sản trên là phù hợp.
  • - Về phần dân sự của vụ án: Đối với việc hư hỏng tài sản là 01 tấm kính loại thường màu trắng bị bể vỡ kích thước (2,8 x 0,5)m, và 01 tấm kim loại sắt trên cánh cổng, tổng giá trị tài sản: 258.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Ngọc H là mẹ của Võ Nguyệt A không yêu cầu bị cáo Nguyễn Đoàn Tú K phải bồi thường nên không xem xét là phù hợp.

[6]. Về hành vi khác:

  • - Đối với hành vi: Tàng trữ trái phép vũ khí thuộc súng săn gồm: 01 khẩu súng hơi thuộc súng săn, 01 hộp tiếp đạn và 600 (sáu trăm) viên đạn thuộc súng săn và 05 viên đạn thuộc vũ khí thể thao. Ngày 12/6/2024 Ủy ban nhân dân thành phố B có quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 301/QĐ-XPVPHC, xử phạt bị cáo Nguyễn Đoàn Tú K số tiền 15.000.000đồng và và tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm d, khoản 4, Điều 11 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính Phủ, là phù hợp nên cần chấp nhận.
  • - Đối với hành vi làm hư hỏng tài sản của bị cáo Nguyễn Đoàn Tú K: Do giá trị thiệt hại tài sản dưới 2.000.000 đồng và bị cáo K chưa bị kết án hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nên hành vi của bị cáo K không đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản" theo quy định tại Điều 178 BLHS. Vì vậy, Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Đ có Công văn đề nghị trưởng Công an T3, tỉnh Đắk Lắk xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
  • - Đối với ông Nguyễn Thành V1 và bà Nguyễn Thị Thùy T1, Cơ quan An ninh điều tra tiến hành làm việc với V1, T1 về chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47B2-930.45 do K sử dụng. V1 khai là xe mô tô Vũ mượn của em gái ruột tên là Nguyễn Thị Thùy T1 để đi lại, Việc K sử dụng phương tiện mô tô đi lại và sử dụng vào mục đích gì thì V1 và T1 không biết nên không xử lý là phù hợp.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 304 Bộ Luật Hình sự.

1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đoàn Tú K phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.

- Áp dụng điểm h, khoản 2, Điều 304 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đoàn Tú K 07 năm tù. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/3/2024

2. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

  • -Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) khẩu súng dạng Rulo, kích thước (19x14) cm, phần nòng súng bằng kim loại, báng súng màu nâu, bên phải và bên trái thân súng có ký tự “18F20371” và “OPEN F S” và 01 (một) miếng kim loại màu xám, bị biến dạng dẹt, kích thước (1x1,5)cm. Mẫu vật được niêm phong trong phong bì dán giấy, dán kín bên ngoài tại mép bì thư có tên và chữ kí của Bùi Kiên Đ, Hoàng Như T,Trịnh Hữu T2 và đóng dấu tròn màu đỏ của Phân viện khoa học hình sự tại Đà Nẵng.
  • (Đặc điểm theo 02 biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/8/2024 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đ với Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Buôn Ma Thuột)
  • - Chấp nhận Cơ quan An ninh điều tra công an tỉnh Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Đoàn Thị Như N1 (mẹ của bị cáo Nguyễn Đoàn Tú K); 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu hồng, số Imei: 353284075359896 kèm 01 sim V2 và trả lại cho bà Nguyễn Thị Thùy T1 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Suzuki Raider màu đỏ đen, biển kiểm soát 47B2-930.45.

3. Về đối tượng và hành vi khác:

  • - Chấp nhận ngày 12/6/2024 Ủy ban nhân dân thành phố B có quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 301/QĐ-XPVPHC, xử phạt bị cáo Nguyễn Đoàn Tú K số tiền 15.000.000đồng và và tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm d, khoản 4, Điều 11 Nghị định 144/2021/NĐ - CP, ngày 31/12/2021 của Chính Phủ, về hành vi Tàng trữ trái phép vũ khí thuộc súng săn.
  • - Chấp nhận Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đ có Công văn đề nghị trưởng Công an T3, tỉnh Đắk Lắk xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi làm hư hỏng tài sản của bị cáo Nguyễn Đoàn Tú K.
  • - Chấp nhận Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đ không đề cập xử lý đối với ông Nguyễn Thành V1 và bà Nguyễn Thị Thùy T1 .

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Đoàn Tú K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I-TAND tối cao;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk; VKSND TP. BMT;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - Công an TP. Buôn Ma Thuột;
  • - CCTHADS TP. Buôn Ma Thuột;
  • - THA phạt tù TP. Buôn Ma Thuột;
  • - Bị cáo, các đương sự; Lưu HS+ VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Mai

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 319/2024/HS-ST ngày 01/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng

  • Số bản án: 319/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đoàn Tú Khải phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. - Áp dụng điểm h, khoản 2, Điều 304 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đoàn Tú Khải 07 năm tù. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/3/2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger