TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số 319/2024/HSST Ngày 21/10/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thúy;
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thư;
Bà Nguyễn Thị Cờ.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga- Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá H, Kiểm sát viên.
Ngày 21/10/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 290/TLST-HS ngày 01/10/2024 đối với các bị cáo:
1- Họ và tên: Đoàn Thanh T, sinh năm 1979; Giới tính: Nam; ĐKNKTT: Số A, ngách E phố L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Đoàn Quốc D, sinh năm 1951; Con bà: Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1957; A, chị, em ruột: Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Sầm Thị L, sinh năm 1983; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự:
- Bản án số 06 ngày 20/01/2015, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 28 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2017 (Đã nộp án phí; chưa xóa án tích).
- Bản án số 148 ngày 14/6/2018, Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2019 (Đã nộp án phí; chưa xóa án tích).
- Bản án số 225 ngày 16/7/2020, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/01/2024 (Đã nộp án phí; chưa xóa án tích).
Nhân thân:
- Ngày 28/10/2005, bị Công an quận B xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.
- Bản án số 265 ngày 18/5/2006, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. (Đã xóa án tích).
- Bản án số 235 ngày 23/6/2006, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 03 năm tù về tội Cướp giật tài sản. Tổng hợp hình phạt 07 tháng tù của Bản án ngày 18/5/2006 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm 07 tháng tù. (Đã nộp án phí; đã xóa án tích).
- Ngày 22/9/2009, Công an phường L, quận Đ xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.
- Bản án số 652 ngày 14/12/2009, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. (Đã nộp án phí; đã xóa án tích).
- Bản án số 381 ngày 14/8/2012, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 05 tháng tù về tội Đánh bạc. (Đã nộp án phí; đã xóa án tích).
D1 chỉ bản số 623, lập ngày 26/7/2024 tại Công an quận Đ. Bị cáo đầu thú ngày 17/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố H. Có mặt.
2- Họ và tên: Đặng Văn Đ, sinh năm 1983; Giới tính: Nam; ĐKNKTT: Khu dân cư A, phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở: Thôn C, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Đặng Văn H2, sinh năm 1959; Con bà: Bùi Thị M, sinh năm 1960; A, chị, em ruột: Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
D1 chỉ bản số 699, lập ngày 22/8/2024 tại Công an quận Đ. Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Duy Q, sinh năm 2005; ĐKNKTT: Thôn Đ, xã M, huyện B, thành phố Hà Nội. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 02giờ 00phút, ngày 16/7/2024, Đoàn Thanh T điều khiển xe máy nhãn hiệu Piaggio Vespa, biển kiểm soát 29B2-109.16 đến ngõ E phố C, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội, phát hiện chiếc xe máy Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 29V1-808.37 của anh Nguyễn Duy Q để trước số nhà B ngõ E Chùa L không ai trông giữ, chỉ khoá cổ. T đi ra và dựng xe máy của mình ở khu vực ngoài đầu ngõ E Chùa L, sau đó đi bộ vào lại gần chiếc xe máy trên. T dùng chân đạp phá khoá cổ và dắt chiếc xe máy trên về ngõ C Chùa L để cất giấu. Sau đó, T đi xe máy của mình về nhà để cất xe. Đến khoảng 05giờ cùng ngày, T bắt xe ôm quay lại ngõ C Chùa L lấy chiếc xe máy Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 29V1-808.37 và dắt đến trước cổng trường H3. Tại đây, T tháo mặt trước cốp nhựa của xe để đấu dây điện nổ máy xe đi về nhà. Đến khoảng 16giờ 30phút cùng ngày, T đi xe máy trên ra trước số nhà A phố M, phường T, quận B, thành phố Hà Nội để tháo biển số xe vứt xuống hồ H.
Đến khoảng 17giờ 00phút, ngày 16/7/2024, Đoàn Thanh T gọi điện thoại qua Z cho Đặng Văn Đ và nói về việc T có 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát: 29V1-808.37 nhưng không có giấy tờ xe và muốn bán rẻ. T gửi cho Đ ảnh chiếc xe máy Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát: 29V1-808.37. Sau đó, Đ nhớ tới một người tên A (Đ quen từ trước, đã từng hỏi Đ mua xe máy) và liên hệ với A qua Zalo. Đ gửi cho A ảnh xe máy mà T gửi và A đồng ý mua nếu giá cả hợp lý. Sau đó, Đ qua gặp T tại ngõ E phố L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội để xem xe. Tại đây, Đ gặp T và xem xe thấy không còn biển kiểm soát, xe giống trong hình. Đ hỏi T biển kiểm soát đâu thì T bảo tháo ra rồi. Điệp kiểm tra xe thì thấy ổ khóa xe bị lệch, không có chìa khóa xe, chỉ cần đề là nổ được máy. Đ biết đây là xe có nguồn gốc do phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý mua để bán cho người khác kiếm lời. T bán cho Đ với giá 3.100.000 đồng (ba triệu một trăm nghìn đồng). Đ trả cho T 2.400.000 đồng (hai triệu bốn trăm nghìn đồng) do thiếu tiền nên Đ nợ T 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng) và hẹn trả sau. Quá trình mua bán xe không có giấy tờ đăng ký, không viết giấy tờ mua bán. Sau đó, Đ lấy xe máy đem đi bán cho A. Trên đường đi đến ngã ba Khu Ẩ - N Kon Tum, phường N, quận T, thành phố Hà Nội, Tổ công tác Y - Công an thành phố H phát hiện Đặng Văn Đ đang điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, không đeo biển kiểm soát có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã tiến hành dừng xe kiểm tra, Đ không xuất trình được giấy đăng ký xe, bằng lái xe và phát hiện ổ khóa xe bị đục, không có chìa khóa xe. Tổ công tác đã bàn giao Đặng Văn Đ cùng vật chứng cho Công an phường N. Sau đó, Công an phường N đã bàn giao Đ cùng vật chứng cho Công an phường L để giải quyết theo thẩm quyền.
Đến khoảng 14giờ ngày 17/7/2024, biết Đ bị Công an phường L bắt giữ nên T đã đến Công an phường L đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ đồ vật, tài sản gồm:
- Thu giữ của Đoàn Thanh T:
- + Số tiền 2.400.000 đồng (hai triệu bốn trăm nghìn đồng).
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng.
- Thu giữ của Đặng Văn Đ:
- + 01 (một) xe mô tô Honda Wave, màu trắng, không đeo biển kiểm soát, số khung: RLHJA3925MY213041, số máy: JA39E2331755.
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme5, màu xanh.
- Thu giữ của ông Đoàn Quốc D: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu PIAGGIO VESPA LX125, màu xanh, biển kiểm soát 29B2-109.16.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 158/KL-HĐĐGTS ngày 25/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân quận Đ, kết luận: Chiếc xe Honda Wave, BKS 29V1-808.37 xe đã qua sử dụng, đã thu hồi định giá 14.500.000 đồng (mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
Đối với chiếc xe máy Honda Wave, màu trắng, không đeo biển kiểm soát: Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là anh Nguyễn Duy Q nên ngày 13/09/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho anh Q.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio Vespa, biển kiểm soát 29B2-109.16: Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là ông Đoàn Quốc D (là bố của Đoàn Thanh T), sinh năm 1951, ĐKNKTT: SỐ A ngách E phố L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Ông Đoàn Quốc D không biết T sử dụng chiếc xe máy trên để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 13/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe máy trên cho ông Đoàn Quốc D.
Đối với người đàn ông tên A hỏi mua xe của Đ: Quá trình điều tra, Đ khai không biết gì về thông tin, địa chỉ của người này. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Duy Q đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu đề nghị gì.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Bị hại anh Nguyễn Duy Q đã nhận lại tài sản, có đơn xin xét xử vắng mặt, không có yêu cầu gì khác về dân sự và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Bản cáo trạng số 301/CT-VKS, ngày 30/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố Đoàn Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Đặng Văn Đ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Đoàn Thanh T mức án từ 42 đến 48 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Đặng Văn Đ mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 18 tháng.
Miễn áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo và xử lý vật chứng đã thu giữ: Tịch thu sung công số tiền 2.400.000 đồng thu giữ của bị cáo Đoàn Thanh T; Tịch thu sung công điện thoại di động thu giữ của bị cáo Đoàn Thanh T và bị cáo Đặng Văn Đ.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Đ, TP .; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, TP .: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Những căn cứ xác định tội danh:
Khoảng 02giờ 00phút ngày 16/7/2024, Đoàn Thanh T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 29V1-808.37 trị giá 14.500.000 đồng của anh Nguyễn Duy Q tại trước số nhà B ngõ E phố C, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Đến khoảng 18giờ 30phút ngày 16/7/2024, Đoàn Thanh T đã bán chiếc xe máy trên cho Đặng Văn Đ với giá 3.100.000 đồng. Đặng Văn Đ biết rõ đây là chiếc xe máy có nguồn gốc do người khác phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý mua để bán kiếm lời.
Hành vi của bị cáo Đoàn Thanh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo T có 03 tiền án chưa được xóa án tích đều về tội Trộm cắp tài sản, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo Đặng Văn Đ đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố đối với các bị cáo Đoàn Thanh T, Đặng Văn Đ là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý bất bình trong quần chúng nhân dân, vì vậy cần phải xử lý nghiêm để đảm bảo tính răn đe phòng ngừa chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Bị cáo T có nhân thân xấu, có 07 tiền án (03 tiền án chưa được xóa án tích, 04 tiền án đã được xóa án tích), lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, thể hiện bị cáo đã được cải tạo, giáo dục nhiều lần bằng pháp luật nhưng vẫn không chịu tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân tốt mà vẫn tiếp tục phạm tội, vì vậy cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đầu thú, tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính, gia đình bị cáo có công với cách mạng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về áp dụng hình phạt đối với các bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã viện dẫn; Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo Đoàn Thanh T, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Đối với Đặng Văn Đ xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 và khoản 5 Điều 323 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Vì vậy, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Không.
[8] Về số tiền thu lợi bất chính: Bị cáo Đoàn Thanh T được hưởng lợi từ việc bán xe cho bị cáo Đặng Văn Đ là 2.400.000 đồng, bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền này nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[9] Về vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng thu giữ của Đoàn Thanh T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5, màu xanh thu giữ của Đặng Văn Đ, có liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu sung công.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Đoàn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Đặng Văn Đ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
1- Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Đoàn Thanh T 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Đặng Văn Đ 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày Tòa tuyên án.
Giao bị cáo Đặng Văn Đ về UBND xã Đ, huyện H, Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Đặng Văn Đ thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Đặng Văn Đ cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án sẽ quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Về hình phạt bổ sung: Không phạt tiền đối với các bị cáo.
2- Về trách nhiệm dân sự: Không.
3- Về xử lý vật chứng và số tiền thu lợi bất chính: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.400.000 đồng.
- Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong, bị vỡ màn hình.
Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 12 ngày 16/10/2024 và Giấy nộp tiền ngày 11/10/2024 của Cơ quan điều tra Công an quận Đ và Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa.
4- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Đoàn Thanh T, Đặng Văn Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
Nơi nhận: - Các bị cáo, bị hại; - VKS ND quận Đống Đa; - VKSND TP Hà Nội; - TAND TP Hà Nội; - Công an quận Đống Đa; - Chi cục THADS quận Đống Đa; - Sở Tư pháp TP Hà Nội; - Lưu HS - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phương Thúy |
Bản án số 319/2024/HSST ngày 21/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 319/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm
