|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-TP . HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc ------------------------------------------------- |
Bản án số: 319/2024/HNGĐ-ST
Ngày 14/8/2024
" V/v ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thu Hằng. |
| Các Hội thẩm nhân dân | : Ông Kiều Xuân Mai |
| Bà Dương Thị Kim Lan |
-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh-Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mê Linh.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội: Bà Nguyễn Thị Hương Mai-Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 290/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 về việc “ Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Tướng Thị N, sinh năm 1997
- Bị đơn : Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1990
ĐKHKTT: H, H, M, Hà Nội.
Chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã T, huyện H, Tuyên Quang.
Địa chỉ: H, H, M, Hà Nội.
Có mặt chị N, vắng mặt anh Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/7/2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là chị Tướng Thị N trình bày:
-Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Q đăng ký kết hôn ngày 25/9/2018 tại UBND xã H, huyện M, Hà Nội. Sau khi cưới xong chị về gia đình anh Q làm dâu, vợ chồng ở chung cùng với gia đình chồng. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 2/2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, mỗi lần vợ chồng mâu thuẫn thì anh Q lại đánh đập chị. Vợ chồng chị sống ly thân từ tháng 02 năm 2019 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tại phiên tòa chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Q.
-Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có con chung.
-Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn Q: Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh Q không hợp tác đến làm việc. Tòa án về gia đình anh Q xác minh gặp bà Nguyễn Thị Hồng m đẻ anh Q được biết: Anh Nguyễn Văn Q kết hôn với chị Tướng Thị N năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H. Sau khi cưới, chị N về gia đình bà làm dâu và ở chung cùng với gia đình bà. Vợ chồng anh chị chung sống được một thời gian thì đến mồng 2 tết năm 2019 chị N bỏ nhà đi từ đó cho đến nay, không quay về nhà bà nữa. Về con chung: vợ chồng anh chị chưa có con chung. Việc chị N làm đơn xin ly hôn anh Q, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Hiện anh Q đi làm nên các văn bản tố tụng Tòa án giao cho anh Q, bà nhận thay và cam đoan giao cho anh Q.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
-Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
-Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình. Xử:
+Về hôn nhân: Cho chị Tướng Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.
+Về con chung: Không có
+Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
+Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
-Về sự vắng mặt của bị đơn: Quá trình điều tra Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Q nhưng tại phiên tòa hôm nay anh Q vẫn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
[1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Tướng Thị N và anh Nguyễn Văn Q kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 25/9/2018 tại UBND xã H, huyện M, thành phố Hà Nội. Do vậy, cuộc hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do trong cuộc sống vợ chồng sống không có sự tin tưởng lẫn nhau, thiếu sự quan tâm chia sẻ với nhau. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 02/2019 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tại phiên tòa chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn. Đối với anh Q quá trình điều tra Tòa án không làm việc được với anh Q. Tòa án đã xác minh tại gia đình cũng như chính quyền địa phương nơi anh chị cư trú được biết vợ chồng anh chị chung sống với nhau thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, gia đình cũng đã hòa giải khuyên bảo nhiều nhưng quan hệ vợ chồng anh chị không thay đổi. Như vậy, có thể thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Tòa án thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N, cho chị được ly hôn anh Q là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2] Về con chung:
Quá trình chung sống vợ chồng anh chị không có con chung.
[3] Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Chị N không đề nghị giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4] Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28,35, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 51,56 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ các Điều 146, 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Tướng Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.
- Về con chung: Không có
- Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị N phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, chị được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh theo Biên lai số 0008835 ngày 22/7/2024.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, chị N được quyền kháng cáo. Anh Q vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hằng |
Bản án số 319/2024/HNGĐ-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về v/v ly hôn
- Số bản án: 319/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: V/v ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Ngoan kết hôn với anh Quân, do vợ chồng mâu thuẫn nên chị Ngoan xin ly hôn
