Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 319/2024/HS-ST

Ngày: 22 - 10 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Anh Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Đấu và bà Dương Thị Thúy Vinh

Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Hương Giang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Đại diện VKSND thành phố Vinh tham gia phiên toà: Ông Trần Văn N - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 10 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 305/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm: Phòng xử án trực tuyến trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh; điểm cầu thành phần: Phòng xử án trực tuyến Trại tạm giam Công an tỉnh N theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 376/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Doãn Văn C; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 23 tháng 9 năm 1986 tại: thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm X, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Doãn Văn X (đã chết) và bà: Nguyễn Thị T; Vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1991 (đã ly hôn); Con: có 01 con sinh năm 2011; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 21/01/2021 Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xử phạt 24 tháng tù về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/4/2023; Nhân thân: [1] Năm 2006 Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Chống người thi hành công vụ”; [2] Ngày 20/8/2012, Công an phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; [3] Ngày 10/01/2018 Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An, xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, nộp phạt ngày 05/02/2018; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/5/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Nguyễn Văn L; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10 tháng 8 năm 1985 tại: thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: xóm E, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện nay: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo. Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động

1

tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông: Nguyễn Văn P (đã chết) và bà: Nguyễn Thị K; Vợ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1986; Con: Có 02 người, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền sự, tiền án: Không; Nhân thân: [1] Năm 2008, Công an xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An, xử phạt vi phạm hành chính số tiền 100.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”; [2] Ngày 31/12/2009 Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 18/9/2015; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà: Nguyễn Thị K, sinh năm: 1959

Trú tại: xóm E, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 13 giờ 20 phút ngày 22/4/2024, Nguyễn Văn L đang ở nhà tại xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An thì có một người bạn nam mới quen tên là H (không rõ lai lịch, địa chỉ) gọi điện thoại rủ L góp tiền mua ma túy đá để về sử dụng. Khi trao đổi qua điện thoại, H nói đang có số tiền 500.000 đồng đưa cho L để L đi mua ma tuý đá về cùng sử dụng, L đồng ý. Lý hẹn gặp H tại khu vực ngã tư có đèn chỉ huy giao thông giao nhau giữa đường N và đường 35m thuộc địa phận xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An để lấy tiền đi mua ma tuý. Sau đó, L dùng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu xanh, gắn sim số 0984808428 của mình gọi đến số điện thoại 0964.348.xxx của Doãn Văn C để hỏi mua 500.000 đồng tiền ma tuý đá, C đồng ý và bảo Lý chờ. (Quá trình điều tra, Công khai nhận L nhờ C mua hộ ma tuý đá chứ C không bán ma tuý cho L). Lúc này, C đang đi chơi trên xe ô tô Huyndai I10, màu trắng (C không nhớ biển kiểm soát) của người bạn nam mới quen tên là Q (không rõ lai lịch, địa chỉ). C nói với Q về việc L nhờ mua hộ ma túy thì Q nói đi đến bến xe V cũ để mua ma túy cho L. Sau đó, Q điều khiển xe ô tô chở C ngồi ở dãy ghế phía sau Q đi đến khu vực bến xe V cũ để tìm mua ma túy. Tại đây, C ngồi lại trên xe ô tô, còn Q xuống xe đi mua được 01 gói ma túy đá. Sau khi mua được ma tuý, Q quay lại lên xe ô tô và nói cho C biết Q đã mua được ma túy. C liền dùng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, vỏ ốp lưng màu đỏ, gắn sim số 0964348668 của mình gọi đến số điện thoại 0984.808.xxx của L hẹn L đến ngã tư ở đường Cm giao nhau với đường N thuộc xã N, thành phố V để lấy ma túy. Tại điểm hẹn, khi L đi xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius RC, màu đen trắng, biển kiểm soát 37B2-117.72 đến dừng bên cạnh ghế lái xe ô tô của Q thì Q là người lái xe, còn C ngồi ở dãy ghế phía sau Q. Khi gặp nhau, Q hạ kính cửa xe bên lái xuống, L liền đưa cho Q một tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, Q cầm tiền và đưa cho L 01 gói ma túy đá. Sau đó, C và Q tiếp tục đi chơi, còn L cất giấu gói ma tuý vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi về. Vào khoảng 13 giờ 45 phút ngày 22/4/2024, khi L điều khiển xe mô tô đi đến đường C thuộc xóm K, xã N, thành phố V thì bị tổ công tác Công an xã N, thành phố V kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang thu giữ trong túi quần phía trước bên trái mà L đang mặc 01 gói polytylen màu trắng chứa chất tinh thể

2

màu trắng (nghi là ma tuý đá). Tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius 5C64, màu đen trắng, biển số 37B2 117.72. Người và tang vật được đưa về trụ sở Công an xã N, thành phố V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tại Công an xã N, L tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A13, màu xanh, gắn sim số 0984808428.

Ngày 06/5/2024, Doãn Văn C đi đến khu vực bến xe V cũ nhờ một người đi xe ôm (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua hộ 01 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, C đưa về nhà mình cất giấu và đã sử dụng hai lần (vào ngày 06/5/2024 và 08/5/2024) nhưng vẫn còn thừa ma túy trong bầu coóng thủy tinh nên C cất giấu ở góc sân để sau này sử dụng tiếp. Vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 11/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Doãn Văn C tại xóm X, xã N, thành phố V. Quá trình khám xét, thu giữ tại góc sân 01 bình thủy tinh hình con gà không có đầu, phía trên bình có gắn 01 coóng thủy tinh, trong bầu coóng chứa chất tinh thể màu vàng đục (nghi là ma túy đá), đầu coóng gắn 01 vòi hút bằng nhựa; tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, vỏ ốp lưng màu đỏ, gắn sim số 0964348668.

Tại Kết luận giám định số 456/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 27/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn L gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine. Chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn L có tổng khối lượng là 0,323 g (không phẩy ba trăm hai mươi ba gam)”

Tại Kết luận giám định số 516/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 16/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất tinh thể màu vàng đục thu giữ của Doãn Văn C gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine. Số chất tinh thể màu vàng đục thu giữ của Doãn Văn C có khối lượng là 0,26 g (không phẩy hai mươi sáu gam)”

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V, Nguyễn Văn L và Doãn Văn C đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản Cáo trạng số 318/CT-VKS-TPV ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Vinh để xét xử bị cáo Doãn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 2, Điều 249 của Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo Doãn Văn C từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm c khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngoài ra, còn đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, 2 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của BLTTHS: Đề nghị

3

tịch thu tiêu hủy một phong bì thư bưu điện được niêm phong, bên trong chứa vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu giám định 0,203 gam ma túy loại Methamphetamine thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn L và vỏ giấy niêm phong ban đầu; 01 phong bì thư bưu điện được niêm phong, bên trong chứa vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu giám định 0,200 gam ma túy loại Methamphetamine thu giữ của bị cáo Doãn Văn C và vỏ giấy niêm phong ban đầu. Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, vỏ màu đỏ, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0963348668 thu giữ của Doãn Văn C và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, vỏ màu xanh, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0984808428 thu giữ của Nguyễn Văn L. Đề nghị trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius RC, Biển kiểm soát 37B2-117.72, đã qua sử dụng, xe hư hỏng nhiều nơi số máy: 5C641028068; số khung: RLCS5C641DY028068 cho bà Nguyễn Thị K. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bình thủy tinh hình con gà không có đầu thu giữ của Doãn Văn C. Toàn bộ vật chứng có tại kho vật chứng Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Về án phí: đề nghị áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Văn L và Doãn Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về hoạt động điều tra, truy tố. Tại phiên tòa, các bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các văn bản, tài liệu, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện có tại hồ sơ vụ án là đúng quy định pháp luật.

[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị K nhưng họ vẫn vắng mặt. HĐXX xét thấy việc vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, HĐXX căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về nội dung:

[4] Xét hành vi phạm tội: Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Văn L và Doãn Văn C đã khai nhận hành vi của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp nhau và phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, nội dung Cáo trạng đã truy tố, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu điều tra khác có tại hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Vào

4

khoảng 13 giờ 45 phút ngày 22/4/2024, tại đường C thuộc xóm K, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn L đang có hành vi cất giữ trái phép 0,323 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an xã N, thành phố V kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Doãn Văn C thừa nhận đã mua số ma tuý nói trên cho Nguyễn Văn L sử dụng. Hành vi đó của Nguyễn Văn L và Doãn Văn C đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 11/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V khám xét khẩn cấp chỗ ở tại nhà riêng của gia đình Doãn Văn C ở xóm X, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An, phát hiện Doãn Văn C có hành vi cất giấu trái phép 0,26 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng, hành vi này của C đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do Doãn Văn C phạm tội hai lần nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo tình tiết định khung quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 249 của BLHS, với tổng khối lượng 0,583 gam ma túy loại Methamphetamine. Như vậy, cáo trạng truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất vai trò của các bị cáo trong vụ án: Vụ án vừa thuộc trường hợp nghiêm trọng và vừa thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội và vi phạm Luật Phòng chống ma túy, tiếp tay cho hoạt động mua bán trái phép chất ma túy. Tệ nạn ma túy được xác định là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội nên Nhà nước ta đặc biệt nghiêm cấm. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do thiếu bản lĩnh, ăn chơi đua đòi và coi thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước nên vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm, việc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Vụ án có đồng phạm nhưng thuộc loại giản đơn. Bị cáo Doãn Văn C khi được Nguyễn Văn L nhờ mua ma túy thì tích cực và trực tiếp liên hệ để mua được ma túy cho L, nên C đồng phạm với vai trò là người thực hành, ngoài ra C1 phạm tội hai lần nên C1 giữ vai trò chính trong vụ án.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[6] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Doãn Văn C có 01 tiền án chưa được xóa án tích, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 của BLHS, nên cần áp dụng để giảm nhẹ một phần cho các bị cáo khi lượng hình phạt.

[8] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra kết hợp với xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng,

5

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo đều có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, nên cần xử phạt các bị cáo ở mức đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[9] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Nhưng xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định và không có tài sản riêng gì lớn nên miễn, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[10] Về xử lý vật chứng vụ án: Đối với một phong bì thư bưu điện được niêm phong, bên trong chứa vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu giám định 0,203 gam ma túy loại Methamphetamine thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn L và vỏ giấy niêm phong ban đầu; 01 phong bì thư bưu điện được niêm phong, bên trong chứa vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu giám định 0,200 gam ma túy loại Methamphetamine thu giữ của bị cáo Doãn Văn C và vỏ giấy niêm phong ban đầu là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, vỏ màu đỏ, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0963348668 thu giữ của Doãn Văn C và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, vỏ màu xanh, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0984808428 thu giữ của Nguyễn Văn L, đây là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius RC, biển kiểm soát 37B2-117.72, đã qua sử dụng, xe hư hỏng nhiều nơi số máy: 5C641028068; số khung: RLCS5C641DY028068 thu giữ của Nguyễn Văn L, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của bà Nguyễn Thị K cho Lý mượn. Bà K không biết việc L sử dụng xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại xe mô tô nói trên cho chủ sở hữu. Đối với 01 bình thủy tinh hình con gà không có đầu thu giữ của Doãn Văn C là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, hiện không còn giá trị cần tịch thu tiêu hủy. Toàn bộ vật chứng hiện có tại Kho vật chứng Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh.

[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[13] Trong vụ án này, theo lời khai của Nguyễn Văn L về người đàn ông tên H đã đưa cho L 500.000 đồng để đi mua ma túy về để sử dụng nhưng L không rõ lai lịch, địa chỉ của H và người đàn ông tên Q, theo lời khai của Doãn Văn C là người cùng C đi mua hộ ma túy cho L, nhưng C không rõ lai lịch, địa chỉ của Q. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V không có cơ sở để kết luận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, khoản 2, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Doãn Văn C.

6

Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Văn L.

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Doãn Văn C và Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Doãn Văn C 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/5/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 22/4/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy một phong bì thư bưu điện được niêm phong, bên trong chứa vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu giám định 0,203 gam ma túy loại Methamphetamine thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn L và vỏ giấy niêm phong ban đầu; 01 phong bì thư bưu điện được niêm phong, bên trong chứa vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu giám định 0,200 gam ma túy loại Methamphetamine thu giữ của bị cáo Doãn Văn C và vỏ giấy niêm phong ban đầu.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, vỏ màu đỏ, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0963348668 thu giữ của Doãn Văn C và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, vỏ màu xanh, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0984808428 thu giữ của Nguyễn Văn L.

Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius RC, biển kiểm soát 37B2-117.72, đã qua sử dụng, xe hư hỏng nhiều nơi số máy: 5C641028068; số khung: RLCS5C641DY028068 cho chủ sở hữu bà Nguyễn Thị K.

Tịch thu tiêu hủy 01 bình thủy tinh hình con gà không có đầu thu giữ của Doãn Văn C.

Toàn bộ vật chứng có tại kho vật chứng Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho số NK2025/03 ngày 07 tháng 10 năm 2024.

Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Doãn Văn C và Nguyễn Văn L mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331; 332; 333; 334 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

7

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Vinh;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - CQĐT Công an thành phố Vinh;
  • - Trại tạm giam C.A tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS thành phố Vinh;
  • - Sở Tư pháp Nghệ An.
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - UBND các xã Nghi Phú, Nghi Đức;
  • - Lưu HSVA; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Anh Sơn

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 319/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 319/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Doãn Văn C và Nguyễn Văn L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger