Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 319/2024/HSST

Ngày 04/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Lý.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Nguyễn Đình Hiền.
    2. Ông Nguyễn Ngọc Minh.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương, Kiểm sát viên

Ngày 04 tháng 11 năm 2024, điểm cầu tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và điểm cầu tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử trực tuyến sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 274/2024/HSST ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

CAO VĂN T, giới tính: Nam; sinh năm 1985; tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: Tổ B, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; con ông Cao Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ, chưa có vợ con; theo danh chỉ bản số 479 ngày 23/06/2024 tại Công an quận H, thành phố Hà Nội bị cáo tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Năm 2010 bị Ủy ban nhân dân quận H đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng; Bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/06/2024 đến nay (hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H); Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 17/6/2024, khi Cao Văn T, đang ở nhà tại Tổ B, phường P, quận H, thành phố Hà Nội thì có một người nam giới (không rõ nhân thân lai lịch) có số điện thoại 0879.491.xxx gọi điện đến số điện thoại 0898.772.xxx của T hỏi T có mua được ma túy H không. T nói mua được. Người nam giới bảo T mua cho người nam giới 300.000 đồng ma túy H rồi sử dụng chung. T đồng ý. Người nam giới hẹn T ra khu vực đèn giao thông khu đô thị T, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. T điều khiển xe máy Suruma màu đỏ, BKS 30M1-0248 đến điểm hẹn. Tại đây T gặp người nam giới đã gọi điện cho T. Người nam giới này đưa cho T 300.000 đồng, hẹn T sau khi mua được ma túy thì đi ra khu đất trống của khu đô thị T để sử dụng chung. T nhận tiền người nam giới đưa rồi điều khiển xe máy đi đến khu vực cầu K, tổ H, phường P, quận H để tìm mua ma túy. Khi đi đến nơi, T nhìn thấy một người nam giới giống người nghiện ma túy, T hỏi mua của người nam giới này 300.000 đồng ma túy H. Sau khi nhận được ma túy, T cầm gói ma túy bằng tay trái rồi một mình điều khiển xe máy đi đến khu đất trống khu đô thị T, phường P, quận H, thành phố Hà Nội để sử dụng ma túy cùng với người nam giới. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày khi T đi đến khu đất trống khu đô thị T, thì bị tổ công tác Công an phường P kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Vật chứng đã thu giữ:

  • - 01 (một) gói giấy bạc kích thước (1x1) cm bên trong chứa chất bột màu trắng, nghi là ma túy;
  • - 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Suruma màu đỏ, số khung: 5A0S0126, số máy: 5A2S0126, BKS: 30M1-0248;
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Bee 3 màu xanh, bên trong lắp sim số 0898772680.

Tại Kết luận giám định số 4609 ngày 26/6/2024 của Phòng Kỹ thuận hình sự - Công an thành phố H, kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,156 gam”.

Tại bản cáo trạng số 296/CT-VKS-HĐ ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội đã truy tố Cao Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Cao Văn T về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 đối với Cao Văn T.
  • Xử phạt: Cao Văn T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.
  • * Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Bee 3 màu xanh, bên trong lắp sim số 0898772680, đã qua sử dụng.
    • - Đối với 01(một) xe máy nhãn hiệu Suruma màu đỏ, BKS: 30M1-0248, số khung: 5A0S0126, số máy: 5A2S0126, BKS: 30M1-0248, đã qua sử dụng thu giữ của Cao Văn T. Ngày 10; 11; 12/09/2024, cơ quan điều tra đã đăng báo công khai tìm chủ sở hữu hợp pháp. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật dân sự, sau 1 năm kể từ ngày đăng báo công khai mà không xác định được ai là chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
    • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị T2 và bị cáo Cao Văn T (bên trong có ma túy Heroine).
    • - Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Cao Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ tang vật, bản kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 17/6/2024, tại khu vực khu đất trống khu đô thị T, phường P, quận H, thành phố Hà Nội, tổ công tác Công an phường P phối hợp với tổ công tác Công an phường P, quận H, thành phố Hà Nội trong khi làm nhiệm vụ đã phát hiện Cao Văn T có hành vi cất giấu 01 gói giấy bạc kích thước (1x1)cm, bên trong chứa ma túy loại Heroin, khối lượng 0,156 gam với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang người cùng tang vật. Hành vi nêu trên của Cao Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt đã được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội bởi T nhận thức rõ ma túy là mặt hàng nhà nước nghiêm cấm tàng trữ nhưng khi có người gọi đến trao đổi đi mua ma túy về cùng sử dụng thì bị cáo vẫn mua về để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy mà nó còn góp phần làm gia tăng tệ nạn là nguyên nhân phát sinh ra các loại tội phạm và các bệnh dịch nguy hiểm cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi vụ án bị phát hiện bị cáo đã khai nhận thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của mình với thái độ ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở thành người tốt, có ích cho xã hội.

[6] Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy về nhân thân bị cáo vào năm 2010 đã bị Ủy ban nhân dân quận H đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng, điều đó cũng cho thấy mặc dù bị cáo đã được cơ quan pháp luật giáo dục song bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân, nay lại phạm tội. Với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo cần phải có mức hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội 1 thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra phải áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với Cao Văn T. Song do bị cáo không có việc làm ổn định và không có điều kiện về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T.

[8] Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc ma túy Heroin: Cao Văn T khai mua của một người nam giới không quen biết tại khu vực cầu K, tổ H, phường P, quận H, thành phố Hà Nội ngoài lời khai của T không có tài liệu nào khác nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ, nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với người nam giới sử dụng số điện thoại 0879.491.xxx đã đưa tiền cho T để T mua ma túy về sử dụng chung. Quá trình điều tra đã làm rõ được số điện thoại 0879.491.xxx chủ thuê bao là anh Ngô Hoàng S, (sinh năm: 1992, Nhân khẩu thường trú: thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội), tại cơ quan điều tra anh S khai năm 2021 anh có đứng tên đăng ký và sử dụng số điện thoại trên. Cuối năm 2022 anh S làm rơi điện thoại có lắp sim 0879.491.xxx trên, nhưng anh không đi làm lại sim và hiện tại anh cũng không biết ai đang sử dụng số điện thoại trên, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ, nên Hội đồng xét xử không xét.

[9] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Suruma màu đỏ, BKS: 30M1-0248, số khung: 5A0S0126, số máy: 5A2S0126, BKS: 30M1-0248, thu giữ của Cao Văn T. Quá trình điều tra đã làm rõ được: Chiếc xe trên được đăng ký sở hữu mang tên Kiều Quang M, (sinh năm: 1983, hộ khẩu thường trú: thôn T, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội). Tại cơ quan điều tra, anh M trình bày: chiếc xe trên được anh mua mới vào tháng 4/2020, đăng ký chính chủ tên anh để làm phương tiện đi lại. Đến đầu năm 2021 do không có nhu cầu sử dụng chiếc xe máy trên, anh M đã bán lại chiếc xe trên cho một người nam giới tên T nhà ở phường P, quận H, TP .. Cao Văn T khai nhận khoảng đầu năm 2021 T mua chiếc xe máy này của một người nam giới không quen biết với giá 1.700.000 đồng và không viết giấy mua bán xe, khi mua chiếc xe có đăng ký xe nhưng T đã làm mất. Kết quả tra cứu xe không có trong dữ liệu vật chứng, số khung, số máy xe qua giám định xác định là số khung, số máy nguyên thủy. Ngày 10;11;12/09/2024, cơ quan điều tra đã đăng báo công khai tìm chủ sở hữu theo quy định nhưng đến nay chưa có người nhận. Theo đó, cần áp dụng Điều 228 của Bộ luật dân sự, sau 01 năm kể từ ngày đăng báo công khai mà không xác định được ai là chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung vào ngân sánh Nhà nước.
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Bee 3 màu xanh, bên trong lắp sim số 0898772680, đã qua sử dụng thu giữ của Cao Văn T. Quá trình điều tra đã làm rõ được T đã sử dụng chiếc điện thoại này vào liên hệ, trao đổi, mua bán ma túy, xét đây là tài sản dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị T2 và bị cáo Cao Văn T (bên trong có ma túy Heroine). Đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ.

[10] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Cao Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  3. Xử phạt:

    Cao Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/06/2024.

  4. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106; khoản 2 Điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (quy định về án phí, lệ phí Tòa án).
  5. + Về xử lý vật chứng:

    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Bee 3 màu xanh, bên trong lắp sim số 0898772680, đã qua sử dụng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội).
    • - Đối với 01(một) xe máy nhãn hiệu Suruma màu đỏ, BKS: 30M1-0248, số khung: 5A0S0126, số máy: 5A2S0126, BKS: 30M1-0248, đã qua sử dụng thu giữ của Cao Văn T. Ngày 10;11;12/09/2024, cơ quan điều tra đã đăng báo công khai tìm chủ sở hữu hợp pháp. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật dân sự, sau 1 năm kể từ ngày đăng báo công khai mà không xác định được ai là chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/10/2024 tại Chi cục thi hành án Dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội).
    • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị T2 và bị cáo Cao Văn T (bên trong có ma túy Heroine) theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, Hà Nội.
    • - Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Cao Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Công an quận Hà Đông;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông;
  • - Chi cục thi hành án Dân sự quận Hà Đông;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS/VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đào Thị Hồng Lý

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 319/2024/HSST ngày 04/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 319/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger